LỜI KẾT

Nhìn lại lịch sử nhân loại, mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển đều có con đường riêng. Việt Nam có khởi điểm con đường từ xa xưa, qua nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ độc lập tự chủ, bước vào hai cuộc chiến tranh, áp dụng mô hình Liên Xô, rồi theo mô hình Trung Quốc. Đất nước nằm ở vị trí địa lý tài nguyên thiên nhiên phong phú, là giao điểm tiếp nhận nhiều giá trị và tinh hoa văn hóa văn minh. Dân tộc luôn nêu cao tinh thần tự chủ, biết “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong nước, người dân cần cù lao động, hiếu học, sáng tạo, kinh nghiệm nhiều mặt. Trí thức sẵn sàng cống hiến, hy sinh. Việt Nam còn có bốn triệu kiều bào với hàng trăm ngàn trí thức ở nước ngoài, là thành viên trong Đại hội đồng LHQ, tham gia vào WTO, các tổ chức khu vực và quốc tế, ký kết nhiều văn kiện quan trọng mà không phân biệt đối tượng hay thu hẹp nội dung. Con đường mới phải tập trung những thế mạnh trên, xác định lại mô hình và xóa bỏ rào cản định kiến, tháo gỡ quá khứ để dân tộc hướng đến tương lai tươi sáng.

Trong quá trình giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản chỉ đem lại kết quả hết sức khiêm tốn, trong khi phải trả giá bằng máu xương và đói nghèo quá lớn! Ngọn cờ CNXH có mặt và tồn tại ở Việt Nam đến nay không phải do nhận được sức mạnh từ Quốc tế cộng sản, mà chủ yếu bám dựa vào tinh thần yêu nước và các nguồn lực dân tộc. Ngày nay, nó đã hoàn toàn mất gốc khi không còn cả cội nguồn sản sinh ra để quay về.

Bước qua chiến tranh, giai đoạn xây dựng đất nước bắt đầu ở miền Bắc sau 1954 và cả nước sau 1975, nhân dân phải chịu bao tang thương, động lực xã hội bị triệt tiêu, lại thêm tụt hậu sau thời gian “đi tắt đón đầu” nhưng bị rơi vào “dục tốc bất đạt”. Cách mạng vô sản, tư tưởng vô thần cộng sản ra đời ở một không gian và thời gian xa lạ với lịch sử Việt Nam, ngày nay càng không phải là xu hướng nhân loại. Lý thuyết ấy không thể nào thay thế giá trị trường tồn của dân tộc. Cho nên, ngọn cờ CNXH từ lâu đã là “kỳ vô phong”.

Đảng Cộng sản từng lần lượt tiêu diệt các lực lượng, tiến tới củng cố độc quyền lãnh đạo xã hội, thậm chí độc quyền cả chân lý. Bao nhiêu cơ hội có thể giúp chấn hưng đất nước bị bỏ qua. Đảng kêu gọi liên minh công – nông làm cách mạng giành lại quyền lợi đã mất. Khi hòa bình, quyền lợi về tay đảng viên chức quyền chuyển hóa sang hưởng thụ và làm giàu. Trong phân tầng xã hội, công – nông với số lượng đông nhất nhưng ở vài bậc thang thấp nhất! Đã vậy, lý luận vô sản vẫn chống chế nhằm duy trì mô hình XHCN “hữu danh vô thực”. Đúng như nguyên Chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan Lech Walesa đã nhận xét: “CNCS là con đường dài nhất để đi đến CNTB”.

Đảng Cộng sản cần trung thực trả lời nhiều vấn đề công luận đặt ra. Tiền nhân đã để lại những giá trị gì nay bị che lấp và bị tàn phá? CNCS từ khi xuất hiện ở Việt Nam đến nay để lại hậu quả gì? Thế hệ sau nghĩ gì về lãnh đạo đất nước khi thuần phong mỹ tục không còn mà cả xã hội phải tôn vinh cộng sản; nghĩ gì khi tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, nợ nần tăng, lao động chân tay đi làm thuê giá thấp; nghĩ gì khi thái độ vô trách nhiệm và cả sai lầm tội ác từng ngày diễn biến…

Để khởi động chặng đường mới của dân tộc, các chủ trương của đảng cầm quyền cần chấm dứt mâu thuẫn hai mặt: nói và làm không đi đôi, lãnh đạo sai và đổ lỗi cho một số cán bộ đảng viên, dân chủ và tập trung bị vận dụng sai lệch, tự do ngôn luận vẫn nằm trong bộ máy truyền thông một chiều, tự do lập hội đoàn nhưng vẫn chỉ có hội đoàn trong hệ thống chính trị, bỏ hai từ “duy nhất” trong Điều 4 Hiến pháp đề cập sự lãnh đạo của đảng phái chính trị nhưng không bỏ trên thực tế, quốc hội và nhà nước của dân nhưng dân không có đại diện, cam kết với quốc tế đúng đủ các quy định chung nhưng thực thi trong nước thiếu…

Lãnh đạo đất nước cũng cần chấm dứt sai lệch giữa nói và làm trong chính sách cô lập một bộ phận người Việt là trí thức, tôn giáo ở nước ngoài. Đảng Cộng sản hãy trả lời vì sao họ ra đi và làm sao cho họ trở về, hãy học chính sách cố kết các dân tộc song song quá trình mở cõi của cha ông, cả bài học hòa hợp của các dân tộc trên thế giới. Đồng thời, người Việt ở nước ngoài cần được tạo diễn đàn trao đổi thành tâm, đối thoại công khai thay vì đứng ở hai lề trái – phải.

Đầu tháng 2-2010, tại hội thảo kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản, giáo sư Trần Ngọc Hiên đưa ra nhận xét trong hơn 20 năm đổi mới, nhiều quan điểm và nội dung đường lối đúng, nhưng tổ chức thực hiện rất hạn chế. Vì thế, nói và làm đi đôi với nhau đang là nhu cầu bức thiết của đảng cầm quyền! Phải chăng “quả” của 20 năm liền diễn ra tình trạng này là “nhân” đã có từ 80 năm trước?

Về đóng góp và cống hiến cho dân tộc, Đảng Cộng sản phải thừa nhận không chỉ có riêng người cộng sản, mà còn nhiều tầng lớp, đảng phái từng hy sinh, nêu cao tinh thần yêu nước. Về oan sai, ngày nay nhân dân không đặt vấn đề vay – trả, nhưng Đảng Cộng sản phải có lời xin lỗi thật tâm những nạn nhân, để họ, kể cả người đã mất, có thể cởi mở tấm lòng. Làm được như vậy, một đảng chính trị mới thể hiện thiện ý, trách nhiệm, tình người và thật tâm hướng đến tương lai. Hân hoan gặp nhau trong tinh thần dân tộc, làm cho truyền thuyết “Con Lạc – Cháu Hồng” và nghĩa đồng bào rạng ngời giá trị nhân văn Việt Nam… Cả dân tộc mong mỏi từ quá lâu: năm 1945, năm 1954, năm 1975… Điều đó vẫn chưa thành hiện thực là do: lãnh đạo đất nước đã có thể khai bút khai khẩu, nhưng chưa thật sự khai tâm.

Đảng Cộng sản cần tự biết giới hạn, đặt mình vào trong và dưới hiến pháp – pháp luật, chấm dứt khẳng định sự đồng tình ủng hộ của “lòng dân” duy tình định tính, nghiêm túc tìm một kết quả bằng định lượng về năng lực đại diện gần 85 triệu dân giải quyết mọi vấn đề và tất cả số lượng ấy có đều tín nhiệm đại diện hay không. Lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành, quốc hội, bộ máy nhà nước, quan chức bộ ngành… cần công khai tự đánh giá năng lực trong thời gian dài. Đã có thời kỳ nhân dân đi ngược lại chủ trương hà khắc để tự cứu mình, tiếp theo mới thấy đảng tiên phong “một bước tiến hai bước lùi” đổi mới mà thiếu cả ba tố chất rất quan trọng: thiếu hiểu biết, thiếu trung thực, thiếu dũng cảm! Phần lớn bất ổn xã hội hiện nay có nguồn gốc từ quản lý, lãnh đạo. Nếu không sửa sai và đổi mới triệt để, Đảng Cộng sản chỉ còn đối mặt với hiện thực tự đánh mất vai trò và xếp mình vào quá khứ.

Các phương tiện thông tin của Đảng Cộng sản thường ca ngợi nhiều thành tựu. Mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” trở thành khẩu hiệu khắp nơi, là niềm tự hào về chế độ ưu việt. Cho đến khi Việt Nam đặt mình vào thế giới rộng lớn mới nhận ra bị tụt hậu rất xa. Xóa đói giảm nghèo được xem là thành tích, nhưng Đảng chưa từng có trách nhiệm nhận rằng đó là việc giải quyết hậu quả mà cả dân tộc phải gánh chịu. Những ca ngợi chỉ che đậy bế tắc mà ai cũng nhìn thấy và nhận biết do xuất phát từ hệ thống vi hiến và phi pháp, cục bộ bè phái và quyền lợi cá nhân… Hãy nhìn lại một số thứ hạng trong đánh giá của WB năm 2009 về kinh tế Việt Nam: tụt hậu 51 năm so với Indonesia, 95 năm với Thái Lan và 158 năm với Singapore! Các chỉ số mức sống, thu nhập, giáo dục, y tế, an toàn thực phẩm, tư pháp, tự do thông tin… đều xếp cuối so với các quốc gia.

Đọc các báo trong nước và tổng hợp lại sẽ thấy: tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, nợ vay nước ngoài chồng chất, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, hàng hóa nước ngoài và tiền giả chiếm nhiễm mạch máu kinh tế, đình công biểu tình của công nhân, phân hóa giàu – nghèo gay gắt, lý luận và ý thức hệ bị khủng hoảng… Đó chính là sự bất lực trước tiên từ Bộ Chính trị vốn cho mình là “bộ tham mưu”, “đội tiên phong” nhưng đã xác định và áp dụng sai lầm mô hình, chậm sửa sai, sửa sai không triệt để. Vì thế, Việt Nam đổi mới trong tình trạng loay hoay lau chùi bao lần cái nền nhà bị ướt mà không lợp lại mái hay thay những tấm che cũ nát trên đầu! Đảng Cộng sản giấu đi sự thật, tham vọng nắm giữ quyền lực trong khi các phân tầng và chiều kích xã hội hôm nay đã rộng mở muôn mặt, vượt khỏi tầm tay.

Nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, thấy diễn biến hòa bình, thấy lật đổ chính quyền – tư tưởng ấy chỉ có ở một lực lượng lãnh đạo tranh chấp địa vị, sợ sự thật, tâm và tầm bất tương xứng với trọng trách điều hành đất nước, còn ngụy biện cho vị thế độc quyền. Vì thế, diễn biến hòa bình chưa nguy, đã thấy tự diễn biến còn nguy hơn! Ông Đặng Quốc Bảo từng cảnh báo: “Đạo đức suy đồi, tham nhũng bất trị lan tràn vì lãnh đạo không thật sự quyết chiến với nó. Nó sẽ phá Đảng từ bên trong, vì làm mất lòng tin của quần chúng. Không ai phá, lật đổ, chính kẻ biến chất trong Đảng tự phá, tự lật đổ cái Đảng này!”. Nếu Đảng Cộng sản chấp nhận việc chỉ ra đường lối sai lầm là trách nhiệm đối với lợi ích dân tộc, thì bao tâm tư, lo lắng, bất mãn, nghi ngờ, bận tâm… từ trong Đảng ra toàn xã hội, từ “diễn biến” đến “tự diễn biến” đều được trút bỏ.

Để thay đổi thực trạng, xã hội cần phải có dân chủ. Dân chủ không phải là hô hào: “Vùng lên hỡi ai cơ cực bần cùng”, tập trung người bị hại và dân oan làm cuộc cách mạng đổ máu. Không binh biến, không đảo chính, không nhìn đâu cũng thấy chỉ có thể giải quyết vấn đề bằng bạo lực, không chủ trương thay đổi hàng loạt nhân sự… Nâng cao ý thức dân chủ phải được hiểu như chí khí của cụ Phan Chu Trinh: khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh trong hoàn cảnh hôm nay.

Đời sống dân chủ mới đang hình thành. Đó là các vị lão thành cách mạng bỏ hết sự nghiệp quay về với sự thật, cán bộ đảng viên và trí thức tiến bộ trở thành lực lượng đi đầu tháo gỡ hệ thống kìm chế cản đường. Đó là trong quốc hội và nhà nước, vai trò và chức năng được lập lại, không khí dân chủ mở rộng. Đó là những cuộc biểu tình của dân oan, biểu tình bảo vệ chủ quyền đất nước, biểu tình của tôn giáo, đình công của công nhân. Hàng triệu công nhân đang cần có hội đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi cho mình. Hàng chục triệu học sinh sinh viên các bậc học đang đòi hỏi phải chấm dứt biến tuổi trẻ thành “đối tượng thí nghiệm” cho việc cải cách giáo dục chỉ làm tàn lụi trí tuệ và chất xám. Những trí thức đòi hỏi được tự do đóng góp, cống hiến cho đất nước mà không phải cho Đảng Cộng sản… Phản biện xã hội bắt đầu xuất hiện trong mọi tầng lớp.

Trong hệ thống chính trị, rất nhiều đảng viên đã nhận thấy vị trí làm “con đội” cho một nhóm quyền lực lâu nay. Đảng viên chân chính đòi hỏi đưa trí tuệ tâm huyết của mình vào những trang văn kiện, cương lĩnh, chủ trương thật sự vì dân. Phải chăng hàng loạt đảng viên hiện đang mệt mỏi, thiếu tin tưởng nhưng không thể hiện rõ chính kiến, càng không biết phải hành động như thế nào? Những đảng viên liêm khiết, trách nhiệm và trung thực không muốn tiếp tục đánh mất cuộc đời cho lý tưởng thiếu trong sáng, hy sinh cho thiểu số chức quyền thiếu thiện ý.

Và bao trùm là hơn tám mươi triệu người dân Việt Nam đang đòi hỏi phải chấm dứt bị vắt kiệt sức cho “thời kỳ quá độ” và định hướng CNXH không xác định. Việt Nam không thiếu dũng khí, không thiếu thông minh, dân tộc không thiếu “nguyên khí quốc gia”. Vấn đề là phải tạo điều kiện để mỗi người đều có quyền công dân và quyền con người. Quyền chính đáng ấy một thời gian dài bị tước mất, là nguyên nhân dẫn đến nhu nhược, nay đang được khôi phục. Hãy cùng suy nghĩ câu nói của luật sư Lê Công Định: “Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc”.

Việt Nam không thể xây dựng Nhà nước pháp trị thiếu tính chính danh, thiếu tiên định bằng một cuộc bầu cử đa thành phần tham gia, để có thể tiên khởi đến một xã hội công bằng. Tính chính danh không thể có chỉ trên văn bản, phát biểu và khẩu hiệu. Quan trọng hàng đầu là: quốc hội với vai trò độc lập và thuộc về toàn dân, thông tin đại chúng trung thực và lấy phản biện đi đến chân lý. Trên con đường dân tộc từ nay, những nhóm nhận lãnh trách nhiệm tiên phong phải chính thức được nhân dân “chọn mặt gửi vàng”, chịu phế truất trực tiếp từ nhân dân nếu thiếu năng lực và đạo đức. Việt Nam không thể chậm hơn trong việc thay đổi mục tiêu và mô hình phát triển đất nước.

Lực cản nào đang tồn tại trên Con Đường Việt Nam? Đó là cơ chế chồng chéo song trùng giữa đảng và nhà nước. Cơ chế này thật sự là “gánh nặng”, vì nhân dân phải nuôi hệ thống đảng bên cạnh bộ máy nhà nước còn chưa “chính danh”. Hãy nhớ lại sự kiện cuối năm 1945, tuyên bố tự giải tán cho thấy Đảng Cộng sản chấp nhận nguyên tắc đảng chính trị buộc phải tách khỏi quốc hội, chính phủ và nhà nước. Nhưng thực tế ngược lại đã làm cho nhà nước của dân mà xa rời dân, người dân lo sợ pháp luật và tệ nạn xã hội. Cơ chế ấy tồn tại thời gian dài đã trở thành cỗ máy tự hành bất trị. Nó không những tiêu tốn bao năng lực xã hội mà còn nghiền nát mọi thứ, cả sự thật và lẽ phải. Chính Đảng Cộng sản tạo ra cỗ máy ấy cũng bất lực nhìn nó ngoài tầm kiểm soát. Cỗ máy ấy hoạt động được là do: cả triệu lớp đảng viên do thiếu một ý thức mạnh đã lấy nguồn sinh lực trí tuệ, tình cảm và nhiệt huyết của cuộc đời mình biến thành thứ “chất đốt” cung cấp cho nó. Hết hàng triệu cuộc đời ấy, lại thêm hàng triệu cuộc đời khác.

Để cỗ máy dừng lại, chỉ còn cách tốt nhất: thôi nạp nguồn năng lượng và thôi hành động theo mệnh lệnh của nó. Trả thẻ ra khỏi Đảng Cộng sản, dừng lại khi đã nhận thấy sai lầm, chấm dứt sự cống hiến vô nghĩa tác hại đến đời sống của người dân và của chính mình là việc mà đảng viên nào cũng có thể làm. Lựa chọn và từ bỏ một lý tưởng là quyền của mỗi người. Rời bỏ một tổ chức chính trị cũng không có nghĩa là hình thành tổ chức khác đối đầu và loại trừ nhau. Trong trường hợp các đảng viên tham gia tổ chức mới, vẫn phải liên minh với những đảng viên còn ở lại, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, góp phần phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp trị hội nhập nhân bản.

Xã hội chỉ có thể tự do thịnh vượng, năng lực con người chỉ có thể được giải phóng và cống hiến tối đa, phát triển chỉ có thể bền vững… một khi có sự nỗ lực cộng đồng, có trí tuệ và hành động của mọi tầng lớp. Xã hội ấy tiên quyết phải có Nhà nước pháp trị mà không ai có thể bác bỏ được. Bất kỳ chủ nghĩa hay tư tưởng nào đều phải được thể chế hóa bằng pháp luật. Bất kỳ cá nhân hay nhóm xã hội nào đều phải được hiến pháp – pháp luật điều chỉnh, định hướng và bảo vệ. Đó là xã hội hiển nhiên phải loại trừ toàn trị, loại trừ độc đảng thiếu công bằng và vi hiến đã trì hoãn xây dựng Nhà nước pháp trị. Tổ chức bầu cử tự do, công khai, công bằng, hợp pháp là giải pháp đầu tiên không thể thiếu. Có Nhà nước pháp trị đúng nghĩa, chính quyền sẽ không còn phải tìm cách quanh co ngụy biện, Việt Nam sẽ có đồng minh tin cậy, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ sẽ được bảo đảm…

Chặng đường mới cần phải bắt đầu bằng hiến pháp của toàn dân và cơ chế nhà nước minh bạch. Đó là giải pháp cơ bản và thiết yếu, không còn lý do kéo dài hiện trạng lâu hơn nữa. Chỉ có như vậy, Việt Nam mới hướng tới xã hội hài hòa và phát triển theo hướng:

Thượng tôn pháp luật. Pháp luật phản ánh nguyện vọng và được biểu quyết từ nhân dân, công minh trong một xã hội dân sự. Không được chiếm dụng và đứng trên pháp luật.

Tôn trọng sự thật. Thông tin phải trung thực, phục vụ toàn dân. Tôn trọng sự thật giúp xóa bỏ tệ nói dối, nói sai và làm sai. Không được độc quyền ban phát chân lý.

Thiết lập công bằng. Giải quyết tận gốc tham nhũng, lạm quyền, tập quyền, lãng phí, trục lợi và đem lại cơ hội bình đẳng cho mọi người.

Việt Nam cần xác định đổi mới trên hết vì quyền lợi toàn dân tộc. Đổi mới không chỉ đáp ứng nhu cầu xã hội, mà hội nhập nhanh vào chuẩn mực đời sống văn minh hiện đại. Chặng đường mới phải đưa Việt Nam đến vị trí là điểm son trên bản đồ thế giới. Hãy phát huy truyền thống dân tộc, hãy chấp nhận sự thật và lẽ phải, hãy có lương tâm và trách nhiệm, hãy vì thế hệ tương lai – cả dân tộc sẽ cùng chung trên con đường đang bắt đầu từ hướng mở hôm nay: CON ĐƯỜNG VIỆT NAM.

 

Hết.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong sách. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to LỜI KẾT

  1. Dân nghèo nói:

    Rất cảm ơn tác giả !
    Công dân Việt .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s