ĐI QUA HAI CUỘC CHIẾN TRANH

Từ năm 1858 đến 1930

Quá trình người Pháp thôn tính và cai trị

Những văn bản ngoại giao mất chủ quyền

Từ năm 1817 đến 1830, nước Pháp nhiều lần đặt quan hệ bang giao và bị từ chối bởi thái độ dứt khoát của triều Nguyễn. Một số sĩ quan quân đội Pháp đã đề nghị can thiệp vũ trang vì cho rằng triều đình không tiếp nhận quốc thư của Chính phủ Pháp là hành động hạ nhục quốc thể”. Về nguyên nhân trực tiếp, một cuộc giao tranh bằng chiến thuyền đã diễn ra tại Đà Nẵng, nhiều thuyền phía Việt Nam bị bắn chìm. Vua Thiệu Trị nổi giận, lệnh chém tất cả những người phương Tây bắt được tại Việt Nam mà không phân biệt người Pháp hay các quốc gia khác. Thời Tự Đức xảy ra vụ phản nghịch chiếm đoạt ngai vàng, vua nhận định có sự tiếp tay của các giáo sĩ nước ngoài, ra hai đạo dụ mới vào năm 1848 và 1851 tiếp tục khẳng định cấm đạo. Đến khoảng năm 1860, triều Nguyễn đã giết hàng chục giáo sĩ người nước ngoài đến Việt Nam, hàng ngàn giáo dân người Việt cũng bị tàn sát và đày đến vùng hoang sơ.

Tình hình trên càng làm cho ý kiến trong Chính phủ Pháp ủng hộ can thiệp vũ trang vào Việt Nam tăng lên. Thêm một cuộc giao tranh cũng ở cảng Đà Nẵng vào năm 1856 sau khi xảy ra bất đồng giữa trung tá Le Lieur trên tàu Catinat và các quan quân địa phương. Quân Pháp nổ súng lên bờ phá hủy các pháo đài bố phòng, nhưng không đổ bộ. Đầu tháng 9-1858, cuộc tấn công của tàu chiến Pháp vào cảng Đà Nẵng lại diễn ra, quân lính tiến lên đất liền ở bán đảo Sơn Trà. Không bao lâu các đồn ải đều bị chiếm đóng. Sự kiện này chính thức bắt đầu thời kỳ Việt Nam bị đô hộ gần 100 năm bởi nước Pháp.

Năm sau, nhận định vùng đất giàu sản vật và chằng chịt sông ngòi kênh rạch phía Nam có thể trở thành trung tâm buôn bán rộng lớn thông thương đường biển sang nhiều thuộc địa, quân Pháp quay vào chiếm thành Sài Gòn. Năm 1861, quân Pháp tiếp tục chiếm đồn Kỳ Hòa và vùng Mỹ Tho, rồi mở rộng lấn chiếm Biên Hòa, Bà Rịa và Vĩnh Long. Việc chiếm đóng ba tỉnh miền Đông đến đây hoàn thành. Trong quá trình đó, quân Pháp gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của các sĩ phu chỉ huy quân đội bất tuân lệnh triều đình kết hợp với nông dân trai tráng các đồn điền. Mặt khác, đội quân viễn chinh này lại thêm không quen với khí hậu và địa hình xa lạ, thiệt mạng không ít, rơi vào tình thế bất ổn.

Cũng lúc này, triều đình Huế lại thay đổi thái độ cự tuyệt. Cuộc thương thuyết ngày 5-6-1862 tại Sài Gòn đã ra đời Hòa ước Nhâm Tuất. Đại diện triều Nguyễn là Chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiệp, đại diện Pháp là Bonard, đại diện Tây Ban Nha là Guttiereu. Sau khi ký hòa ước, triều đình mới chậm trễ nhận ra bất lợi, lệnh cách chức Phan Thanh Giản và tước bỏ phẩm hàm của Lâm Duy Hiệp. Đây là văn bản ký kết lần thứ nhất giữa triều Nguyễn và người Pháp, đánh dấu bước đầu áp đặt sự đô hộ của người Pháp ở Việt Nam.

Hòa ước có 12 điều, trong đó có một số nội dung đáng chú ý sau: các vùng đất Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn được chuyển nhượng về phía Pháp, quân Pháp sẽ trả lại Vĩnh Long nếu vua Tự Đức thu hồi quân đội đang chống lại Pháp tại đây; mở rộng tự do Công giáo, tự do mậu dịch; khi cần bàn các vấn đề liên quan ở vùng đất chuyển nhượng sẽ tổ chức hội nghị với đại diện Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam; các sứ giả Pháp và Tây Ban Nha được quyền yết kiến nhà vua Việt Nam; triều đình Huế phải trả chiến phí 4 triệu USD trong mười năm. Hòa ước 1862 đã đem lại nhiều lợi thế và ngẫu nhiên cứu nguy cho quân Pháp đang lúc khó khăn. Mặc dù sau đó, hòa ước được chỉnh sửa bổ sung, nhưng triều Nguyễn không thoát khỏi thế bị động.

Lấy cớ phải dẹp bỏ các phong trào nổi dậy chống lại quân Pháp, các quan chức quân sự Pháp đã tiếp tục dấn tới, gây áp lực với triều đình. Giữa năm 1867, trước thái độ lưỡng lự của vua quan, quân Pháp chiếm tiếp ba tỉnh miền Tây. Chỉ trong bốn ngày, thành Vĩnh Long, thành Châu Đốc và Hà Tiên thất thủ. Nguyên nhân cơ bản là quân đội triều đình chỉ lo thủ thành mà không liên kết với các phong trào bên ngoài. Trong khi đó, quân Pháp từng bước làm chủ tất cả các vùng, ngăn chặn viện quân, tiếp tế lương thực và vũ khí vào thành, chia cắt phòng thủ và tiến tiêu diệt từng vùng.

Đến lúc này lục tỉnh Nam Kỳ đã về tay Pháp. Soái phủ Nam Kỳ La Gradière viết thư gửi vua Tự Đức nhằm xoa dịu và chấp nhận thương lượng sự việc xảy ra. Nhà vua đã trả lời bằng thư phê phán việc dùng sức mạnh quân sự xâm chiếm các vùng đất miền Tây Nam bộ, đòi Pháp xóa khoản chiến phí còn lại và trả hai tỉnh Biên Hòa, Gia Định. Tuy nhiên, ngoài thư phản đối, triều đình Huế không còn hành động cụ thể nào khác. Vào đầu năm 1868, một dự thảo hiệp ước mới ra đời gồm 14 điều khoản thay cho Hòa ước 1862, trong đó chấp nhận lục tỉnh Nam Kỳ, Côn Lôn, Phú Quốc và các đảo khác thuộc Pháp, xác định quyền tự do truyền giáo và xây dựng giáo đường. Tuy nhiên, đô đốc De La Gradière chủ trì dự thảo hiệp ước về Pháp trong kỳ nghỉ phép, sau đó vì sức khỏe nên không trở lại. Vì thế, dự thảo hiệp ước đã không được xúc tiến.

Thái độ bất mãn từ các sĩ phu và phong trào yêu nước lan rộng trước sự tháo lui thỏa hiệp của triều đình, thể hiện qua khẩu hiệu truyền đi khắp nơi: “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đại diện nhà Nguyễn thương thuyết với quân Pháp ký hòa ước. Sự thật thì hoàn cảnh lịch sử đã buộc các quan kinh lược thực thi nhiệm vụ, việc định tội bán nước có lẽ hàm oan vì chưa đủ căn cứ khách quan). Phong trào vận động chống Pháp và các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ đã liên tiếp gây rối quân Pháp. Năm 1871, Nguyễn Trường Tộ còn đề nghị vua Tự Đức lấy lại Nam Kỳ bằng cách phối hợp với vua Cao Miên mở rộng vùng kháng chiến và liên minh với các nước Anh, Thái Lan nhằm cô lập quân Pháp ở Đông Dương, nhưng kế hoạch không khả thi.

Cũng lúc này ở phía Bắc, giặc giã loạn lạc các địa phương nổi lên. Đó là những nhóm: Thái Bình Thiên Quốc, Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng… Phần lớn những nhóm này cát cứ từng vùng, cướp bóc, bắt cóc đòi tiền chuộc, gây rối… hơn là khởi nghĩa cứu nước. Triều đình Huế đã mất lục tỉnh, thêm bất lực trước tình hình an ninh xã hội ở miền Bắc, càng không thể có một đối sách nào sáng suốt.

Năm 1873, nhân thuyền buôn của thương gia Pháp Jean Dupuis đi từ Vân Nam về Hà Nội trên sông Nhị bị các quan địa phương chặn lại, đô đốc Dupré lấy cớ can thiệp và chiếm một dãy phố ở Hà Nội. Chính phủ Pháp phái Francis Garnier đến Hà Nội giải quyết xung đột, nhưng vị đặc sứ này lại ủng hộ Dupré, đòi nhà Nguyễn phải mở rộng quyền giao thương trên thủy lộ này cho tàu thuyền nước ngoài. Mặt khác, để trấn dẹp các nhóm giặc loạn quấy nhiễu, quân Pháp phá cửa thành Hà Nội, kéo vào Trường Thi. Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương bài binh bố trận thủ thành. Sau khi gửi tối hậu thư mà quân triều đình không đầu hàng, Francis Garnier chỉ huy quân Pháp chiếm được thành Hà Nội. Hai tuần sau, quân Pháp mở rộng chiếm năm tỉnh trọng yếu ở phía Bắc.

Tình trạng hỗn loạn vốn âm ỉ, đến lúc này càng bùng nổ: quan lại rời bỏ chức vụ làm cho bộ máy chính quyền phong kiến đi đến lỏng lểu tan rã, cướp bóc và tự xử những thù oán cá nhân tăng lên, đụng độ đẫm máu giữa những nhóm cực đoan do giới sĩ phu kêu gọi nổi dậy đánh nhau với giáo dân các làng Thiên Chúa giáo. Quân Pháp không đủ lực lượng vãn hồi trật tự, phần lớn chỉ đồn trú trong thành. Cuối năm 1873, quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc đứng đầu đã lập mưu giết chết Francis Garnier. Từ chỗ trấn dẹp giặc loạn, Hà Nội đã trở thành tâm điểm mâu thuẫn cơ bản về chủ quyền quốc gia khi người Việt đứng lên chống quân Pháp.

Chính phủ Pháp tiếp tục phái vị thanh tra bản xứ vụ Philastre đến triều đình Huế để dàn xếp hành động xâm chiếm đang bị lên án. Vị thanh tra này đã cùng Tả tham tri Bộ Lễ Nguyễn Văn Tường ra Hà Nội điều tra xác định tình hình. Kết cuộc là hai bản thỏa hiệp tạm thời được ký, qua đó Pháp đồng ý trao trả lại cho Việt Nam các thành Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định. Nhưng triều đình Huế vẫn bị dao động, vì vậy không bao lâu một hiệp ước khác ra đời thay thế Hòa ước 1862.

Đó là văn bản lần thứ hai triều Nguyễn ký với Pháp ngày 15-3-1874. Đại diện triều Nguyễn là Chánh sứ toàn quyền đại thần Lê Tuấn và Phó sứ toàn quyền đại thần Nguyễn Văn Tường, đại diện Pháp là Thống đốc Nam Kỳ Dupré. Hiệp ước gồm có 22 điều, chủ yếu tập trung vào bốn nội dung: về lãnh thổ, triều đình Huế sau bảy năm không trả lời nay chính thức chấp nhận ba tỉnh miền Tây thuộc Pháp để đổi lại xóa chiến phí còn nợ theo Hòa ước 1862; về ngoại giao, Pháp công nhận chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam, tuy nhiên hoạt động ngoại giao phải phù hợp với đường lối của Pháp (nhằm hủy bỏ mối quan hệ triều Nguyễn lệ thuộc Trung Quốc, đề phòng từ xa nhà Nguyễn nhờ Trung Quốc can thiệp); về thương mại, các thương cảng ở Hà Nội, Quy Nhơn, Hải phòng phải được mở rộng cho các nước đến buôn bán và lập thương điểm, Pháp sẽ lập lãnh sự giải quyết tranh chấp; về tôn giáo, Công giáo được mở rộng quyền tự do hành đạo, được tham gia vào các cơ quan hành chính, có quyền mua bán đất đai và sở hữu tài sản riêng.

Hiệp ước thêm lần nữa trao nhiều lợi thế cho quân Pháp. Trong khi đó, vua Tự Đức tự thấy đã đánh mất vai trò, bèn trì hoãn thực hiện và tìm cách liên hệ triều Thanh ngăn chặn việc mở rộng chiếm đóng của Pháp. Các tàu buôn của Pháp đi lại trên tuyến đường Vân Nam – Hà Nội bằng sông Nhị vẫn thường bị quân Cờ Đen và các nhóm quân Trung Quốc phục kích. Cuối năm 1879, Bộ trưởng Bộ Hàng hải Pháp Jauréguiberry đề nghị đưa 6.000 quân viễn chinh đến Bắc Kỳ áp đặt nền bảo hộ, nhưng không được chính phủ đồng ý. Ba năm sau, Thống đốc Le Myre de Vilers phái một đội quân ở Nam Kỳ ra Bắc bảo vệ thương thuyền bị chặn cướp. Đội quân Pháp ra Bắc Kỳ, nhận thấy Tổng đốc Hoàng Diệu gấp rút chuẩn bị cuộc chiến, đã tấn công chiếm thành. Trước tình hình đó, triều Nguyễn cầu cứu nhà Thanh. Tháng 9-1881, Trung Quốc ra tuyên bố bác bỏ Hiệp ước 1874, năm sau một đạo quân Thanh do Đường Cảnh Tùng và Tạ Kính Bưu kéo sang đóng trại ở Sơn Tây và Bắc Ninh.

Hành động của Trung Quốc lúc này nhằm mục đích gì? Nhân đáp ứng cầu cứu, triều Thanh tham gia vào việc “xâu xé Bắc Kỳ, đã đề nghị người Pháp nhường lại cho Trung Quốc quyền quản lý tả ngạn sông Nhị lên biên giới phía Bắc, còn Pháp quản lý từ hữu ngạn xuống phía Nam. Pháp không chấp nhận, cử thêm quân ra Bắc đối phó với Trung Quốc. Năm 1883, trước tin triều Nguyễn chuẩn bị giao cho một công ty của Trung Quốc quản lý cảng Hòn Gai và khai thác than, quân Pháp ra tay chiếm đóng trước và lập ra một căn cứ quân sự ở đây. Henry Rivière còn chỉ huy chiếm thành Nam Định và gửi tối hậu thư yêu cầu tất cả các thành lũy còn lại ở phía Bắc phải giải tán phòng thủ. Quan quân triều đình và cả quân Cờ Đen tổ chức phản công, trong một trận phục kích ở Cầu Giấy đã bắn chết Henry Rivière.

Tại Pháp, phái chủ chiến tuyên bố sự hy sinh của Henry Rivière và cả Francis Garnier mười năm trước là tinh thần dũng cảm và vinh quang của những người con nước Pháp, do đó phải có hành động đáp trả. Các cuộc họp nội các Pháp đã đi đến quyết định chính thức thiết lập nền bảo hộ ở Việt Nam, đề nghị ngân khoản 5,5 triệu quan cho việc điều động hạm đội, binh lính và thiết cập đồn bót, căn cứ quân sự. Bác sĩ Harmand từng làm việc trong lãnh sự Pháp ở nước ngoài, được cử đến Hà Nội làm Tổng ủy dân sự, tổ chức thực hiện quá trình bảo hộ, đồng thời liên lạc ngoại giao giữa Pháp với triều Nguyễn.

Sau khi vua Tự Đức qua đời vào tháng 7-1883, hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bắt giam Dục Đức (được vua Tự Đức chỉ định nối ngôi) và lập ra vua Hiệp Hòa. Lúc này, Pháp lại tiến quân vào chiếm cửa biển Thuận An ngay sát kinh thành, buộc triều đình phải chấp nhận ra tuyên bố đình chiến. Trong hoàn cảnh đó, Hòa ước Harmand ra đời.

Hòa ước Harmand, còn gọi là Hòa ước Quý Mùi 1883, ký ngày 25-8-1883 tại Huế. Tổng ủy François Jules Harmand và ông De Champeaux đại diện Pháp, Hiệp biện Đại học sĩ Trần Đình Túc và ông Nguyễn Trọng Hợp đại diện triều Nguyễn. Hòa ước có 27 điều với những nội dung cơ bản: An Nam chịu sự bảo hộ của Pháp về pháp luật, ngoại giao; Bình Thuận sáp nhập vào xứ Nam Kỳ thuộc Pháp; Pháp lập đồn và đóng quân ở các vùng trọng yếu và triều Nguyễn phải giới hạn quân đội; triều Nguyễn phải mở thương cảng Quy Nhơn, Đà Nẵng, Phú Yên và cửa khẩu trên bộ, chấp nhận Pháp quản lý và quyết định thương chính; hai bên cùng tu sửa toàn bộ tuyến đường xuyên Việt đồng thời lập đường điện báo; trú sứ Pháp đặt tại Huế, Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lỵ và sẽ không can thiệp nội trị; Pháp mở rộng quyền tự do cho công dân quốc tịch Pháp ở An Nam; Pháp bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và bảo hộ dân An Nam, giúp triều đình chống nội loạn và ngoại xâm; Pháp đào tạo cho triều đình các kỹ sư, bác học, sĩ quan… theo yêu cầu; Pháp xóa tất cả các khoản An Nam nợ; hai bên thống nhất tỉ lệ hưởng nguồn thu quan thuế, điện tín, khai thác tài nguyên… Với văn bản lần thứ ba này, triều Nguyễn thêm một bước lùi, người Pháp được mở rộng nhiều quyền hạn trên đất nước Việt Nam.

Mặc dù đã có hòa ước, nhưng phong trào kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc vẫn không dừng, thậm chí còn mở rộng liên kết với quân Thanh. Các nhóm của Hoàng Kế Viêm (Sơn Tây), Trương Quang Đản (Bắc Ninh) và quân Cờ Đen bao vây thành Hà Nội. Quân Pháp được điều viện đến kịp thời, không những đã giải vây mà còn quay ra chiếm Sơn Tây. Tại miền Trung, triều đình cũng ngầm cổ vũ phong trào chống Pháp, Tôn Thất Thuyết có kế hoạch lập mật khu ở Tân Sở, Quảng Trị. Quân Pháp tiếp tục tăng cường ra phía Bắc, mở rộng chiếm đóng Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa và buộc các đội quân Trung Quốc phải chấp nhận thua cuộc. Tại Thiên Tân, Lý Hồng Chương đại diện triều Thanh ký với Fournier đại diện Pháp một giao ước trong đó Trung Quốc cam kết rút quân ra khỏi miền Bắc, chấm dứt hẳn việc đáp ứng cầu cứu của triều Nguyễn, tôn trọng hòa ước giữa Việt Nam và Pháp. Đang thắng thế, quân Pháp muốn sửa đổi lại Hòa ước Harmand, do đó thêm Hiệp ước Patenôtre ra đời.

Hiệp ước Patenôtre ký vào ngày 6-6-1884 cũng tại Huế. Đại diện Pháp là Jules Patenôtre, một đặc phái viên Chính phủ Pháp. Đại diện triều đình Huế gồm Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Văn Tường, Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật, quyền Thượng thư Bộ Công Tôn Thất Phan. Nội dung cơ bản trong 19 điều thêm một lần nữa xác định An Nam chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp và Pháp thay mặt An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại. Người An Nam ở nước ngoài cũng đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Qua bốn lần ký các văn bản ngoại giao quan trọng kể trên, triều Nguyễn đã từng bước bị đưa vào ngõ cụt, dẫn đến hoàn toàn bất lực, chỉ còn là cái bóng mờ trước lịch sử. Quyền quản lý đất nước vào tay người Pháp, Việt Nam đã bị chia cắt và trở thành thuộc địa trong khối Đông Dương.

Những nỗ lực cuối cùng của triều Nguyễn

Thời thế đã đổi nhưng các vua vẫn quan niệm khép kín, hẹp hòi nắm giữ quyền lợi hoàng triều, cả phái chủ chiến lẫn chủ hòa đều thiếu quyết định dứt khoát chọn hướng đi và liên minh. Cuối thời Gia Long, đường lối quan hệ ngoại giao với phương Tây hay Trung Hoa đã không rõ ràng. Lại thêm hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long phế truất dòng trưởng, đưa Minh Mạng lên ngôi. Vị vua mới đã củng cố nội triều bằng cách giết chết vợ và con trưởng của hoàng tử Cảnh, đuổi con thứ ra khỏi triều đình. Về ngoại giao, có lẽ với quan điểm “ta tắm ao ta”, lại thêm tham vấn từ các cận thần Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, vua Minh Mạng đặt hẳn quan hệ với Trung Hoa, đề cao và tin dùng người Minh Hương đến mức vận mệnh triều đình đã có thể vào tay họ; trong khi đó lại giãn cách các quan hệ với phương Tây, giảm cắt nhân viên phương Tây từng cộng tác với Gia Long, đàn áp Công giáo, cấm cản thương mại… Các nhà viết sử cho rằng triều Nguyễn gây ra “bế môn tỏa cảng”, thật ra chủ trương đó còn được hình thành từ tác động qua lại giữa hai triều đại Trung Hoa và Việt Nam giai đoạn này.

Cùng với “bế môn tỏa cảng”, trong nước vua Tự Đức lại thêm nỗ lực sai lầm khi bác bỏ canh tân được đề xuất bởi những trí thức ảnh hưởng từ Pháp hay Công giáo. Một trào lưu cải cách với những học giả tiêu biểu như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Văn Điền… có tư tưởng tiến bộ, mong muốn chấn hưng đất nước bắt đầu xuất hiện. Nguyễn Trường Tộ là người giỏi tiếng Pháp, từng được người đời gọi tôn xưng hàng là trạng vì học xa trông rộng. Từ năm 1863 đến khi mất, ông liên tục gửi 60 bản điều trần đến vua Tự Đức đề xuất canh tân đất nước. Trong đó, “Cấp tế bát điều” nổi bật quan tâm chấn chỉnh hoạt động chính quyền, ngoại thương, công nghiệp, nông nghiệp. Vua đọc xong bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, đã phê: “Tộ ta quá coi trọng vào những gì mình nghĩ, chính sách của ta cũng đã đủ để cai trị”.

Năm 1868, Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế xin mở hải khẩu Trà Lý ở Nam Định, Đinh Văn Điền đề xuất khai khẩn ruộng hoang, khai mỏ, phát triển thương nghiệp, chấn chỉnh quốc phòng. Nguyễn Lộ Trạch cũng dâng lên vua bản “Thời vụ sách thượng” (1877) và “Thời vụ sách hạ” (1882) đề cập chiến lược phòng thủ đất nước, huấn luyện quân đội, dự trữ quốc gia, nắm bắt kiến thức kỹ thuật và mở rộng giao bang… Nhưng cũng như “Cấp tế bát điều”, tất cả các bản điều trần đều chung số phận bị uống thuốc ngủ quá liều.

Cũng trong khoảng thời gian đó, nhận thấy mối bang giao liên minh cùng nhà Thanh không đối phó được với quân Pháp và thay đổi tình thế, vua Tự Đức bắt đầu nhìn ra xa hơn. Bấy giờ, Bùi Viện là sứ giả đầu tiên tự nguyện giúp vua tìm kiếm và liên kết với sức mạnh bên ngoài. Không dâng bản điều trần như các nhân sĩ trí thức, Bùi Viện chủ trương trực tiếp tìm đến các cường quốc nhờ giúp đỡ nhằm “chế ngự người Pháp đang gây áp lực buộc triều đình Huế đầu hàng”. Vua Tự Đức chấp nhận. Tháng 8-1873, Bùi Viện bắt đầu sứ mệnh ngoại giao. Ông đến lãnh sự Hoa Kỳ ở Hương Cảng và đến Nhật, từ đó đi San Fransisco. Khi đến Hoa Kỳ, ông nhiều lần tìm cách tiếp cận và xin được gặp các nhà lãnh đạo.

Năm 1874, ông được tiếp kiến Tổng thống Grant. Ông đề nghị Hoa Kỳ giúp Việt Nam đánh Pháp, nhưng lại không mang quốc thư nên Tổng thống khuyên ông làm lại từ đầu. Khi về nước, Bùi Viện nhận thấy triều đình vẫn trong tình cảnh quan thần “mũ cao áo rộng, chỉ biết Trung Quốc cũ và chỉ biết tin vào những bậc thánh nhân Nho giáo. Chuyện khoa học thì họ mù tịt, chuyện thế giới bên ngoài thì họ cần gì biết đến”. Hầu hết các cận thần phản ứng mối quan hệ ngoại giao này, riêng vua Tự Đức vẫn quyết định thảo quốc thư và giao Bùi Viện chính thức làm đặc sứ toàn quyền đại thần.

Năm 1875, Bùi Viện đến Hoa Kỳ lần thứ hai. Nhưng lúc này Pháp đã thỏa thuận xong với các nước về bảo hộ Việt Nam. Trong khi Hoa Kỳ phải giải quyết các vấn đề trong nước nên quốc thư Bùi Viện mang đến đã không còn được quan tâm. Mặc dù vậy, vua Tự Đức đã đánh giá công lao Bùi Viện: “Ta với ngươi tuy chưa có ân nghĩa gì sâu nặng mà đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần tất cũng biết vậy”. Bùi Viện đã không hoàn thành sứ mệnh ngoại giao đột phá mới lạ vì không có nhiều người ủng hộ. Chuyến đi cầu viện thất bại đánh dấu khép lại nỗ lực hoạt động ngoại giao độc lập cuối cùng của triều Nguyễn không chịu lệ thuộc Pháp. Dù sao, ông vẫn xứng đáng được nêu cao về tư tưởng bang giao rộng mở. Tư tưởng ấy sau này cho thấy hoàn toàn phù hợp với xu thế hội nhập và xích lại gần nhau giữa các dân tộc.

Sau khi ký Hiệp ước Patenôtre, người Pháp lại vẫn vấp phải sự kháng cự của tầng lớp sĩ phu, quan lại và các cuộc khởi nghĩa tự phát. Tháng 7-1884, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất thuyết một mặt đưa vua Hàm Nghi lên thay vua Phúc Kiến mà không thông báo cho người Pháp rồi tổ chức phòng ngự kinh thành, mặt khác phản đối việc Pháp lập ra các đội lính khố đỏ trong khi bí mật chuyển vũ khí lương thực lên căn cứ kháng chiến lâu dài ở rừng núi Tân Sở. Tháng 7-1885, quân Pháp nắm được tình hình trên, đã phái De Courcy chỉ huy quân đội hành quân về Huế mở cuộc trấn áp. Quân triều đình đánh trả nhưng thất bại, kinh thành bị chiếm đóng.

Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đến Tân Sở, giúp vua ra chiếu kêu gọi chống Pháp. Phong trào Cần Vương lan rộng từ Hải Dương vào đến Bình Thuận, trong đó Quảng Bình là nơi đối đầu kiên quyết nhất. Quân Pháp tiến quân đến Đồng Hới bao vây Tân Sở, cắt đứt liên lạc bên ngoài. Bên trong căn cứ, sau khi xây dựng doanh trại, bàn giao việc phò vua và chỉ huy phong trào cho con trai là Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thuyết theo đường rừng núi sang Trung Quốc cầu viện. Tháng 10-1888, vua Hàm Nghi bị một nhóm dân tộc ít người bắt giao nộp cho Pháp, Tôn Thất Đạm tự tử, những tướng lĩnh khác đầu hàng. Cuộc kháng chiến cứu nước do vua quan triều Nguyễn phát động với tinh thần tự chủ dân tộc, cứu tổ quốc khỏi hiểm họa xâm lăng, được nhiều người hưởng ứng tham gia, đến lúc này chấm dứt. Kèm theo đó, phong trào cũng mắc sai lầm khi nhiều nơi không những phục kích quân Pháp, mà còn giết hại hàng chục ngàn giáo dân Công giáo cùng máu đỏ da vàng vì cho rằng họ thân với quân Pháp.

Kết thúc phong trào Cần Vương, nhìn lại lịch sử ngắn ngủi giai đoạn này, thể chế vương triều sau vua Tự Đức đầy chắp nối. Hàng loạt vị vua tiếp theo ngự ngai rất ngắn, phần lớn chịu sự sắp xếp của người Pháp. Trong năm 1883, Dục Đức làm vua ba ngày bị phế truất, tiếp theo Hiệp Hòa làm vua cũng chỉ sáu tháng. Năm 1884, vua Phúc Kiến lên thay và cũng rời ngôi. Vua Hàm Nghi bị bắt trong phong trào Cần Vương. Vua Đồng Khánh chuyển sang đường lối thân Pháp, giữ ngôi đến năm 1888. Thành Thái bị ép làm vua khi mới 10 tuổi, giữ ngôi đến năm 1907. Vua Duy Tân giữ ngôi đến năm 1916 thì bị Pháp lưu đày biệt xứ. Vua Khải Định thân Pháp giữ ngôi đến năm 1925.

Năm 1926, Bảo Đại 12 tuổi đang theo học tại Pháp, lên ngôi trên danh nghĩa và ký một thỏa ước chấp nhận chuyển giao Pháp quyền quyết định chính trị, tư pháp, kể cả quyền bổ nhiệm các quan chức. Tháng 9-1932, vua Bảo Đại về nước, tiếp nhận ngai vàng, chủ trương canh tân xã hội và lập ra chính thể quân chủ lập hiến. Năm sau, bỏ qua tham khảo người Pháp trong Hội đồng hoàng tộc triều Nguyễn, vua tự chấp chính chọn năm nhân vật vào Hội đồng Thượng thư: Thái Văn Toản, Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn. Bước tiếp theo là việc chính thức công bố Ủy ban cải cách, cùng chương trình cải cách trên các lĩnh vực hành chính, hình luật, giáo dục, thi cử… Nhưng giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm xảy ra bất đồng ý kiến, dẫn đến Ngô Đình Diệm từ chức và quay ra liên hệ với hoàng thân Cường Để. Giới bảo thủ trong triều và các cơ quan hành chính trực tiếp thuộc Pháp bảo hộ cũng chống đối. Vua Bảo Đại nản chí, tìm đến các trò tiêu khiển thiên nhiên. Cuộc cải cách vừa triển khai đã khép lại. Từ đó về sau, nhà vua và các hoàng triều thân thích không còn một nỗ lực nào khác tự thân và độc lập tinh thần dân tộc đáng kể.

Chính sách của người Pháp

 

Bộ máy cai trị và các lĩnh vực xã hội

Sau giai đoạn bình định và thôn tính cơ bản hoàn thành, người Pháp bắt tay vào việc thiết lập hệ thống chính quyền. Năm 1887, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập khối Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Française) gồm năm vùng: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Ai Lao. Xứ Nam Kỳ được sáp nhập vào mẫu quốc, xứ Bắc Kỳ như một thuộc địa bị kiểm soát chặt chẽ, xứ Trung Kỳ tuy áp dụng quy chế bảo hộ cũng chỉ là hình thức. Hà Nội trở thành thủ đô của khối Đông Dương.

Đứng đầu khối là Toàn quyền Đông Dương, quyền hạn gần như không giới hạn trên nhiều lĩnh vực. Toàn quyền được lập ra Hội đồng Chính phủ như một cơ quan tham mưu, lập ra Hội đồng Đề hình đặc biệt, quyết định thiết lập và chi tiêu tổng ngân sách toàn khối, quyết định mọi vấn đề an ninh và quốc phòng, trực tiếp bổ nhiệm tổng giám đốc và chỉ đạo hoạt động các Tổng nha: Tài chính, Học chính, Kinh tế vụ, Canh nông, Công chính, Bưu chính, Thương chính…

Dưới Toàn quyền Đông Dương, ba miền ở Việt Nam có Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ và Thống đốc Nam Kỳ; chịu trách nhiệm trong lãnh hạt phụ trách với quyền hành khá rộng rãi. Trong từng lãnh hạt có nhiều tỉnh, đứng đầu mỗi tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ là công sứ, ở Nam Kỳ là tỉnh trưởng. Trong mỗi tỉnh có nhiều đơn vị hành chính cấp huyện, đứng đầu các đơn vị này mới giao cho người Việt quản lý, chịu lệ thuộc về quyền hành trước tỉnh trưởng. Các cấp hành chính cũng được phép thành lập hội đồng tư vấn: mỗi kỳ có hội đồng quản hạt và hội đồng dân biểu, cấp tỉnh có hội đồng hàng tỉnh, cấp thấp nhất ở làng xã có hội đồng kỳ mục.

Trong bộ máy hành chính trên, một bộ phận nhỏ trí thức người Việt cộng tác được ưu tiên, tuy nhiên thường đảm nhận các chức vụ quyền hạn thấp như phán sự, tham biện, thông ngôn, cảnh sát, ký lục, thuộc viện thương chính… Năm 1914, người Việt trong các cơ quan hành chính Pháp với con số trên 12.000 nhân viên, đến năm 1929 lên gần 24.000 nhân viên. Những viên chức này chỉ được “Tây hóa” hình thức bằng tên gọi và sắp xếp ngạch quan; thật ra quyền hành và lương bổng đều thấp, không rõ ràng về mục tiêu cống hiến hay chính kiến các vấn đề xã hội trong quá trình chức nghiệp. Một nhà thơ trào phúng Việt Nam từng viết về các quan chức này: “Sáng vác ô đi, tối vác về”.

Từ Toàn quyền Đông Dương đến người dân trong khối, quyền hành chỉ thiết lập một chiều, mệnh lệnh và áp đặt. Người Việt Nam là chủ nhân vùng đất đã sinh sống hàng ngàn năm, lúc này trở thành bị lệ thuộc và không còn được quyết định các vấn đề. Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thế Anh đã đánh giá: “Chế độ bảo hộ theo đúng nghĩa của nó đã nhường chỗ từ lâu cho chế độ trực trị, và tổ chức hành chánh của Pháp đã choán chỗ của tổ chức hành chánh Việt Nam” [19]. Bộ máy hành chính của người Pháp đã “trực trị” như thế nào?

Về kinh tế, nền nông nghiệp lạc hậu, cố định và tĩnh lặng bị phá vỡ. Cùng với cây lúa nước và những thửa ruộng manh múm lâu đời, việc trồng cây các công nghiệp như chè, cà phê, cao su, thầu dầu… được mở rộng thành đồn điền ở những vùng bán sơn địa. Tuy vậy, vốn đầu tư vào nông nghiệp rất nhỏ so với đầu tư khai thác tài nguyên và một số kỹ nghệ. Việc tích tụ tài sản và của cải không chỉ ở địa chủ thuần nông mà xã hội bắt đầu xuất hiện kinh tế tư bản. Việt Nam trở thành nơi khai thác nhân công, tài nguyên khoáng sản, đồng thời là thị trường tiêu thụ hàng hóa Pháp mang đến. Pháp độc quyền xuất nhập khẩu, khai thác quặng mỏ, lập đồn điền, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính… Thuế chính thu có thuế điền thổ và thuế thân. Thuế gián thu áp dụng lên các phương tiện vận chuyển, đăng ký môn bài, cờ bạc, lưu trú. Ba mặt hàng muối, rượu, nha phiến cũng do chính phủ độc quyền mua bán với hệ thống quản lý rất chặt chẽ.

Về chính trị, như đã đề cập, Pháp lập ra khối Đông Dương thuộc Pháp, bổ nhiệm nhân sự từ Pháp sang nắm quyền cả khối đến các tỉnh thành. Đối với Việt Nam, giang sơn thống nhất thời Nguyễn Ánh bị chia thành ba kỳ với chính sách khác nhau, dưới sự bảo hộ của “mẫu quốc”. Năm 1904, Toàn quyền Đông Dương ban bố Nghị định tổ chức lại cơ quan và các chức vụ hành chính làng xã, chính thức loại bỏ bộ máy quản lý quân chủ. Trong xã hội, thuế thân rõ ràng là thứ thuế của thân phận dân tộc bị trị. Bên cạnh đa số nông dân lạc hậu, các tầng lớp, giai cấp mới như tiểu tư sản, công nhân, tiểu thương, trí thức… ra đời. Nhiều biểu hiện của một xã hội dân chủ dần thay thế cho thể chế quân chủ, nhưng cơ bản quyền tự quyết của dân tộc không còn. Quan chức Paul Mus người Pháp từng phát biểu rằng tất cả các quyền sinh hoạt chính trị và hành chính Việt Nam đã bị họ tịch thu!

Về giáo dục và văn hóa xã hội, năm 1905 ba bậc học phổ thông được áp dụng là: bậc tiểu học (primaire), bậc trung học (secondaire), bậc tú tài (secondaire-supérieure). Năm 1915, chế độ thi cử truyền thống bị bãi bỏ. Năm 1917, Hội đồng Tư vấn học chính Đông Dương thành lập, chính thức đào tạo quan chức theo ngạch mới. Nhiều trường phân ban dạy nghề lần lượt ra đời ở Hà Nội, Cao Bằng, Huế và nhiều nhất ở Nam Kỳ. Trường thực nghiệp cơ khí châu Á – Sài Gòn thành lập năm 1906 lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ. Thành phần trí thức theo nền tân học sử dụng tiếng Pháp và quốc ngữ cũng hình thành, làm cho nền Hán học bị thu hẹp. Tuy nhiên, đa phần người dân vẫn không được đi học. Một bộ phận thất học sa vào rượu cồn, thuốc phiện và tệ nạn xã hội. Các tôn giáo, nhất là Kitô giáo, sau thời kỳ bị nhà Nguyễn hạn chế, đến lúc này phát triển. Xã hội bắt đầu xuất hiện những hình thức sinh hoạt hiện đại. Thông tin báo chí, các quyền biểu tình hội họp, thành lập nghiệp đoàn, đòi hỏi chế độ lao động, quyền được đảm bảo an sinh, quyền sáng tác tự do… ngày càng được các tầng lớp và đảng phái ý thức. Ở một số thời kỳ, phong trào nổi dậy đòi dân chủ đã buộc chính quyền nhượng bộ.

Về ngoại giao, các vấn đề của Việt Nam cũng do Pháp quyết định. Trước hết, Pháp bỏ qua Hiệp ước Thiên Tân 1858 ký giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh. Triều đình Mãn Thanh một mặt thương thuyết với Pháp, mặt khác cho quân đội tranh chiếm các tỉnh dọc biên giới, trong khi Pháp chiếm vùng đồng bằng. Năm 1888, Hoa Kỳ đã mở cơ quan thương mại và lãnh sự quán ở Sài Gòn, tạo điều kiện cho hàng chục lượt tàu buôn cập bến. Năm 1921, một đoàn các nhà kinh doanh Hoa Kỳ sang nghiên cứu thị trường Đông Dương, nhưng gặp phản ứng của giới kinh doanh Pháp nên chỉ dừng lại ở trao đổi hàng hóa mà không đầu tư.

Giai tầng cơ bản trong xã hội

Nông dân là tầng lớp đông đảo nhất, chiếm gần 90% dân số. Đến cuối thời Nguyễn, nông thôn Việt Nam vẫn duy trì tình trạng địa chủ và thành phần cho vay nặng lãi bần cùng hóa cố nông. Khi xuất hiện chế độ thuộc địa, nền kinh tế tiền tệ manh nha càng làm cho nông dân khó khăn. Mọi vấn đề phải giải quyết bằng tiền mặt: ăn uống, sinh hoạt và mua sắm gia đình, phân bón, giống má, thuê cày cấy, trả xâu thuế, cùng nhiều chi phí cho các tập tục và thói quen khác thường thấy ở nông thôn. Ruộng đất ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ vốn chật hẹp lại đông dân nên bị chia cắt manh múm. Nhiều nông dân không có bất kỳ ruộng đất hay tư liệu sản xuất nào. Trong khi đó tính đến năm 1939, một số lượng lớn đất đai cả nước tích tụ trong tay khoảng 7.000 đại điền chủ người Pháp và Việt. Ngày nay, đọc lại các truyện “Chí Phèo” (Nam Cao) hay “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố) đều thấy phản ánh đáng buồn hiện thực nông thôn thời kỳ này.

Về tư sản dân tộc, sau cuộc vận động Duy Tân của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, những thương gia Việt Nam đầu tiên lập ra các hội kinh doanh. Các đại lý, cửa hàng giao dịch, hãng buôn đồng thời cũng gắn liền với các xưởng sản xuất chế biến theo mô hình sản xuất – phân phối độc lập, độc quyền. Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, tư bản Pháp đầu tư vào Việt Nam, khiến tầng lớp tư sản mới hình thành trong nước không thể cạnh tranh ngang sức. Hãng tàu biển chở khách của ông Bạch Thái Bưởi với khoảng 3.000 công nhân làm việc, năm 1924 phải bán tất cả tàu thuyền lại cho hãng Sauvage của Pháp. Hãng sơn Résistanco trước đó có ưu thế lớn, nhưng đến năm 1928 do có đạo luật đánh thuế nặng lên các mặt hàng nhập vào Việt Nam, cũng chấp nhận mua lại nguyên liệu và lệ thuộc một hãng sơn của người Pháp.

Tư sản Việt Nam hình thành nhưng không có điều kiện thuận lợi vượt lên trên những biện pháp hạn chế của người Pháp. Vốn đầu tư, quy mô công nghiệp và thương mại chỉ ở mức tiểu nhược, thậm chí còn phải lệ thuộc nhiều mặt. Gần 130.000 cơ sở và hãng buôn có được đến năm 1938 ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ với phần lớn mức đăng ký môn bài không cao cho thấy mức độ yếu kém và quy mô nhỏ hẹp của các nhà tư sản trong nước. Mặt khác, về đời sống tư tưởng và tinh thần, giai cấp tư sản Việt Nam cũng chuyển đổi mạnh mẽ sang ảnh hưởng nền giáo dục phương Tây, bắt đầu có tiếng nói đòi hỏi tự do dân chủ và bảo vệ quyền lợi dân tộc trên báo chí thời bấy giờ.

Thật phiến diện nếu chỉ xét tầng lớp tri thức Việt Nam trong bộ máy hành chính Pháp và hình ảnh “vác ô” mang tính châm biếm. Hầu hết trí thức là sĩ phu, quan chức triều Nguyễn được đào tạo theo Nho giáo. Trong số này, tư tưởng và quan điểm có nhiều chia cắt do thời cuộc. Có người cáo quan lui về ẩn dật với “một cuốc một cần câu”. Có người vẫn tiếp tục tại chức nhưng lại thoát khỏi xã hội đầy biến động và mong kiếp sau được “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Có những quan tướng triều đình trấn giữ các vùng đã cùng nhân dân kháng lệnh, kiên quyết chống Pháp, trở thành tấm gương sáng chói trong lịch sử. Những sĩ phu khác tiếp tục nhiệm vụ và có nhiều đóng góp cho dân tộc ở những mức độ, hình thức và lĩnh vực khác nhau như Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh…

Không ít sĩ phu đứng ra vận động nhân dân đấu tranh, khởi xướng đổi mới. Đó là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và Nguyễn Thành năm 1906 đưa học sinh Việt Nam sang học tại Nhật. Đó là cuộc vận động Duy Tân của Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp nhằm nâng cao dân trí. Đó là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền khởi xướng, tập trung mở lớp không thu học phí, diễn thuyết, viết sách giáo khoa và ra báo chữ quốc ngữ, với những bài thơ văn, bài ca đầy giá trị: Hải ngoại huyết thư, Chiêu hồn nước, Á Tế Á, Thiết tiền ca… Đó là cuộc vận động chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 diễn ra đầu tiên tại Quảng Nam với khí thế của hàng loạt cuộc biểu tình lớn lần đầu phản đối cường hào, bao vây các phủ huyện, chất vấn và đưa ra yêu sách. Cuộc vận động lan rộng ra Thanh Hóa và vào đến Phú Yên. Chính quyền Pháp đã tiến hành đàn áp, xử tử sĩ phu Trần Thuyết, Ông Ích Đường và đày Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Châu Thượng Văn đi Lao Bảo, Côn Lôn… Những nhóm sĩ phu trí thức có thể chưa thống nhất nhau một số quan điểm nhưng vẫn liên kết và phối hợp, gặp nhau ở tinh thần quyết tâm chống Pháp, giành lại quyền tự chủ tự quyết cho dân tộc.

Công bằng mà nói, giáo dục là “trồng người”, tác động của nó thường ít biểu hiện tại chỗ. Nền giáo dục Pháp sau khi thay thế Nho học đã mở ra tại Việt Nam đất học văn minh hiện đại. Các trường ở Việt Nam là trung tâm đào tạo quan chức và trí thức cho cả Đông Dương. Xã hội Việt Nam sau này đón nhận hàng loạt tài năng nổi bật trong văn thơ, hội họa, âm nhạc, báo chí, kiến trúc, luật pháp, cả trong công cuộc canh nông, chăm sóc sức khỏe, mở mang đường sá và cơ sở hạ tầng… Lớp trí thức tại Việt Nam và du học ở Pháp trở về có nhiều cống hiến trong các đảng phái và bộ máy nhà nước qua các thể chế, thời kỳ… Trí thức vẫn giữ tinh thần tự cường bất khuất của dân tộc, trở thành tầng lớp quan trọng tham gia hoạt động chính trị, tác động lớn đến chuyển biến xã hội các giai đoạn lịch sử sau này.

Về công nhân, đây là tầng lớp xuất hiện từ khoảng năm 1890, sau khi sản xuất công nghiệp có mặt: những thợ thuyền ở các hải cảng, công ty vận tải, công nhân tập trung ở các nhà máy công xưởng, nhân công tuyển mộ ổn định, theo công đoạn sản xuất hay mùa vụ ở các đồn điền… Họ có nguồn gốc từ nông dân, vẫn giữ nhiều mối quan hệ với nông thôn. Trong 30 năm kể từ 1910, nhiều lao động nông thôn bỏ làng quê, gia nhập vào thành phần vô sản làm thuê kiếm sống ở nhiều nơi khác nhau. Một số lượng lớn lao động dịch chuyển từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào Nam khi những đồn điền trên các vùng đất đỏ bazan hình thành. Bazin là một mộ phu đồn điền hàng đầu vào thời kỳ này, trong năm 1927 đã tuyển đến 18.000 lao động.

Một thực tế là không ít các mộ phu, cai thầu, đốc công, cai thợ… bất chấp quy định của cấp trên, toàn quyền trừng phạt, đánh đập, cúp lương, sa thải công nhân. Giai cấp này vẫn bị kẹt trong “ốc đảo” riêng từng vùng mà chưa được đặt vào vị thế và môi trường lao động tư bản quốc tế. Cho nên công nhân Việt Nam cũng chưa đủ trình độ và đặc điểm như công nhân các nước Tây Âu được đề cập trong lý luận Marx và Engels. Chủ yếu họ bán sức bằng cơ bắp trong điều kiện tay nghề ít được quan tâm. Họ cũng tổ chức những cuộc đình công, biểu tình tự phát và chỉ dừng lại ở chỗ nhằm trực tiếp vào các chủ thuê mướn và quản lý, đòi hỏi quyền lợi cá nhân trước mắt hoặc nhóm trong phạm vi hẹp. Những cuộc biểu tình, đình công của họ do đó tác động không đáng kể trong việc làm chuyển biến hay quyết định thay đổi các chính sách xã hội áp dụng chung cho cả Đông Dương.

Khi phong trào Mặt trận Bình dân ở Pháp thắng lợi, chính sách cai trị đàn áp của người Pháp ở Việt Nam theo đó cũng được nới lỏng. Những nghị định của các Toàn quyền Đông Dương ban hành từ năm 1927 đến 1933 đều chứa đựng các nội dung: hạn chế thời gian làm việc từ 10 giờ xuống 8 giờ, chủ nhật là ngày nghỉ bắt buộc, phụ nữ và trẻ em không làm việc ca ba, điều kiện vệ sinh và an toàn lao động được quan tâm, bị tai nạn lao động phải được bồi thường thỏa đáng. Tinh thần nghị định được triển khai vào công nhân thông qua giới chủ, ít nhiều có cải thiện tình hình. Tuy nhiên, tổ chức nghiệp đoàn tự do đến lúc này vẫn chưa được phép thành lập.

Bấy giờ, trong xã hội xuất hiện Đảng Cộng sản. Đảng này cho rằng phong trào đình công biểu tình nói trên là kết quả của chủ trương “Vô sản hóa” do họ phát động. Đảng Cộng sản cổ vũ công nhân đấu tranh chủ yếu dựa vào thời thế. Lập luận loại bỏ tác động của phong trào Mặt trận Bình dân xuất hiện về sau này khi Đảng Cộng sản viết lại lịch sử, thể hiện chủ ý tranh công, chiếm ưu thế trên vũ đài chính trị. Thời ấy, Nguyễn Ái Quốc đào tạo được bao nhiêu chiến sĩ cộng sản tại Trung Quốc đưa về đủ để vận động cả xã hội Việt Nam rộng lớn? Tập hợp đông đảo nhất các giai tầng xã hội cùng chống Pháp giai đoạn này phải kể đến là Việt Nam Quốc dân Đảng. Gần đến năm 1940, công nhân Việt Nam vẫn còn ở số lượng khiêm tốn. Chúng ta cũng thấy lập luận cách này thêm lần nữa lặp lại khi phong trào Mặt trận Dân chủ cũng ở Pháp tác động tích cực đến phong trào công nhân Việt Nam giai đoạn 1936 – 1939, Đảng Cộng sản lại tự nhận đã vận động công nhân và các giai tầng xã hội giải phóng dân tộc, góp phần tiêu diệt phát xít, lập lại hòa bình thế giới.

Nhìn sang Nhật Bản

Vào thời kỳ chính sự trong nước rối ren, bế tắc và lệ thuộc, hãy nhìn sang Nhật Bản. Lúc này, Mạc Phủ cũng bế môn tỏa cảng như nhà Nguyễn, nhưng Hoa Kỳ gây sức ép buộc phải ký hiệp ước mở cửa thương cảng Simoda và Hadokate. Các tàu Anh, Pháp, Đức cũng có mặt. Theo người Nhật, áp lực trên xúc phạm tự do dân tộc, vì vậy nhân dân đã nổi lên chống lại Mạc Phủ thuộc dòng họ Tokugawa. Đầu năm 1867, nhân sự kiện Thiên Hoàng Hiếu Minh qua đời, các lãnh chúa phong kiến cùng giai cấp tư sản dẫn hàng ngàn samurai về Tokyo buộc chế độ Mạc Phủ chấm dứt quyền cai trị, tôn vinh Mutsuhito 15 tuổi thuộc dòng họ Thái Dương Thần Nữ (theo truyền thuyết Shinto) lên nối ngôi, trở thành vị Thiên Hoàng thứ 122 của nước Nhật.

Sáng suốt của Thiên Hoàng là đã tự nắm được toàn bộ tình hình đất nước, cải cách sâu rộng mọi mặt đời sống xã hội, kết nối nước Nhật với sức mạnh thời đại. Sau hai năm lên ngôi, ông đổi tên thành phố Edo (cơ quan trung ương của Chính quyền Mạc Phủ) thànhTokyo(Đông Kinh) và chuyển từKyotovề đóng đô tại đây (nơi diện tích lớn nhất, dân cư đông nhất, kinh tế phát triển nhất). Ông nhiều lần tự đi khắp các tỉnh thành tìm hiểu đời sống dân chúng. Chế độ Mạc Phủ đã chấm dứt nhưng ông vẫn sử dụng quý tộc cùng giai cấp tư sản, chia sẻ quyền lực cho cả hai giai tầng, đồng thời lấy samurai làm sức mạnh quân sự. Có thể điều này chỉ phù hợp với xã hội Nhật Bản, nhưng tư duy và sự lựa chọn phương pháp, lực lượng cách mạng này đã tránh đổ máu, đặt lợi ích và sự ổn định dân tộc lên hàng đầu.

Chủ trương canh tân đất nước của Thiên Hoàng tập trung ở ba điểm: đề cao giáo dục; độc lập văn hóa; trọng dụng nhân tài. Nhật hoàng cũng tuyên bố chính sách “Tứ dân bình đẳng” (võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân). Quyền tự do buôn bán được thiết lập, đồng Yên được thống nhất, đường sắt và cơ sở hạ tầng được xây dựng khắp nơi. Quản lý hành chính, pháp luật, giáo dục, quân sự… đều áp dụng theo kinh nghiệm phương Tây. Hàng loạt sinh viên ưu tú được cấp học bổng du học nên chỉ sau một thế hệ, việc nhìn nhận giá trị con người từ dòng dõi quý tộc đã chuyển thành đánh giá học vấn và năng lực. Có người cho rằng Hiến pháp 1889 theo thể chế quân chủ lập hiến cho thấy canh tân ở Nhật chưa triệt để. Thực ra, việc Thiên Hoàng vẫn quyết định quý tộc tham gia vào chính quyền và quân đội nhằm tránh hình thành lực lượng bất mãn chống đối. Thể chế, xét cho cùng chỉ là hình thức, còn lực lượng và định hướng phát triển mới là vấn đề quyết định.

Tuy nhiên, Thiên Hoàng lại có hạn chế cải cách chính trị. Khi lên ngôi, Thiên Hoàng dự kiến xây dựng thể chế nghị viện, nhưng do tư tưởng tôn sùng người đứng đầu đã khiến nền dân chủ bị thu hẹp. Vì thế mà các cuộc đấu tranh bùng nổ, các đảng phái đối lập ra đời như Đảng Ái quốc (Aikokuto) năm 1874 và Đảng Tự do (Jiyuto) năm 1881 đã huy động đông đảo dân chúng đòi tự do dân chủ, dẫn đến chính phủ phải ban hành Luật bầu cử quốc hội và tổng tuyển cử hạ viện.

Trong quá trình canh tân, một nhân vật trí thức nổi bật có tư tưởng tiến bộ nhất bấy giờ là Fukuzawa Yukichi. Ông mở đại học tư Keio Gijuku đầu tiên, viết hai tác phẩm: Văn minh luận khái lược Khuyến học. Để giữ gìn độc lập dân tộc, ông chủ trương cần phải hướng đến văn minh và xác định kẻ thù nguy hiểm nhất của nước Nhật “không phải là quân sự, mà là thương mại, không phải là vũ lực mà trí lực”. Vì thế, người Nhật phải thoát khỏi mối quan hệ đồng văn đồng chủng châu Á, hướng đến các giá trị và sức mạnh Đông – Tây toàn cầu, nâng cao dân trí, tiến tới học kịp phương Tây mọi mặt. Ông cũng đề nghị nhiệm vụ của những nhà lãnh đạo đất nước là phải hiệu triệu được tổng lực xã hội: “Làm cho đất nước tràn đầy không khí tự do độc lập, không phân biệt sang hèn, trên dưới, mỗi người gánh vác trách nhiệm quốc gia”.

Cuộc cải cách sâu rộng toàn xã hội của Mutsuhito đã để lại dấu ấn sâu đậm lên những trang sử cận đại, nước Nhật tự hào gọi đó là “Thời Thiên Hoàng Minh Trị”. Từ đó, Nhật Bản có thể chế dân chủ tiến bộ nhất so với các quốc gia châu Á. Trong khi cả châu Á còn ngủ mê hoặc cùng đường, người Nhật đã thức dậy, phóng tầm nhìn xuyên khỏi Đông – Bắc Á, liên kết ngay với sức mạnh phương Tây và nhanh chân khởi hành từ rất sớm. Điều đó tác động tích cực và khơi dậy được tinh thần tự lực tự cường dân tộc, hướng đến xã hội thịnh vượng. Không bao lâu, vua Rama IV ở Xiêm La, rồi Hồng Kông cũng ý thức và chấp nhận phương Tây. Riêng Việt Nam lại trở thành thuộc địa lâu dài và nặng nề nhất. Hơn thế nữa, trong những giai đoạn lịch sử về sau, chúng ta sẽ có dịp nhìn lại cuộc cách mạng Nhật Bản với tình hình Việt Nam.

 

Những anh hùng lãnh đạo kháng chiến

Trước khi các đảng phái chính trị ra đời, có rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các quan quân triều đình và nhân dân bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc được hun đúc ngàn đời nay. Nhiều tấm gương đã chiến đấu và tuẫn tiết oanh liệt. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Phan Đình Phùng…

 

 

Nguyễn Tri Phương

Ông quê ở tỉnh Thừa Thiên – Huế. Sau khi học hành đỗ đạt, con đường làm quan của ông nhiều thăng trầm. Năm 1840, ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ Nam Nghĩa với trọng trách bố phòng cửa biển Đà Nẵng, rồi được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc An Hà, Tổng đốc Long Tường, có công đánh bại quân Xiêm La và giữ ổn định biên giới trên bộ Đàng Trong. Năm 1853, ông nhận chức Kinh lược sứ Nam Kỳ trong công cuộc khai khẩn và lập đồn điền. Năm 1858, vua Tự Đức cử ông chỉ huy quân đội phòng thủ và ngăn chặn tàu chiến Pháp chiếm cảng Đà Nẵng. Quân Pháp phá hủy nhiều đồn lũy ven biển nhưng không vượt qua được hàng rào phòng thủ. Năm 1860, ông lại được cử đi chỉ huy quân sự vùng đất phía Nam, đã huy động gần 20.000 quân đóng ở nhiều nơi, củng cố và mở rộng thế trận. Ông cũng lập ra đại đồn Chí Hòa bao vây quân Pháp, nhưng đồn bị công phá.

Năm 1863, ông được triều đình cử ra Bắc dẹp các nhóm loạn quân cướp bóc. Qua nhiều mưu lược tiếp cận, nhóm quân Cờ Đen được thu phục, quay lại giúp triều đình đánh Pháp. Năm 1873, quân Pháp đưa yêu sách rồi gây áp lực, nhưng không khuất phục được ông, đã quyết định đánh chiếm thành Hà Nội. Cuộc chiến diễn ra cuối tháng 11-1873, cuối cùng quân Pháp cắm cờ chiến thắng lên vọng lâu thành. Hàng ngàn quân triều đình bị bắt, ông bị trọng thương, con trai là Nguyễn Lâm hy sinh. Quân y Pháp cứu chữa, nhưng ông từ chối: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa”. Ông tuyệt thực và mất ngày 20-12-1873, thi hài cha con được đưa về quê nhà và lập đền thờ. Cuộc đời của ông còn để lại dấu ấn chinh chiến nhiều vùng trên cả nước với tinh thần vì dân và tài năng chỉ huy quân sự đáng khâm phục.

Hoàng Diệu

Ông sinh ra trong một gia đình Nho giáo giàu truyền thống yêu nước ở Diên Phước (Điện Bàn, Quảng Nam). Năm 1848 ông đỗ cử nhân, đến năm 1851 được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri phủ Bình Định, sau đó chuyển đi quản lý các vùng ở Thừa Thiên, Bắc Giang, Nam Định, Bắc Ninh. Suốt 30 năm làm quan nhiều nơi, ông vẫn chính trực, liêm khiết, hết lòng vì triều đình, ra sức bình ổn cuộc sống dân cư. Vua Tự Đức từng khen: “Chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn”.

Năm 1879, ông được phong làm Tổng đốc, cai quản thành Hà Nội, tập trung lực lượng chuẩn bị chống Pháp. Ông nhiều lần dâng sớ xin triều đình viện quân nhưng không được đáp ứng. Bất chấp triều đình bất động, ông cùng nhiều tướng tài uống rượu hòa máu thề, chỉ huy quân dân quyết tử với Hà thành. Quân Pháp đưa tối hậu thư đòi ông dở bỏ phòng thủ, giải giới quân đội. Hoàng Diệu nhận tối hậu thư, lệnh Tôn Thất Bá đi điều đình nhưng Tôn Thất Bá trốn về phía giặc, mật báo kế hoạch phòng thủ nội thành.

Quân Pháp tấn công, gặp sự kháng cự có tổ chức và phối hợp chặt chẽ của quân dân, bị thiệt hại nặng nên dự tính rút lui. Nhưng lúc ấy kho thuốc súng trong thành bị bắt lửa, nổ và cháy lớn, quân Pháp phá được cổng phía Tây và tiến vào. Ngày 25-4-1882, trước tình thế lực lượng bất cân bằng, Hoàng Diệu lệnh cho tướng sỹ giải tán, riêng ông cắn tay lấy máu của mình viết di biểu để lại cho vua Tự Đức nhận cái chết chưa hoàn thành nhiệm vụ với đất nước, rồi treo cổ tự tử tại Võ Miếu. Sau này, giới sĩ phu và nhân dân Bắc Hà thương tiếc ông hy sinh, thờ ở đền Trung Liệt với câu đối:

Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần

                                                            còn thước đất

Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh”.

Nguyễn Trung Trực

Ông quê ở Phù Cát (Bình Định), di cư vào Nam ở Tân An (Long An), sống bằng nghề chài lưới ven sông Vàm Cỏ. Ông là người khỏe mạnh, tư chất thông minh, giỏi võ nghệ, can đảm và mưu lược. Năm 1859, Nguyễn Trung Trực trong đội quân đồn điền dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, tham gia phòng thủ đại đồn Chí Hòa. Năm 1861, đại đồn và thành Định Tường bị Pháp chiếm đóng, Nguyễn Trung Trực trở về Tân An. Tại đây, cùng một số quản binh triều đình, ông tổ chức trận đánh đốt cháy tiểu hạm Espérance (Hy Vọng) tuần tra trên sông, sách sử ghi nhận là trận “Lửa hồng Nhật Tảo. Sau chiến thắng này, ông còn tổ chức nhiều trận đánh ở Gia Định, Biên Hòa.

Năm 1862, theo Hòa ước Nhâm Tuất, triều đình giao ba tỉnh miền Đông cho quân Pháp cai quản. Ông được lệnh chuyển quân về miền Tây. Sau khi Hà Tiên bị Pháp tiếp tục lấn chiếm, triều đình lại lệnh ông chuyển quân về Bình Thuận. Lần này, ông chống lệnh, lập chiến khu chống Pháp ở tả ngạn sông Cái Lớn và Hòn Chông. Giữa năm 1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân chiếm được thành Kiên Giang, giết các sĩ quan và binh lính Pháp, thu nhiều vũ khí. Vài ngày sau, quân Pháp phản công, nghĩa quân lui quân về Hòn Chông, rồi lánh ra Phú Quốc.

Năm 1868, quân Pháp cử lãnh binh Tấn đưa quân ra Phú Quốc truy áp. Bị bao vây hàng tháng trong hẻm núi, để cứu mạng sống nhiều quân lính trung thành, Nguyễn Trung Trực phải ra hàng. Ông bị đưa về giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Cuối tháng 10-1868, quân Pháp hành hình Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Theo một số lời kể, các bô lão đến vĩnh biệt ông đã trải chiếc chiếu hoa có chữ “Thọ” để ông đứng vào. Ông hiên ngang, dõng dạc ngâm những dòng thơ khí phách. Nhắc đến anh hùng Nguyễn Trung Trực, mỗi người dân Việt đều nhớ đến câu nói của ông trước khi bị hành hình với tinh thần không bao giờ chịu khuất phục: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

 

Trương Định

Ông là người ở phủ Bình Sơn (Quảng Ngãi). Năm 1844, ông theo gia đình vào Nam, về sau lập ra đồn điền ở Gia Thuận (Gò Công). Đầu năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định, ông đứng ra chiêu tập binh lính, đóng quân ở Thuận Kiều, chỉ huy nhiều trận đánh. Năm 1861, Pháp lại tấn công Gia Định, ông tiếp tục mộ binh đồn điền, phối hợp với quân của Nguyễn Tri Phương chống trả. Về sau, ông lui quân về Gia Định – Định Tường, củng cố và phát triển lực lượng, tiếp tục mở nhiều trận đánh từ Gò Công đến gần biên giới Campuchia. Năm 1862, sau sự kiện Pháp chiếm Biên Hòa, Trương Định tiếp tục kêu gọi khởi nghĩa, đón nhận hàng ngàn người tham gia.

Vào giữa năm này, sau khi ký hòa ước với Pháp, triều đình lệnh Trương Định chuyển quân ra Phú Yên. Quân Pháp gửi ông bức thư dụ hàng. Ông đã phản bác với tuyên bố: “Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ tổ quốc chúng ta”. Dân chúng ủng hộ, tôn ông là Bình Tây Đại Nguyên Soái. Cuối năm, Trương Định mở những trận đánh lớn và chiến thắng ở miền Đông Nam bộ. Đầu năm sau, quân Pháp bao vây căn cứ, nhưng nghĩa quân đã thoát khỏi và kéo về Biên Hòa. Quân Pháp tiếp tục truy quét, đến năm 1864 triệt tiêu được chiến khu “Đám lá tối trời”. Trương Định bị trọng thương và tự sát tại Gò Công. Trong sáu năm sau đó, con trai của ông là Trương Quyền nối nghiệp cha, rút quân lên Châu Đốc tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyễn Thiện Thuật

Ông quê ở tỉnh Hưng Yên. Năm 1876, ông thi đỗ cử nhân, được bổ nhiệm giữ chức Tán tương Quân vụ ở tỉnh Hải Dương, nên còn gọi là Tán Thuật. Dưới áp lực của Pháp, triều Nguyễn buộc ông giải tán quân lính. Nguyễn Thiện Thuật kháng lệnh, về Đông Triều mộ binh, hợp lực với các nhóm quân và tuyển được nhiều tướng tài. Cuối năm 1883, sau Hòa ước Harmand, nhà Nguyễn lại lệnh bãi binh đợi chỉ dụ, Nguyễn Thiện Thuật vẫn không tuân theo, dẫn quân lên Tuyên Quang. Sau khi các thành ở Hưng Hóa và Lạng Sơn thất thủ, ông tránh sang Long Châu (Trung Quốc).

Tháng 7-1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, Nguyễn Thiện Thuật về nước hưởng ứng, lập ra căn cứ Bãi Sậy. Ông cho đào nhiều hầm hào, dựa vào địa hình lau sậy rậm rạp điều quân và đặt cạm bẫy. Ông còn liên kết với các nhóm nghĩa binh của Tạ Hiển ở Thái Bình, Đốc Tít và Nguyễn Đức Hiếu ở Đông Triều, Lãnh Giang và Hai Kế ở Bắc Ninh. Tháng 9-1885, quân Bãi Sậy đánh phá các vùng bên kia sông Hồng, tấn công thành Hải Dương. Tháng sau, quân Pháp phản công. Ông lệnh cho các cánh quân bên ngoài đánh chặn, bên trong căn cứ bày trận địa mai phục. Quân Pháp kéo vào Bãi Sậy, bị nghĩa quân dùng súng và dao tấu tấn công quyết liệt, nhiều lính chết, chỉ huy bỏ chạy, căn cứ vẫn được giữ vững.

Đầu năm 1888, nghĩa quân tấn công đồn Ghênh, giết 21 lính. Cuối năm, quân Pháp đến cắt lúa các cánh đồng ở Liêu Xá nhằm chặn phá nguồn lương thực nuôi nghĩa quân. Biết trước tin này, hàng trăm nghĩa quân ra ngoài giấu súng, giả dạng phu gặt. Bất ngờ, quân Bãi Sậy nổ súng, giết chết 31 lính, trong đó có hai chỉ huy. Giữa năm 1889, Thống sứ Bắc Kỳ lập ra đội quân Tuần cảnh giao chiến với quân Bãi Sậy tám tháng liền, vẫn thất bại. Các viên quản lính, giám binh là Leglée, Escot, Montillon, Desmot, Lambeet đều chết và bị thương. Quân Pháp khâm phục gọi Nguyễn Thiện Thuật là vua Bãi Sậy”.

Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt và bị lưu đày sang châu Phi, phong trào Cần Vương suy yếu. Quân Pháp thiết lập nhiều đồn bao vây quanh Bãi Sậy và bày mưu gửi thư chiêu dụ. Ông viết thư trả lời: “Bất khẳng thụ chỉ” (Không chịu nhận chỉ). Đến năm 1892, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chấm dứt. Nguyễn Thiện Thuật lại sang Trung Quốc tìm kiếm điều kiện khởi nghĩa và mất vào năm 1926.

 

Hoàng Hoa Thám

Ông quê ở Tiên Lữ (Hưng Yên), sau chuyển đến sống ở Yên Thế (Bắc Giang). Tháng 3-1884, ông gia nhập nghĩa quân lãnh binh Trần Quang Loan chống Pháp ở Bắc Ninh. Năm sau, ông tham gia khởi nghĩa, đứng dưới trướng Đề Nắm như một tướng tài. Năm 1892, ông trở thành thủ lĩnh của phong trào với danh tiếng “Hùm thiêng Yên Thế”. Ông đã lãnh đạo nhân dân chống Pháp hàng chục năm với nhiều trận đánh lớn. Năm 1893, quân Pháp tập trung lực lượng và dùng mọi thủ đoạn quyết triệt hạ nghĩa quân. Với chiến thuật lấy yếu thắng mạnh, dựa vào núi rừng Yên Thế, ông đã gây cho đối phương nhiều tổn thất, đồng thời vẫn bảo vệ được lực lượng.

Năm 1894, quân Pháp giả vờ chủ hòa, hứa cắt đất bốn tổng giao cho nghĩa quân. Chưa đầy năm sau, Pháp treo giải thưởng bằng số tiền lớn cho ai bắt được Đề Thám, cùng với mở cuộc tấn công toàn lực. Lần này quân Pháp cũng thất bại, lại tiếp tục bày ra hòa giải. Từ năm 1897 đến 1909, nghĩa quân Yên Thế mở rộng địa bàn hoạt động xuống đồng bằng, lập ra Đảng Nghĩa Hưng và tổ chức Trung Chân ứng nghĩa đạo.

Hoàng Hoa Thám còn liên kết với binh lính ở Hà Nội tiến hành vụ “Hà Thành đầu độc” giữa năm 1908 gây tiếng vang cả nước, xây dựng căn cứ kháng chiến mới, gặp mặt bàn chuyện kháng chiến cứu quốc với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên… Đầu năm 1909, Thống sứ Bắc Kỳ huy động trên 15.000 quân tổng tấn công vào căn cứ địa Yên Thế. Đề Thám chỉ huy đánh trả rồi rút lui về Tam Đảo. Tháng 2-1913, một số kẻ đã tìm cách tiếp cận, giết chết Đề Thám cùng hai thuộc hạ trung thành, mang thủ cấp giao nộp cho Pháp đem bêu ở chợ Bắc Ninh.

Phan Đình Phùng

Ông là người Hà Tĩnh, thuộc gia đình Nho học. Năm 1876, ông đỗ cử nhân, năm sau đỗ tiến sĩ và được bổ làm Tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình). Ông cũng được điều về triều đình Huế, nhận chức Ngự sử Đô sát Viện, là một vị quan cương trực, ngay thẳng. Năm 1885, ông đứng ra chiêu tập nghĩa binh từ Thanh Hóa vào Quảng Bình, liên kết với Tôn Thất Thuyết chống Pháp. Căn cứ nghĩa quân đặt ở Hương Sơn. Các tướng lĩnh có Phan Trọng Mưu, Phan Quảng, Cao Thắng, Nguyễn Trạch, Phan Đình Phong, Phan Đình Can… Nghĩa quân được tổ chức thành 15 quân thứ chính quy, kỷ luật nghiêm, phối hợp chính xác, huấn luyện và trang bị tốt, tác chiến bài bản và sáng tạo. Trong hàng tướng lĩnh có Cao Thắng tự chế được rất nhiều súng trường kiểu 1874 của Pháp.

Cuộc khởi nghĩa diễn ra trong suốt mười năm. Dưới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng, nhiều trận đánh đã khiến quân Pháp tổn thất đáng kể. Tháng 9-1888, kẻ trá hàng làm phản chỉ cho quân Pháp bắt vua Hàm Nghi, đã bị Phan Đình Phùng bắt và xử chém. Trong trận Vụ Quang năm 1894, quân Pháp thất bại nặng nề. Sau nhiều lần không thể tiêu diệt căn cứ, quân Pháp chuyển sang dụ dỗ mua chuộc, dùng bạn chí thân viết thư khuyên ông nên hàng, rồi quật mồ mả tổ tiên và bắt giam người thân trong gia tộc… Tuy nhiên, Phan Đình Phùng vẫn vững vàng và kiên định chỉ huy khởi nghĩa.

Năm 1894, quân Pháp điều 3.000 lính đến Hương Khê bao vây, cắt đứt đường tiếp vận vũ khí và lương thực, gây cho nghĩa quân nhiều khó khăn. Cuối năm, Phan Đình Phùng mở trận đánh lớn, nhiều quân Pháp bị tử trận và mất vũ khí, tuy nhiên vẫn không đảo ngược được tình thế. Vòng vây của quân Pháp thu hẹp, trong lúc Phan Đình Phùng bị bệnh qua đời cuối tháng 12-1895, thi hài chôn cất dưới chân núi Quạt. Quân Pháp chiếm căn cứ, đã quật mồ của ông, đốt thi hài trộn vào thuốc súng, bắn ra sông La. 23 chỉ huy dưới trướng Phan Đình Phùng cũng bị xử tử. Cuộc khởi nghĩa Hương Khê tan rã đánh dấu kết thúc nỗ lực của tầng lớp sĩ phu huy động nhân dân khắp các vùng đoàn kết chống Pháp trong thời gian dài.

Đảng phái và phong trào yêu nước

 

Đảng Lập hiến Đông Dương

Thành lập năm 1923 tại Sài Gòn, do ông Bùi Quang Chiêu đứng đầu. Mục tiêu của Đảng là đấu tranh ôn hòa, giành quyền lợi kinh tế từ Hoa kiều lại cho người Việt, lấy canh tân tích lũy nội lực để đi đến tự do độc lập, cơ quan ngôn luận của là tờ báo Tribune Indigène. Do không kịp thời hướng đến khối đông người lao động, lại có tư tưởng bài Hoa, đấu tranh thỏa hiệp, đảng viên là công chức lệ thuộc đồng lương chính quyền, báo chí bằng lại tiếng Pháp… nên Đảng Lập hiến Đông Dương đã bị chính quyền khống chế trong khuôn khổ.

Việt Nam Quang phục Hội

Thành lập sau cuộc Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc, trụ sở ở Quảng Châu. Tổng hội là Kỳ ngoại hầu Cường Để, Phan Bội Châu là phó hội kiêm phụ trách miền Trung, Nguyễn Thượng Hiền phụ trách phía Bắc, Nguyễn Thần Hiến phụ trách miền Nam. Hội chủ trương đấu tranh bạo động. Năm 1924, Phạm Hồng Thái trong vai ký giả đột nhập vào khách sạn Victoriaở Quảng Châu, đặt bom ám sát Toàn quyền Martiatal Henry Merlin, nhưng thất bại. Sau khi tổ chức Tâm Tâm xã ra đời, số lượng hội viên của Việt Nam Quang phục Hội thu hẹp dần. Năm 1925, Phan Bội Châu bị Pháp bắt tại Trung Quốc, hội cũng từ đó giải tán.

Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội

Ra đời năm 1925 tại Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Tiền thân của hội là tổ chức Tâm Tâm Xã, kêu gọi thợ thuyền, dân cày, binh lính… liên hiệp lại theo chủ trương Quốc tế cộng sản đánh đổ thực dân phong kiến, lập chính quyền mới và tiến lên CNCS, thế giới đại đồng. Cơ quan ngôn luận là báo Thanh Niên, tài liệu bồi dưỡng chính trị là các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc về sau tập hợp thành tác phẩm “Đường cách mệnh”. Hội tổ chức các lớp huấn luyện đường lối, phát động phong trào “Vô sản hóa” và lập các cơ sở hội. Năm 1929, hội lập ra tổng bộ gồm sáu ủy viên và dự kiến thành lập Đảng Cộng sản năm sau.

Việt Nam Quốc dân Đảng

Do Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính… đứng đầu thành lập năm 1927. Mục tiêu là phát động cách mạng vũ trang đánh đổ thực dân phong kiến, lập ra nước Việt Nam độc lập theo thể chế cộng hòa. Đầu năm 1929, Việt Nam Quốc dân Đảng thu hút hàng nghìn đảng viên từ nhiều thành phần, tầng lớp xã hội. Tuy nhiên, cũng ngay từ đầu chính quyền Pháp đã đưa nội gián vào tổ chức này, nên nhiều đảng viên bị bắt, khởi nghĩa ở Yên Bái và nhiều nơi bị dập tắt. Nguyễn Thái Học và 12 lãnh đạo cốt cán bị Pháp đưa lên đoạn đầu đài tại pháp trường Yên Bái giữa tháng 6-1930. Các đảng viên và cơ sở rút vào bí mật, số khác phải lánh sang Trung Quốc. Sau năm 1954, những cơ sở còn lại ở phía Bắc chuyển vào miền Nam hoạt động.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam

Ra đời sau thời gian hoạt động của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội lập ra một số tổ chức cộng sản trong nước: Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, An Nam Cộng sản Đảng. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập các đại biểu đến Cửu Long (Hương Cảng) tổ chức hội nghị hợp nhất, sau này lấy ngày 3-2-1930 làm ngày thành lập. Đường lối của Đảng là cách mạng dân quyền, đánh đổ đế quốc phong kiến, tiến lên CNCS. Lực lượng chính của cách mạng là liên minh công – nông. Hai tháng sau khi hợp nhất, Quốc tế cộng sản kết nạp tổ chức này vào cuộc đấu tranh vô sản thế giới.

Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh)

Do Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần đứng ra xin chính quyền Trung Quốc thành lập ở Nam Kinh năm 1936. Cơ quan ngôn luận là báo Việt Thanh. Năm 1940, Biện sự xứ hải ngoại Việt Minh thành lập ở Quế Lâm, Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm. Khi Nguyễn Ái Quốc có mặt tại đây, nhận thấy tên gọi Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội thiết thực và phù hợp nguyện vọng nhân dân, nên có ý dùng tổ chức này áp dụng cho cách mạng trong nước. Năm 1941, ông về Cao Bằng xây dựng các đoàn thể cứu quốc và tiến tới ra mắt Việt Minh. Việt Minh hoạt động qua nhiều thời kỳ, cho đến khi miền Bắc hoàn toàn do Đảng Cộng sản lãnh đạo sau chiến thắng ở Điện Biên Phủ.

Đại Việt Quốc dân Đảng (Đảng Đại Việt)

Do Trương Tử Anh thành lập tháng 12-1939, lấy quyền lợi dân tộc làm mục đích đấu tranh. Năm 1944, Đảng chủ trương liên kết với Đại Việt Quốc xã, Đại Việt Duy dân, Đại Việt Dân chính Đảng, lập ra Đại Việt Quốc gia Liên minh. Tháng 9-1945, Hồ Chí Minh chỉ đạo Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh giải thể Đại Việt Quốc dân Đảng, nên tổ chức này chống lại Việt Minh. Tháng 12-1945, đại diện Đảng Đại Việt gặp Việt Quốc và Đại Việt Dân chính Đảng lập ra Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam. Tháng 12-1946, lãnh đạo Đảng là Trương Tử Anh tuyệt tích (có tin cho rằng ông Trương Tử Anh bị bắt và đã bị sát hại ở Phú Thọ cùng lúc với ông Lê Khang, một cán bộ cao cấp của Việt Nam Quốc dân Đảng. Lúc này, Ngô Đình Khôi là anh ruột Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh cũng bị giết chết. Đến 1954, Đảng tan rã, một bộ phận còn lại chuyển vào miền Nam).

 

Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách)

Thành lập tháng 10-1942 tại Liễu Châu, Trung Quốc. Lãnh đạo Đảng có Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh. Phía Trung Hoa Dân Quốc cử tướng quân khu là Hầu Chí Minh làm đại biểu chỉ đạo. Tháng 3-1945, Việt Cách được phía Trung Quốc giao chỉ huy “Lữ đoàn hành động” mở đường cho quân Tưởng vào Việt Nam. Tháng 11-1945, cùng với Việt Quốc, Việt Cách tham gia vào Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Sau thời điểm quân Tưởng rút đi, Việt Cách trong nước tan rã.

 

Đảng Dân Chủ Việt Nam

Thành lập năm 1944. Trước đó không lâu, một hội nghị các đảng phái trong nước tổ chức ở Trung Quốc, có đại diện Chính quyền Tưởng Giới Thạch tham gia. Để tranh thủ lực lượng, Đảng Cộng sản giúp các nhân sĩ, trí thức, sinh viên, tư sản dân tộc… tập hợp lại và thành lập Đảng Dân Chủ Việt Nam. Khi Đảng Cộng sản tạm thời giải thể, đây là đảng chính trị được công nhận là một “chính đảng của tư sản dân tộc, và trí thức yêu nước tiến bộ”. Tham gia trong Mặt trận Việt Minh, Đảng Dân Chủ tích cực góp phần củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc chống Pháp. Sau 1945, Đảng Dân Chủ vẫn tiếp tục tồn tại song song với Đảng Cộng sản.

 

Đảng Xã hội Việt Nam

Thành lập năm 1946, do ông Nguyễn Xiển làm Phó Tổng Thư ký, cũng ra đời từ chủ trương của Việt Minh nhằm tập hợp đoàn kết trí thức yêu nước. Cùng với Đảng Dân Chủ Việt Nam, cả hai đảng phái đều tồn tại và hoạt động song song với Đảng Cộng sản trong thời gian dài, qua nhiều giai đoạn lịch sử dân tộc.

Ngoài ra, còn có một số tổ chức đảng phái và hội đoàn khác của người Việt trong và ngoài nước, tuy nhiên quy mô và mức độ ảnh hưởng không lớn. Trong xã hội đa đảng ấy, các đảng phái đều có tinh thần chung là gắn với truyền thống yêu nước. Không có bất kỳ tổ chức nào quay lưng lại với công cuộc kháng chiến vì dân tộc. Mỗi đảng phái, hội đoàn cụ thể có phương pháp và lực lượng cách mạng riêng. Có đảng xác định cách mạng là bạo động, nhưng cũng có đảng tránh đổ máu và chú trọng đến phát triển nhân sĩ trí thức, nâng cao dân trí. Có đảng chú trọng sự giúp đỡ bên ngoài từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp. Có đảng chủ trương thể chế quân chủ lập hiến. Chịu tổn thất hy sinh nội bộ nhiều nhất là Việt Nam Quốc dân Đảng. Vận động các tầng lớp nhân dân đấu tranh và hy sinh nhiều nhất là Đảng Cộng sản. Về sau, cùng với đấu tranh vì quyền lợi dân tộc, một số đảng đã biểu hiện tranh giành lôi kéo lực lượng, bị sự tác động bên ngoài dẫn đến mâu thuẫn, đối lập. Thậm chí trong một đảng cũng có hiện tượng tiêu diệt lẫn nhau giữa các xu hướng tả và hữu khuynh như cuộc thanh trừng “tả khuynh” tại xứ ủy Trung Kỳ năm 1931 trong Đảng Cộng sản.

Do vị trí địa lý gần nhau và có nhiều cộng hưởng trong lịch sử, các đảng hầu hết liên quan đến Trung Quốc, nhất là những thời điểm tránh khủng bố trong nước. Trước tình hình đó, Trung Quốc có sự giúp đỡ, đồng thời cũng ý định sử dụng các lực lượng này khi cần thôn tính. Ngược lại, lãnh đạo các đảng phái cũng nhận thấy rất rõ sự giúp đỡ “nhất cử lưỡng tiện” ấy, nên cảnh giác và hoạt động độc lập.

Trong các đảng, duy nhất Đảng Cộng sản gắn với Quốc tế cộng sản, cho nên cùng với ngọn cờ độc lập dân tộc, còn giương thêm ngọn cờ CNXH. Câu hỏi đặt ra là vì sao tất cả các đảng phái khác không chọn Quốc tế cộng sản? Phải chăng chỉ có Hồ Chí Minh mới tiếp cận được qua chuyến đi “tìm đường cứu nước”, trong khi không ít nhà yêu nước trước đó cũng bôn ba khắp nơi? Vì sao càng về sau, xã hội đa đảng ban đầu của Việt Nam chỉ còn lại Đảng Cộng sản đưa ra kết tội một cách thiếu căn cứ rằng phần lớn các đảng phái khác là “thù trong” cấu kết với “giặc ngoài” ? Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản phát động phải chăng đã đánh đổi bằng quá nhiều máu xương, để kết cuộc vẫn đi vào bế tắc? Chúng ta sẽ có dịp trả lời rõ các câu hỏi này bằng thực tế lịch sử các chặng đường sau.

Những nhà cách mạng tiêu biểu

 

Phan Bội Châu

Ông tên thật là Phan Văn San, sinh năm 1867 ở Nghệ An. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, thuộc nhiều kinh sử. Sau khi thi đỗ, ông cộng tác với triều Nguyễn, đồng thời kết thân với các chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế, Hồ Sĩ Kiện… Ông cũng mời Cường Để thuộc dòng họ triều Nguyễn đứng đầu phong trào Cần Vương của nhóm mình, cùng 20 chí sĩ lập ra Hội Duy Tân. Khi sang Trung Quốc, gặp Lương Khải Siêu, thơ văn của ông như được tiếp thêm sức mạnh.

Ông chủ trương Đông Du, lập ra Việt Nam Hiến Hội ở Nhật gồm 100 du học sinh người Việt. Trong nước, ông cũng tham gia lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhưng những nỗ lực trên đã bị nhà cầm quyền ngăn cản. Ông cũng bị buộc tội phát động biểu tình chống thuế ở miền Trung. Trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc, ông thành lập Việt Nam Quang phục Hội tại Quảng Châu. Chính quyền Pháp đã liên kết với Trung Quốc bắt giam ông đến năm 1917. Năm 1924, ông cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng. Nguyễn Ái Quốc đã đến gặp ông, trao đổi về đường lối cách mạng vô sản.

Giữa năm sau, ông bị Pháp bắt tại Hàng Châu, đưa về Hà Nội xử tù chung thân. Sau đó, bản án được giảm thành quản thúc và ông bị đưa về Huế làm “Ông già Bến Ngự” đến khi mất. Phan Bội Châu thời trẻ thôi thúc thanh niên cứu nước với quyết tâm:

“Mũi tên dồn hết tâm thành

Bắn vào đá cứng tan tành như chơi”.

Cuối đời, ông nhận ra: “Đời tôi trăm lần lần thất bại, chưa đổi lấy được một thành công”. Nhưng tinh thần yêu nước thương dân mà Phan Bội Châu theo đuổi cả cuộc đời còn để lại niềm kính phục lớn lao trong các thế hệ Việt Nam.

 

Phan Chu Trinh

Ông sinh năm 1872 ở Quảng Nam. Năm 1900, ông thi lần đầu đỗ cử nhân, năm sau đỗ phó bảng và được cử làm Thừa biện Bộ Lễ. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước, tâm đắc về nhiệt huyết cứu nước của Phan Bội Châu, nhưng không tán thành lấy danh nghĩa chế độ phong kiến, dựa vào Nhật và bạo động vũ trang. Trao đổi với Phan Bội Châu tại Nhật, ông đặt câu hỏi: “Từ thế kỷ 19 về sau, các nước tranh nhau ngày càng dữ dội, tính mạng một nước gửi trong tay một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ.”

Ông từng dạy trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội và tổ chức nhiều buổi diễn thuyết trên cả nước thu hút đông đảo người dự nghe. Năm 1906, ông viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương tố cáo cách cai trị chỉ biết vơ vét bóc lột mà không mở rộng dân chủ dân trí, làm cho người Việt ngày càng bất mãn. Ông đưa ra đề nghị phải cải cách xã hội. Năm 1908, ông gửi đến Tổ chức Liên minh Nhân quyền thế giới bản điều trần về sưu cao thuế nặng ở Trung Kỳ. Trong tác phẩm “Pháp – Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”, ông cho rằng người Pháp không thể tiếp tục cô lập mà phải đánh giá lại quá khứ cai trị để nhận ra thiếu khuyết, từ đó tạo xu thế phát triển mới liên kết Việt Nam cùng thế giới.

Chính quyền Pháp theo dõi những việc làm trên, bắt ông đày ra Côn Đảo. Hai năm sau, nhờ có Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do. Năm 1911, trong một đoàn giáo dục sang Pháp, ông liên hệ với Tổ chức Liên minh nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp, tiếp xúc các nhóm Việt kiều và tham gia thảo luận về độc lập, tự do, dân chủ. Năm 1914, ông lại bị bắt giam. Nhờ can thiệp của Đảng Xã hội Pháp, ông lại được thả ra.

Giữa năm 1919, ông cùng Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi cho Hội nghị Versailles với tám điểm: tổng ân xá cho tất cả tù chính trị bản xứ; cải cách pháp lý để người bản xứ cũng được hưởng những giá trị như người châu Âu và xóa bỏ tòa án đặc biệt; tự do báo chí và ngôn luận; tự do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài hay xuất ngoại; tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp; thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra đạo luật; người bản xứ được bầu đoàn đại biểu thường trực tại Nghị viện Pháp. Nhóm này lấy tên chung là Nguyễn Ái Quốc ký vào bản yêu sách và gửi đi.

Năm 1922, nhân vua Khải Định sang Pháp, ông viết “Thất điều thư” vạch bảy tội đáng chém ở Khải Định và khuyên vua về nước gấp, không làm nhục thêm quốc thể. Theo ông, để khôi phục chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, phải thực hiện: Khai dân trí (cải cách giáo dục, học theo nội dung hiện đại và thiết thực), Chấn dân khí (thức tỉnh cơn mê, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tự giải phóng mình), Hậu dân sinh (phát triển đời sống mọi mặt).

Năm 1925, trong một hội nghị thanh niên ở Sài Gòn, ông cho rằng không nước nào có thể đi ngược lại với phong trào dân chủ đang diễn ra trên toàn thế giới. Ông chỉ ra: “Dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc Nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do muốn bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả. Chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi”.

 

Hồ Chí Minh

Ông tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh năm 1890 ở Nghệ An. Năm 1911, ông vào Sài Gòn và xin làm nghề phụ bếp trên tàu Latouche Tréville sang Pháp. Tài liệu lưu trữ tại Pháp cho thấy giữa tháng 9-1911, Nguyễn Tất Thành viết thư gửi Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, xin ban cho ân huệ được vào học Trường Thuộc địa Paris, nơi đào tạo quan chức cai trị và bổ nhiệm đến các thuộc địa, trong đó có Ðông Dương. Thư thỉnh nguyện bị từ chối (ngày nay nhiều nhà khảo cứu lịch sử cũng đặt trường hợp diễn biến tiếp theo sẽ như thế nào nếu thư được chấp nhận).

Giữa năm 1919, như đã nêu nhân dịp tham gia cùng nhóm Phan Chu Trinh viết bản yêu sách tám điểm, ông lấy tên Nguyễn Ái Quốc là tên chung của nhóm đề nghị bản yêu sách tám điểm gửi cho Hội nghị Versailles làm tên riêng cho các hoạt động chính trị của mình. Năm 1920, ông tiếp xúc với  “Luận cương các vấn đề về dân tộc và thuộc địa” của Lenin. Năm 1923, ông đến học tại Đại học phương Đông ở Liên Xô, rồi về Trung Quốc lập ra “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”, chủ trì gặp mặt đại diện các tổ chức cộng sản trong nước lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đầu năm 1941, ông về Cao Bằng, mở lớp huấn luyện, thành lập “Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội”, lấy theo tên gọi của một tổ chức do Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần thành lập hợp pháp và hoạt động công khai ở Trung Quốc. Tháng 8-1942, ông lấy tên Hồ Chí Minh, lập ra Hội Quốc tế phản xâm lược Việt Nam, nhằm tìm kiếm sự ủng hộ từ bên ngoài. Tháng 9-1944, ông lập ra Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Thời gian này ông chủ trương đồng minh với người Mỹ. Tháng 8-1945, ông lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng. Khi Việt Minh cướp chính quyền, ông từ Cao Bằng về Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Đầu năm 1946, tổng tuyển cử cả nước bầu quốc hội và ông trúng cử, giữ chức vụ Chủ tịch nước. Lúc này, nạn đói xảy ra, ngân khố trống không, người dân đa phần mù chữ, nhiều đảng phái phân tán quyền lực. Lại thêm quân Tưởng Giới Thạch, Pháp – Anh và Nhật cùng lúc có mặt phân tán quyền lực.

Ông nhận thức tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” và mềm dẻo ngoại giao nhưng đồng thời vẫn giữ mục tiêu của Đảng Cộng sản. Khi xuất hiện Hiệp ước Pháp – Hoa, ông cũng ký với Pháp Hiệp định sơ bộ kéo dài thời gian ngừng xung đột nhằm củng cố lực lượng. Tháng 9-1946, ông nhân nhượng ký với Pháp tạm ước đình chiến miền Nam. Nhưng Pháp vẫn muốn giành thế chủ động và gửi liền ba tối hậu thư, ông đáp lại bằng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến… Những chủ trương trên được nhiều người công nhận thể hiện khả năng nhanh nhạy giải quyết tình huống cấp bách đặt ra, thu lại kết quả nhất định.

Năm 1954, sau chiến thắng ở Điện Biên Phủ, ông đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định Genève, thực hiện đình chiến và di dân – tập kết hai miền. Theo đường lối chung của cách mạng vô sản sau khi giành chính quyền, ông đứng đầu chủ trương cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc và giao cho Trường Chinh trực tiếp tổng chỉ huy. Với sự ra đời của Hiến pháp 1959, thể chế Việt Nam dân chủ cộng hòa do ông lập ra bắt đầu chấm dứt. Từ 1965 về sau, ông không còn quyền lực trong đảng và nhà nước. Mậu Thân 1968, khi ông đi dưỡng bệnh ở Trung Quốc, phái chủ chiến Bộ Chính trị trong nước lập kế hoạch mở cuộc tổng tiến công ở miền Nam mà ở cương vị Chủ tịch nước ông không được biết. Trong điếu văn ở lễ tang năm 1969, Bộ Chính trị công bố ông qua đời ngày 3-9, đến năm 1989 cũng Bộ Chính trị công bố lại ông mất thiêng đúng ngày Quốc khánh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2-9, cùng lúc dư luận cho rằng đính chính nhằm thần tượng hóa. Trong tiểu sử, ông được cho là suốt đời không lập gia đình để dành hết thời gian cho đấu tranh cách mạng, nhưng tư liệu cho thấy ông có vợ chính thức ở Trung Quốc cùng nhiều quan hệ tình cảm khác. Trong phẩm chất, ông được cho là khiêm tốn nhưng cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của tác giả Trần Dân Tiên, nay tác giả chính là ông (tự viết về mình). Trong di chúc mà hiện nay vẫn tranh cãi có nhiều bản khác nhau, ông ước nguyện hỏa táng, nhưng Bộ Chính trị đã chuẩn bị ướp xác, xây lăng giữ lại thi hài… Đây là vị lãnh tụ cách mạng vô sản mà sau khi qua đời, xuất hiện nhiều tranh cãi những sự kiện lệch nhau, không rõ ràng đâu là sự thật.

Về các nhà lãnh tụ cách mạng tiêu biểu kể trên, có nhiều đánh giá khác nhau. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản, đường lối của Phan Chu Trinh là “đem nước mắt xin giặc rủ lòng thương”, của Phan Bội Châu là “đuổi beo cửa trước rước hùm cửa sau”. Chỉ có Hồ Chí Minh đã chọn đường lối đúng với xu thế thời đại. Các phong trào khác đi đến thất bại là do dựa vào ý thức hệ đã lỗi thời, thỏa hiệp cải lương, lầm lẫn giữa kẻ thù và đồng minh. Nhưng đứng trên tinh thần dân tộc và lịch sử khách quan, cần thận trọng trong nhìn nhận, đánh giá và chứng minh sự đóng góp hay sai lầm của các lãnh tụ phong trào yêu nước.

Phan Bội Châu chủ trương bạo động trong khi chưa đủ khả năng, trình độ và trang bị vũ khí mà đối đầu với quân đội chính quy của Pháp, là nguyên nhân thất bại. Việc ông nhờ sự giúp đỡ từ Nhật cũng như trong thời gian đầu chủ trương duy trì danh nghĩa quân chủ làm cách mạng chưa hẳn sai lầm. Dựa vào quân chủ trong nước vẫn còn có thể hiệu triệu lực lượng cứu nước hoàn toàn khác với việc tiếp tục duy trì chế độ quân chủ. Nhiều nước sau cách mạng vẫn còn chế độ quân chủ lập hiến. Nhật Bản khi Phan Bội Châu đến là một quốc gia đã canh tân thành công, không thể gọi là sai lầm nếu học tập từ họ.

Về Phan Chu Trinh, điểm đặc biệt ở ông là bất bạo động, đấu tranh ôn hòa. Trong sự nghiệp cách mạng, ông chưa từng chủ trương lập ra hoặc liên minh với lực lượng phe nhóm nào, chưa phát động cuộc đấu tranh đổ máu, không tổ chức những hoạt động bí mật, cho nên chưa từng mắc sai lầm quan trọng. Chủ trương của ông thường bao trùm tất cả: dân chủ xã hội là cơm ăn áo mặc, là học hành, là quyền được sống tốt đẹp hơn, là tự do từ từng cá nhân đến tự do cả dân tộc… mà bất cứ ai cũng phải cần như là cần không khí hít thở hàng ngày. Phần lớn tâm huyết ông dành vào diễn thuyết công khai. Điều ông tìm kiếm bằng cả cuộc đời cũng là xu hướng của các nước đã đi (Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, …), đang và sẽ còn đi trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Phải chăng một chủ trương như thế là cải lương? Cũng từ tinh thần dũng cảm và ý thức trách nhiệm với dân tộc ở Phan Chu Trinh biểu hiện bằng nỗ lực tự thân mà ông chưa liên kết nhiều với những nhà yêu nước tâm huyết cùng phương pháp vận động cách mạng để có thể tác động sâu rộng hơn.

Hồ Chí Minh tiếp cận CNCS với mục tiêu đấu tranh triệt để đã đáp ứng khát khao bao đời của giai cấp công – nông, một thành phần đông nhất bấy giờ. Ở Việt Nam, hai khẩu hiệu “Độc lập dân tộc”“Người cày có ruộng” được nêu cao càng khơi đúng tinh thần yêu nước. Vì thế, nhiều người đã đóng góp và hy sinh cho cách mạng thành công. Nếu sau Cách mạng Tháng Tám, ông tự nhận ra lý thuyết không có cơ sở thực tế và không bao giờ thực hiện được của chủ nghĩa Marx-Lenin và thay đổi đồng minh thì dân tộc đã đi đúng hướng đi của thế giới. Nhưng phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở nước Nga đã lôi cuốn ông, ông lại vẫn trung thành với lý tưởng đã chọn. Thường thì con người chỉ có thể tìm thấy và chịu ảnh hưởng sâu đậm về một lý tưởng nào đó một lần trong đời.

Trong tác phẩm “Chia tay ý thức hệ”, Hà Sĩ Phu đã nhận định về đường lối cách mạng ở giai đoạn này: “Lịch sử đã quay hết một vòng, nay ngồi nghĩ lại mà so sánh một đường cách mệnh của cụ Nguyễn Ái Quốc theo gót Mã Khắc Tư và Lý Ninh (Marx, Lenin) với con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của cụ Phan Tây Hồ theo gót Mạnh – Đức Tư – Cưu và Lư Thoa (Montesquieu, Rousseau) thì mới biết câu “Dục tốc bất đạt” của cổ nhân chí lý lắm vậy. Muốn nhanh thì không tới được! Đường lên văn minh không có lối tắt, đi tắt để tiến thẳng lại hóa ra đi vòng quanh, đi mãi cuối cùng lại phải vòng về điểm xuất phát ban đầu!”

Thời vua chúa quân chủ xưa kia, chúng ta đã biết việc phản ánh lịch sử từ nhân dân và những nhân sĩ trí thức là để lại cho muôn đời sau, rõ ràng công – tội. Có thể những phân tích tóm gọn trên đây cũng chưa thuyết phục, nhưng ít nhất việc nhìn nhận lịch sử phải trên quan điểm khách quan, không nên chủ kiến cực đoan mà dẫn đến sai lệch.

 

 

Ra khỏi chế độ thực dân – phong kiến

 

Trước cách mạng 1945

Ở giai đoạn 1930 – 1935, với chính sách khủng bố trắng, chính quyền Pháp triệt hạ nhiều đảng phái và phong trào yêu nước. Tổn thất lớn nhất là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh. Lịch sử Đảng Cộng sản cũng tự nhận phong trào đã “bị dìm trong bể máu”. Các nhà tù ở Hỏa Lò, Côn Đảo, Kon Tum… giam giữ hàng ngàn người. Đảng Cộng sản cho rằng hầu hết là những đảng viên và chiến sĩ cách mạng vô sản. Thật ra chỉ có một số cốt cán cộng sản, những người bị bắt giam đã đứng lên đấu tranh bằng tinh thần yêu nước hay hưởng ứng lời kêu gọi của nhiều đảng phái và tổ chức khác nhau, trong đó có phong trào “Vô sản hóa” của Đảng Cộng sản. Khi vào tù, những cốt cán cộng sản còn tiếp tục “vô sản hóa” phát triển lực lượng bằng hình thức sinh hoạt trao đổi bạn tù, gọi là “giác ngộ cách mạng”.

Ở giai đoạn 1936 – 1939, ông Lê Hồng Phong triệu tập Hội nghị của Đảng Cộng sản tại Thượng Hải, thành lập “Mặt trận Dân chủ Đông Dương” theo chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Việc lập ra tổ chức này nhằm thực hiện nhiệm vụ chống phát xít trên thế giới, đồng thời từng bước đưa Đảng Cộng sản trong nước từ thất bại rút vào bí mật ra hoạt động công khai trở lại. Đảng Cộng sản cũng lập lập ra “Hội truyền bá chữ quốc ngữ” và viết bài lên báo chí hợp pháp để cổ động. Các tờ báo lúc đó là: Dân Chúng, Lao Động, Thời Báo, Thời Thế, Tin Tức, Đời Nay, Nhành Lúa, Kinh Tế, Dân Mới, Phổ Thông…

Ở giai đoạn 1939 – 1945, tình hình Đông Dương và thế giới có nhiều ảnh hưởng đến hoạt động các đảng phái và phong trào yêu nước. Tháng 9 – 1940, Pháp đầu hàng Đức, quân Nhật chiếm miền Bắc. Nhật Bản xác định Việt Nam là vị trí chiến lược trong thực hiện mục tiêu thôn tính Đông Nam Á và Trung Quốc. Trong khi chờ Đức chiến thắng tại châu Âu, Nhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp ở Đông Dương. Mặt khác, Nhật chủ trương xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Chủ trương này bị Ngoại trưởng Hoa kỳ Cordell Hull phản đối. Ngoại trưởng Matsuoka phía Nhật đáp lại bằng tuyên bố đại ý Hoa Kỳ đã chiếm ưu thế ở Tây bán cầu nên không có quyền phản đối Nhật làm chủ ở phía Đông.

Về Việt Minh, nhân Pháp – Nhật kìm chân nhau, các hội nghị năm 1939, 1941 phát động nhân dân nổi dậy. Quy mô và gây tiếng vang lớn cả nước là khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ (1940) và cuộc binh biến Đô Lương (1941). Nhưng tất cả các cuộc nổi dậy này đều bị Pháp đàn áp. Sau thất bại của Xô Viết – Nghệ Tĩnh, phong trào yêu nước do Đảng Cộng sản phát động thêm lần nữa đổ máu và hy sinh rất lớn. Việt Minh phải thoái trào để củng cố lực lượng. Năm 1942, Hồ Chí Minh đi gặp người Mỹ ở Côn Minh tìm kiếm sự giúp đỡ, nhưng bị quân Tưởng Giới Thạch bắt giam. Tuy nhiên, các lãnh đạo Việt Minh trong nước cũng đã chuyển thư tới Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Trùng Khánh nhờ giúp đỡ. Người Mỹ chấp nhận, cho máy bay tấn công quân Nhật và rải 8 vạn tờ truyền đơn tiếng Việt kêu gọi người Việt chống Nhật.

Năm 1943, Hoa Kỳ đề xuất chế độ ủy trị quốc tế (International trusteeship) ở Đông Dương theo điều 22 Điều lệ hoạt động của LHQ. Theo đó, một nước lớn được “quản trị đỡ đầu” đối với các nước lạc hậu mới ra khỏi chiến tranh hoặc dưới sự cộng quản quốc tế một thời gian trước khi công bố độc lập. Chủ trương của Hoa Kỳ được Tổng thống Roosevelt mở đường qua phát biểu: “Nước Pháp đã chiếm một nước có 30 triệu dân trong gần 100 năm và nhân dân nước này ngày càng trở nên tồi tệ hơn lúc họ mớ tới… Nước Pháp đã vắt kiệt họ trong 100 năm. Nhân dân Đông Dương có quyền được hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”.

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân vũ trang chính quy đầu tiên của Việt Minh được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo ở Cao Bằng với 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Bước đầu trang bị còn thô sơ, số quân chưa nhiều, nhưng việc thành lập lực lượng vũ trang xác định cùng với đấu tranh chính trị là đấu tranh vũ trang, chuẩn bị điều kiện tiến tới dùng bạo lực vô sản lật đổ và giành chính quyền khi có thời cơ.

Sau khi ra khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, tháng 2-1945 Hồ Chí Minh lại đi gặp người Mỹ, dẫn theo viên phi công William Saw bị Nhật bắn rơi máy bay, trao trả cho Hoa Kỳ. Ông gặp đại diện hai tổ chức OSS và AOWI [20], đưa ra đề xuất hợp tác. Tháng 3-1945, Hoa Kỳ cử trung úy Fenn (Charles Fenn) đi xác thực tư tưởng cộng sản ở Việt Minh. Hồ Chí Minh nhấn mạnh Việt Minh lập ra chỉ để chống Nhật. Từ đó, Việt Minh đạt được mục tiêu thông báo một cách không chính thức với Tưởng Giới Thạch, tướng De Gaulle của Pháp và cả quân Nhật rằng Việt Minh đang có một đồng minh lớn.

Bộ đội Việt – Mỹ khoảng 200 quân cũng được thành lập tại Việt Bắc. Nguồn tiếp tế súng đạn, thuốc men của người Mỹ được chuyển đến. Một nhóm quân phối hợp khác lấy tên là “Con Nai” thuộc lực lượng OSS cũng hình thành. Vô tuyến điện được trang bị giúp Việt Minh liên lạc các tổ chức vùng miền trong nước và nắm tình hình thế giới. Mặc dù bắt tay với Hoa Kỳ, nhưng Việt Minh chỉ hợp tác ở mức độ chiếu lệ. Bộ đội Việt – Mỹ vẫn duy trì hai chỉ huy riêng của hai bên. Phần lớn lực lượng vũ trang Việt Minh và cơ sở kháng chiến ba miền vẫn hoạt động độc lập theo chỉ đạo từ cơ quan đầu não ở Việt Bắc.

Năm 1945, quân Đức bại trận ở chiến trường châu Âu, ưu thế của quân Mỹ ở Thái Bình Dương tăng cao. Trước tình hình đó, quân Nhật liền ra tay khống chế Đông Dương. Ngày 9-3-1945, Nhật trao tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương và Đô đốc Jean Decoux yêu cầu đặt toàn bộ quân đội Pháp dưới quyền chỉ huy và điều động của Nhật. Đô đốc Decoux từ chối và bị quân Nhật bắt giam, không kịp báo động cho toàn quân đối phó. Quân đội Nhật sau đó bất thần tấn công các doanh trại và cơ sở chính quyền, trong một đêm đã thanh toán xong toàn bộ cứ điểm và không chế tất cả các quan chức, chỉ huy quân Pháp.

Triệt hạ quân Pháp xong, Nhật tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, nhằm tạo hậu phương phòng thủ và hình thành mối quan hệ đồng minh sau chiến tranh. Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước. Ngày 7-4, người Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Singapore về nuớc, được vua Bảo Đại giao trọng trách lập nội các mới. Ngày 17-4 tại Huế, Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ gồm Thủ tướng Trần Trọng Kim và Bộ trưởng của muời bộ. Bộ Quốc phòng và An ninh do quân Nhật đảm trách. Đây là tính toán từ phía Nhật nhằm vẫn khống chế và chi phối quân sự, nhưng mặt khác làm cho Chính phủ Trần Trọng Kim không có đủ sức mạnh đối phó với Việt Minh khi quân Nhật bị bại trận.

Những ngày Tháng Tám

Ngày 6-8, không quân Hoa Kỳ ném quả bom nguyên tử thứ nhất xuống Hiroshima. Ba ngày sau, quân Nhật vẫn không động tĩnh nên quả bom tiếp theo ném xuống Nagasaki. Ngày 14-8, Nhật đầu hàng vô điều kiện, quân Nhật đồn trú ở Việt Nam cũng tan rã. Theo tối hậu thư Postdam của quân Đồng minh gửi Nhật ngày 26-7, quân Nhật bị giải giới bởi 20.000 quân Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc đến vĩ tuyến 16 và liên quân Anh – Pháp từ vĩ tuyến về phía Nam.

Vào lúc này, Việt Minh ban hành chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, lần lượt tiến công vũ trang các đồn Nhật ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Cạn… Bộ đội Việt – Mỹ và các đơn vị Việt Minh phối hợp đánh Nhật ở Thái Nguyên. Thiếu tá Thomas viết thư bằng tiếng Anh kêu gọi quân Nhật đầu hàng. Mặt khác, trước việc Chính phủ Trần Trọng Kim được vua Bảo Đại chính thức công bố, Hồ Chí Minh ở Việt Bắc khẩn trương thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời nhằm tạo ra đối kháng và cạnh tranh chính trị, chờ thời cơ thay chân quyền lực quân chủ. Việt Minh cũng bí mật gặp Khâm sai Phan Kế Toại, đại diện triều Nguyễn tại miền Bắc nhưng Phan Kế Toại phân vân trước đề nghị đứng về Việt Minh. Trong hoàn cảnh đã tiêu điều và đói nghèo, thêm chính sách vơ vét lương thực phục vụ chiến tranh của Nhật, nạn đói khủng khiếp làm hai triệu người chết, Việt Minh phát động nhân dân nổi dậy cướp thóc từ các kho của Nhật. Tin đồn Nhật sắp đầu hàng càng làm cho biểu tình, bãi công diễn ra nhiều nơi.

Ngày 17-8, theo chỉ đạo của triều đình, Tổng hội Công chức tổ chức cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát lớn tại Hà Nội nhằm ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền đất nước. Hàng vạn người đứng đầy các ngả đường. Trên bao-lơn Nhà hát lớn, cờ quẻ ly của Chính phủ Trần Trọng Kim kéo lên. Mọi người hát vang bài “Tiếng gọi thanh niên” và hô to khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm”. Sáng sớm 19-8, hàng chục vạn người Hà Nội và các vùng lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường.

Nhân biển người đổ ra đường náo nức chào đón độc lập dân tộc, Việt Minh cử cán bộ chen vào phát cờ đỏ sao vàng thay cho cờ quẻ ly. Khối đông được cốt cán Việt Minh hô hào tiến tới phủ Khâm sai, nơi Nhật công bố trao trả độc lập. Việt Minh bắt Nguyễn Xuân Chữ (thay Phan Kế Toại). Khắp nơi sôi sục ước nguyện tự do độc lập, hướng căm thù vào việc đánh đuổi ngoại xâm, không ai đắn đo chọn lựa nội các Trần Trọng Kim hay Việt Minh nắm quyền sau cách mạng. Trong suy nghĩ của dòng người tham gia xuống đường biểu tình, cờ quẻ ly hay cờ đỏ sao vàng cũng là dân tộc, vì đều là người Việt. Quan trọng nhất là toàn thể nhân dân hân hoan chào đón sự kiện Pháp đã thua Nhật và Nhật trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Vì vậy, khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm” vang lên khắp nơi.

Nhưng Việt Minh đã có chủ đích và lợi thế hơn, lại thêm lực lượng vũ trang và cốt cán hô hào quần chúng. Chiều tối 19-8, phái đoàn Việt Minh ở Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi tại tổng hành dinh quân Nhật, kết quả hai bên tạm thời thống nhất không tấn công lẫn nhau. Việt Minh chủ động thực hiện cuộc gặp này vì nghe tin từ phía người Mỹ thông báo cho biết quân Nhật và phát xít trên thế giới đã đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Ngay sau đó, Việt Minh tại Hà Nội lập ra Ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ và ra mắt nhân dân, đồng thời tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Nam Định…

Tại Huế ngày 21-8, Việt Minh phát động nhân dân nổi dậy. Tướng Nhật nhận được chỉ thị từ Đông Kinh phải giữ ngôi cho vua Bảo Đại, đã trao đổi với Thủ tướng Trần Trọng Kim: “Mặc dù nước Nhật đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại đây vẫn có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự cho tới khi quân đội Đồng minh đến tiếp thu. Xin ngài hãy làm văn thư yêu cầu để chúng tôi tái lập trật tự”. Nhưng Trần Trọng Kim đã từ chối sự giúp đỡ của Nhật. Đại diện quân đội Nhật còn yết kiến vua Bảo Đại xin tái lập trật tự nhằm hạn chế Việt Minh lấn tới, bảo vệ ngai vàng, nhưng cũng bị vua từ chối. Việt Minh càng có cơ hội lớn mạnh.

Ngày 25-8, Việt Minh bất chấp Chính phủ Trần Trọng Kim được lập ra hợp pháp, liên hệ vào Huế buộc vua Bảo Đại thoái vị. Bước tiếp theo chỉ là hình thức: trong một buổi lễ ở Ngọ môn Huế chiều 30-8, ông Trần Huy Liệu là trưởng đoàn đại diện Việt Minh từ Hà Nội vào tiếp nhận quốc ấn và thanh kiếm bạc nạm ngọc do Bảo Đại trao lại. Với tuyên bố: “Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”, vua Bảo Đại trở thành công dân Vĩnh Thụy, được Việt Minh gắn huy chương ghi nhận quyết định thoái vị, trao chính quyền lại cho Việt Minh.

Tại Sài Gòn, với tinh thần độc lập dân tộc, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các đoàn thể quốc gia của Hòa Hảo, Cao Đài, Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam thống nhất”, đồng thời tổ chức cuộc biểu tình chống Pháp. Theo đó, Việt Minh cũng tổ chức biểu tình. Chính quyền Pháp – Nhật ở Sài Gòn tan rã nhanh. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng. Đến ngày 28-2, Việt Minh giành được chính quyền trên toàn quốc.

Theo lệnh của chỉ huy Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân Võ Nguyên Giáp, một trung đội Việt Minh đến Tân Trào đưa Hồ Chí Minh về Hà Nội. Cùng tiến quân về, còn có bộ đội Việt – Mỹ. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, bộ đội Việt – Mỹ bị giải tán không một lý do. Việt Minh đã cắt đứt quan hệ với quân Đồng minh, phía Hoa Kỳ có nỗ lực kết nối nhưng không thành công. Sáng ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đại diện Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng trích dẫn Tuyên ngôn nước Pháp và cả Tuyên ngôn lập quốc của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trong không khí ngày hội lớn của cả dân tộc, với niềm tự hào trở thành người chủ đất nước tự do, nhân dân Hà Nội và nhiều nơi hô vang khẩu hiệu tin tưởng ủng hộ Việt Minh.

Cũng ngày này tại Sài Gòn, Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ vận động nhân dân đến Quảng trường Norodom gần Nhà thờ Đức Bà chờ nghe phát thanh buổi lễ công bố Tuyên ngôn độc lập từ Ba Đình. Tuy nhiên, điều kiện kỹ thuật đã không đảm bảo thực hiện. Thay vào đó, ông Trần Văn Giàu đại diện Việt Minh kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ lâm thời. Ông Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ mới cũng tuyên thệ: “Cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, vượt qua khó khăn nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam”. Khi khối đông bắt đầu tuần hành thì quân Pháp xả đạn làm nhiều người chết và bị thương. Cuộc tuần hành bị giải tán. Ngày 23-9, ông Trần Văn Giàu phát động nhân dân Nam Bộ kháng chiến.

Sự thật của ý nghĩa cách mạng Tháng Tám

Về Cách mạng Tháng Tám, Đảng Cộng sản và các nhà nghiên cứu lịch sử độc lập đã có nhiều đánh giá ý nghĩa. Trong thời gian dài, các tài liệu và những buổi nói chuyện ra dân của cán bộ tuyên giáo cộng sản thường sử dụng các cụm từ: chớp thời cơ, lôi kéo quần chúng cướp chính quyền, lèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công, đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa thực dân gần thế kỷ, đánh đổ chế độ quân chủ phong kiến ngót ngàn năm… Có thể nói, từ ngữ thể hiện tư duy và bản chất cách mạng. Cần hiểu rằng quân chủ phong kiến chính là các thế hệ cha ông đã làm nên lịch sử. Không chỉ ở Việt Nam, quân chủ phong kiến là một thời kỳ dài tồn tại như một tất yếu trong tiến trình lịch sử loài người. Đồng thời, thời kỳ nào cũng có những giá trị và đặc điểm riêng.

Chính tiền nhân đã có công khai phá, gìn giữ, mở rộng, để lại không những giang sơn gấm vóc, rừng vàng biển bạc, mà còn hình thành những giá trị tinh thần, thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa Việt Nam. Chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam không chỉ là nhóm hoàng gia quý tộc như một thực thể tách rời tổ quốc, dân tộc. Chế độ ấy với nhiều chặng đường chông gai thăng trầm, hình thành nước Việt Nam độc lập tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc. Đảng Cộng sản thuộc thế hệ hậu sinh nghĩ gì khi công bố đánh đổ chế độ quân chủ ngót nghìn năm ấy? Đó là còn chưa đề cập đến sự kiện Việt Minh ép vua Bảo Đại thoái vị rồi lại mời tham gia vào chính phủ, lợi dụng giá trị còn lại của quân chủ phong kiến như một quân bài chính trị.

Nếu cho rằng Đảng Cộng sản đã phát động toàn dân ủng hộ Việt Minh, vận động vị vua cuối cùng của triều Nguyễn đồng ý chấm dứt chế độ phong kiến, hợp sức cùng Việt Minh và cả dân tộc xây dựng Nhà nước dân chủ, thì nội dung này có thể chấp nhận. Cho nên, viết và nói như thế chỉ nhằm: thâu tóm hết thành quả cách mạng, xóa bỏ mọi đóng góp hy sinh của các đảng phái và phong trào yêu nước mà dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản đều sai lầm đường lối, đề cao vai trò buộc mọi thế hệ phải biết ơn. Cũng từ quan điểm đó mà sau này Hồ Chí Minh còn được đưa lên hàng “Cha già dân tộc”. Và Tố Hữu đã viết về Cách mạng Tháng Tám:

“Ngực lép bốn nghìn năm trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời…”

Thoát ra khỏi thân phận nô lệ, đến với độc lập tự do quả là một niềm vui lớn. Nhưng tại sao dân tộc Việt Nam trước đó lại là một dân tộc “Ngực lép bốn nghìn năm”, chỉ đến thời Việt Minh thì mới “thổi phồng lên” ?!

Trong bài thơ “Học đánh cờ” được cho là Hồ Chí Minh sáng tác khi còn trong tù Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc có câu:

“Lạc nước hai xe đành bỏ phí

Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Nhiều thế hệ học sinh sinh viên vẫn được nghe phân tích hai câu thơ như một tài tiên đoán, thể hiện nhãn quan chính trị nhạy bén. Tuy nhiên, chưa ai phân tích về nhóm từ “gặp thời”. “Thời” ở đây là trong một thời điểm rất ngắn so với lịch sử, đất nước rơi vào khoảng trống về quyền lực chính trị và quân sự. Đó là: Nhật trói tay toàn bộ quân Pháp, Nhật đề nghị vua Bảo Đại triệt thoái sự nổi dậy của Việt Minh nhưng không được đồng ý và đã tôn trọng nên không ra tay. Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức biểu tình thì nhân đó Việt Minh trao tận tay nhân dân cờ đỏ sao vàng thay cờ quẻ ly và phát động khởi nghĩa. Nhân lúc quân Đồng minh trói tay Nhật thì Việt Minh bắt tay với Đồng minh. Khi thời cơ chín muồi, Việt Minh một mình ra tay bắt khâm sai Bắc Kỳ và buộc vua Bảo Đại thoái vị, lại chia tay bộ đội Việt – Mỹ, lập ra Chính phủ lâm thời. Chính phủ này không được sự ủng hộ của các đảng phái, thêm chịu sức ép từ Tưởng Giới Thạch, nên Việt Minh lại chìa tay ra mời các thành phần cùng vào quốc hội. Và sau này, Việt Minh lại ra tay thêm lần nữa đánh đuổi, tiêu diệt các thành phần. Cuối cùng, tất cả thành quả cách mạng về tay Đảng Cộng sản.

Điều này cho thấy lôgic: suy nghĩ thành lời nói, lời nói thành hành động, hành động thể hiện bản chất. Ngày nay, cho dù nhiều tài liệu đã sửa từ “cướp chính quyền” thành “giành chính quyền”, bản chất không khác. Vì cướp – giành – chiếm cái mà mình không có, loại bỏ một chính phủ và quốc kỳ “chính danh” để thay vào một chính phủ lâm thời và lá cờ khởi nghĩa chưa có ai công nhận, nên sau 1945 Chính phủ Hồ Chí Minh vẫn không được các đảng phái và tầng lớp trí thức tâm phục, dẫn đến tình trạng giành đã khó, giữ càng khó. Từ đó, Hồ Chí Minh mới chấp nhận nhiều thành phần cùng liên hiệp, giúp trí thức không theo Đảng Cộng sản lập ra Đảng Dân Chủ và Đảng Xã hội… Chính Đảng Cộng sản cũng thừa nhận từ chỗ bí mật và bất hợp pháp, đã trở thành một chính đảng cầm quyền. Soi vào thời khắc lịch sử này, chúng ta cũng có thể suy nghĩ thêm một nhận định của Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh…”.

Nửa tháng sau ngày 2-9, tướng Gallagher đến Hà Nội tìm hiểu xu hướng chính trị mới, đề nghị để tư bản Hoa Kỳ khôi phục hệ thống sân bay và đường sắt miền Bắc, mở đầu quan hệ hợp tác lâu dài. Thực ra, Hoa Kỳ cũng cần hệ thống giao thông này giúp Tưởng Giới Thạch chống CNCS tràn xuống Trung Hoa. Nhưng Chính phủ Hồ Chí Minh chối từ. Trên 70 năm kể từ chuyến đi của Bùi Viện thời Tự Đức tìm đến Hoa Kỳ và lúc này ngược lại người Mỹ đến Việt Nam, mối quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ vẫn không tiến được quá một bước.

Một tháng sau ngày 2-9, Hồ Chí Minh gửi thư đến Liên Xô, Trung Quốc ngỏ ý muốn công nhận Chính phủ do ông lập ra, nhưng chỉ nhận được sự im lặng. Ông cũng đề nghị chuyển Đông Dương sang Ủy ban an ninh quốc tế bảo hộ theo chế độ ủy trị mà Hoa Kỳ chủ trương năm 1943 thì Phó Dân ủy Ngoại giao Liên Xô V.G. Dekazonov trả lời trong một cuộc họp nội bộ rằng: “Chúng ta không có lập trường như vậy về vấn đề này” [21]. Trước tình thế đó, ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản tuyên bố tự giải tán mà lịch sử Đảng Cộng sản sau này xem là giải pháp “đau đớn” để cứu vãn tình thế. Thực ra, thêm lần nữa việc giải tán nhằm ẩn mình: cái “bình mới” với tên gọi “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx ở Đông Dương” được thành lập chứa đựng “rượu cũ” là Đảng Cộng sản nhằm hợp thức hóa hoạt động. Vì sao một chính đảng tuyên bố đã làm nên cuộc cách mạng với “ý nghĩa vĩ đại” như trên, lập tức ngay sau đó phải tự giải tán? Tuyên bố bên ngoài cho thấy sự chấp nhận nguyên tắc đảng phái chính trị phải tách rời khỏi quốc hội, chính phủ và nhà nước. Nhưng ngược lại Đảng Cộng sản vẫn len lỏi, bám riết vào đó. Không tự nhận một chỗ đứng đúng với giới hạn về vai trò và ảnh hưởng cho phép vào lúc này chỉ có thể nhằm tránh cạnh tranh chính trị, chiếm giữ sức mạnh nhà nước để lâu dài đi đến thao túng.

Thật vậy. Sau khi các đảng phái chính trị trên đất Trung Quốc theo đội quân Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc, một hội nghị hòa giải được tổ chức. Tinh thần chung là Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh cùng thống nhất lập ra Chính phủ liên hiệp, mỗi bên có quân đội và cơ quan ngôn luận riêng nhưng không được dùng vào việc giải quyết mâu thuẫn hay công kích nhau. Đại diện ba bên ký vào bản ghi nhớ “Đoàn kết tinh thành”. Nhưng trước khi mở cửa đón nhiều thành phần, Đảng Cộng sản cũng đã chuẩn bị phương án lần lượt thay đổi nhân sự ở các chức vụ chủ chốt bằng nhiều biện pháp khác nhau, và điều đó đã diễn ra. Cách “lèo lái con thuyền cách mạng” bắt đầu biểu hiện tranh giành ảnh hưởng chính trị để tiến tới độc quyền lãnh đạo. Đảng Cộng sản cho đây là “nghệ thuật cách mạng”, và “nghệ thuật” này còn lặp lại nhiều lần ở các giai đoạn sau. Đây là những sự thật hiển nhiên mà dù muốn hay không, Đảng Cộng sản phải nghiêm túc nhận định và viết lại đúng ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám.

Nhà nước dân chủ ra đời

Ngày 6-1-1946, bầu cử quốc hội cả nước được tiến hành. Quốc hội khóa I gồm 333 đại biểu thuộc các giai tầng xã hội, thành phần dân tộc, tôn giáo, đảng phái khác nhau. Cuối tháng 2-1946 tại Trung Quốc, hội nghị ba bên lại tiếp tục xúc tiến ra đời Chính phủ liên hiệp kháng chiến và cơ cấu đủ đại diện các tổ chức vào quốc hội. Ngày 2-3-1946, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I diễn ra tại Nhà hát lớn. Như cam kết, Quốc hội khóa I dành thêm 50 ghế cho đại diện Việt Quốc và 20 ghế cho đại diện Việt Cách không qua bầu cử. Kết thúc kỳ họp, danh sách Chính phủ liên hiệp gồm 12 thành viên được thông báo. Trong đó, Hồ Chí Minh (Việt Minh) làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ tịch; Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) phụ trách Bộ Ngoại giao; Vũ Hồng Khanh là Phó Chủ tịch phụ trách kháng chiến… Tình thế lúc này cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam theo đường lối cách mạng vô sản và liên kết với cộng sản ở Trung Quốc, nhưng buộc phải “uốn theo” ảnh hưởng của Chính quyền Tưởng Giới Thạch có quan điểm chống cộng.

Tháng 2-1946, Hiệp ước Trùng Khánh giữa Pháp và Tưởng Giới Thạch được ký kết, theo đó Pháp đưa quân ra miền Bắc (tính từ vĩ tuyến 16 trở ra) thay quân Tưởng. Tháng sau, Hồ Chí Minh cũng ký với đại diện Pháp một hiệp định sơ bộ. Nội dung cơ bản gồm ba điểm: Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do nằm trong Liên bang Đông Dương; chấp nhận Pháp đưa 15.000 quân ra Bắc và hoàn tất việc rút quân trong 5 năm; hai bên tạm thời không giao tranh về quân sự. Bằng việc ký Hiệp ước này, áp lực của quân Tưởng lên Việt Minh được giải tỏa.

Cũng tháng này, Bảo Đại tham gia trong phái đoàn ngoại giao đi Trùng Khánh. Nhưng ông không trở về mà đến Hồng Kông, vì nhận ra thân phận của mình chỉ là đại biểu hình thức, bị lợi dụng trong Nhà nước dân chủ. Nhìn lại vua Bảo Đại, dường như ông thiếu tính kiên quyết cần có của nhà chính trị. Năm 1932 từ Pháp về nước, ông lập ra Hội đồng Thượng thư và công bố chương trình cải cách, nhưng sớm buông tay. Tiếp theo là tuyên bố thoái vị trở về công dân, rồi tham gia vào Nhà nước dân chủ của Việt Minh, lại đơn phương ly khai, sau này trở thành Quốc trưởng Bảo Đại. Phẩm chất và năng lực chính trị quan trọng nhất của người đứng đầu là tiên đoán tình thế và có đối sách đón nhận hay đối phó đã không có. Sau khi sự việc xảy ra, trước khó khăn hay hậu quả, ông mới bắt đầu phản ứng chậm trễ, là nguyên nhân nhiều lần thay đổi quyết định, dẫn đến bị động. Âu đó cũng là bài học cho những thủ lĩnh chính trị của nước nhà.

Tháng 3-1946, trong một cuộc mít tinh ở Hà Nội, Hồ Chí Minh phát biểu: “Nước ta đã tuyên bố độc lập từ tháng 8-1945 nhưng tới nay chưa có một cường quốc nào công nhận nền độc lập”. [22] 11 bức điện của ông gửi đến Hoa Kỳ đề nghị công nhận Nhà nước dân chủ, rồi đề nghị gửi 50 sinh viên Việt Nam sang đào tạo, cũng không có kết quả. Trước đó, khi thấy Hoa Kỳ và Liên Xô cùng chống phát xít, Hồ Chí Minh cam kết Việt Minh tạo dựng mối quan hệ với Hoa Kỳ chỉ để liên minh chống Nhật. Khi cách mạng thành công, gần hai tháng cùng tham gia khởi nghĩa của bộ đội Việt – Mỹ được xem là đã hoàn thành nhiệm vụ và kết thúc trong im lặng, vốn đã được Việt Minh tính toán từ trước.

Tháng 4-1946, đại diện Chính phủ Hồ Chí Minh và Chính phủ Pháp gặp nhau tại Đà Lạt chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức tại Pháp. Ngày 31-5, Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp theo lời mời. Cuộc đàm phán ở Fontainebleau diễn ra từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 9-1946 vẫn bế tắc. Đến giữa tháng 9-1946, Hồ Chí Minh lại ký với Pháp một tạm ước, thống nhất một số quan hệ kinh tế, văn hóa và vấn đề đình chiến. Trong lúc kéo dài thời gian thương lượng với Pháp, Việt Minh củng cố chính quyền ở cấp tỉnh và huyện, tranh thủ tập hợp lực lượng vào Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam vừa thành lập.

Tháng 7-1946, quân Tưởng rút về nước, Việt Minh lần lượt ra tay tiêu diệt Việt Quốc, Việt Cách trong bộ máy từ quốc hội đến chính quyền địa phương các cấp. Theo Đảng Cộng sản, đó là “thù trong” cùng với “giặc ngoài” chống phá chính quyền cách mạng, nên phải tiêu diệt. Lập luận này chỉ thêm lần nữa che đậy mục tiêu chiếm trọn quyền lực. Việt Quốc, Việt Cách hay tất cả các đảng phái hội đoàn yêu nước trước đó và bước vào giai đoạn này đều vì lợi ích đất nước, chưa bao giờ là “thù trong” của dân tộc. Việc tìm chỗ dựa hay kết hợp bên ngoài trong điều kiện chưa đủ mạnh là sách lược mà đảng phái chính trị nào cũng áp dụng. Vấn đề quan trọng là phải nhận định đúng đồng minh ấy với chủ thuyết và đường lối như thế nào để quyết định quan hệ thận cận giai đoạn hay ổn định lâu dài.

Về phía Hoa Kỳ, khi Ngoại trưởng Acheson lúc này chỉ thị cơ quan đại diện ở Hà Nội: “Hãy nhớ rằng lý lịch của Hồ Chí Minh cho thấy ông là một cán bộ của Quốc tế cộng sản, chưa có bằng chứng gì là đã từ bỏ liên hệ với Moskva”. Người Mỹ chỉ xem Việt Minh là một đồng minh thận trọng”. Về phía Việt Minh, một mặt nhận viện trợ và sự giúp đỡ, mặt khác lại hoài nghi Hoa Kỳ hợp tác để cứu phi công bị rơi máy bay và nắm tình hình thực hiện bước tiếp theo là xâm lược. Sự hoài nghi đó là nguyên cớ dẫn đến đơn phương cắt đứt quan hệ khi đã nắm được thắng lợi cách mạng. Việt Minh lộ rõ là tổ chức cộng sản thực hiện sách lược ngoại giao giai đoạn lợi dụng. Sách lược ấy xuất phát từ một luận điểm của Lenin: “Chỉ có thể thắng một kẻ địch mạnh hơn bằng một nỗ lực hết sức lớn, và với một đều kiện bắt buộc là phải lợi dụng một cách hết sức tỉ mỉ, hết sức chăm chú, hết sức cẩn thận, hết sức khôn khéo… cũng như phải lợi dụng mọi khả năng bé nhỏ nhất để có được một bạn đồng minh mạnh về số lượng”. Vì thế, Hoa Kỳ thay đổi thái độ, trở lại ủng hộ Pháp xây dựng chính quyền chống cộng. Tháng 9-1947, người Mỹ gặp Bảo Đại ở Hồng Kông với lời “thỉnh cầu cựu hoàng trở về phụng sự tổ quốc”, mà mục tiêu chính là xây dựng “Con đê Bảo Đại” trên nền những tảng đá viện trợ vũ khí và tiền bạc nhằm ngăn chặn “làn sóng đỏ” lan tràn. Chính phủ Hoa Kỳ và Pháp hứa giúp Bảo Đại tổ chức “Quân đội Quốc gia Việt Nam” với 11,5 vạn binh lính và lập ra bộ máy chính quyền lâm thời.

Ngược lại với Hoa Kỳ, Liên Xô lại muốn Nhà nước dân chủ ở Việt Nam trước sau như một trung thành với tư tưởng Quốc tế cộng sản, đi theo con đường xây dựng CNCS và thế giới đại đồng. Theo nhận định từ Liên Xô, Việt Minh từng bắt tay với Hoa Kỳ, nhiệm vụ đồng minh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô cùng chống phát xít lúc này chấm dứt, hơn thế nữa hai bên tiếp tục xảy ra những khác biệt mới về quan điểm là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh lạnh. Vì thế, Liên Xô đã tạo khoảng cách bằng sự im lặng, không vội đưa ra một ủng hộ hay công nhận nào.

Tháng 11-1948, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đơn xin gia nhập LHQ nhưng các nước thường trực phủ quyết. Theo tình hình nêu trên, tuy quyết định cuối cùng giống nhau nhưng nguyên nhân và nhận định xuất phát từ các hướng khác nhau. Đơn được gửi lần hai năm 1949, vẫn không kết quả. Những năm sau, khi cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu, Liên Xô cần thêm đồng minh, mới bắt đầu công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Trung Quốc cũng công nhận. Sau này, Đảng Cộng sản Việt Nam ca ngợi đây là một “thắng lợi ngoại giao” và Hồ Chí Minh cũng lý giải khác đi một cách thiếu thuyết phục về sự im lặng của Liên Xô [23].

Hiến pháp 1946

 

Bản hiến pháp đầu tiên được Quốc hội khóa I thông qua ngày 9-11-1946. Trong lời mở đầu, hiến pháp khẳng định nhiệm vụ sau khi giành độc lập là “kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, đồng thời sẽ “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”. Trân trọng dành ngay ở điều thứ nhất chương I xác định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa”. Toàn bộ hiến pháp toát lên tinh thần quan tâm quyền lợi của người dân: tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền, có quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức hội họp, tín ngưỡng, những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia phải được nhân dân phúc quyết; tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm (điều 11). Người đấu tranh vì dân chủ ở các chính thể và quốc gia khác phải trốn tránh được cư trú ở Việt Nam (điều 16)…

Hiến pháp 1946 tuy còn đơn giản nhưng nội dung cơ bản tôn trọng dân chủ xã hội, thậm chí còn liên kết với hoạt động dân chủ thế giới. Dân chủ cộng hòa là thể chế không những bấy giờ mà đến nay nhiều nước vẫn duy trì ổn định. Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm xây dựng Hiến pháp 1946: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nhân dân ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ”. Nhưng sau khi hiến pháp được thông qua, việc ký ban hành và triển khai áp dụng vào đời sống xã hội đã không được thực hiện. Việc thực thi Hiến pháp 1946 không thể đổ lỗi do hoàn cảnh chiến tranh lần thứ hai với Pháp, vì khi hoạt động bí mật và thiếu mọi mặt, Đảng Cộng sản vẫn tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng có trang bị tài liệu hẳn hoi. Cho nên, người dân vẫn trong tình trạng hiểu biết rất hạn chế về hiến pháp. Cuộc cách mạng với đường lối chủ trương ưu việt được tuyên truyền đến hiến pháp ra đời vẫn không vượt ra khỏi ý tưởng trên giấy.

Điều cần chú ý là chương VII quy định về việc sửa đổi hiến pháp: những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Sau này, trong một phân tích, luật sư Nguyễn Xuân Phước cho rằng Hiến pháp 1946 đã đột ngột bị “khai tử” và nhận lấy “cái chết oan khiên”. Vấn đề ông căn cứ là điều 70 quy định muốn sửa đổi hiến pháp phải do 2/3 tổng số nghị viên yêu cầu, bầu ra một ban dự thảo những thay đổi và sau khi được nghị viên ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết có đồng ý sửa đổi, loại bỏ hay không.

Nhưng thực tế từ đó đến nay người dân Việt chưa một lần được quyền phúc quyết hiến pháp, bởi vì nhà nước đã có cách làm né tránh, đi vòng: việc phúc quyết mà hình thức thường thấy trên thế giới là trưng cầu dân ý bị thay thế bằng thảo luận và đóng góp ý kiến cho dự thảo hiến pháp đã được chủ ý soạn ra sẵn, trong các cuộc họp dân một cách định tính, không chính thức và không có một lựa chọn rõ ràng. Khâu thảo luận chỉ mới mở đầu, hòan toàn chưa có khâu “phúc quyết” để có kết quả chính thức sau cùng. Còn việc thông qua hiến pháp trước quốc hội cũng chỉ đúng nghĩa là thủ tục.

Để loại bỏ Hiến pháp 1946, lý do đưa ra là nó đã “hoàn thành sứ mệnh”, nhưng theo luật sư thì không có điều khoản nào xác định “sứ mệnh” cả. Ông luận giải cụ thể về vai trò và chức năng hiến pháp: Nó chỉ là bản đúc kết giao ước giữa nhà nước và nhân dân thành một hợp đồng có giá trị. Nó quy định quyền lợi và trách nhiệm của nhà nước và của nhân dân. Nó quy định sứ mệnh cho nhà nước, chứ nhà nước không quy định sứ mệnh cho nó. Theo đó, sứ mệnh của nhà nước là phải bảo vệ nhân quyền và dân quyền của nhân dân”. 

Hai bờ vĩ tuyến 17

Từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ

Năm 1951, Việt Minh và Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt, nhưng người ta vẫn quen gọi là Việt Minh theo cách cũ. Những căn cứ kháng chiến của Liên Việt: Việt Bắc (thủ đô kháng chiến), Khu III (hai bên bờ sông Hồng và vùng Tây Bắc), Khu IV (Bắc – Trung Bộ), Khu V (Nam – Trung Bộ), Khu 7 (Đông – Nam bộ), Khu 9 (Cà Mau, Đồng Tháp)… Việt Bắc là căn cứ chỉ huy phát đi các chủ trương và mệnh lệnh, thực hiện các quan hệ ngoại giao. Sát biên giới Việt – Trung ở vùng Việt Bắc, Chính phủ kháng chiến liên kết với Trung Quốc lập ra trường đào tạo cán bộ. Ở các chiến khu, Việt Minh tăng gia sản xuất, cùng với chiến lợi phẩm thu được qua các trận đánh, hình thành nhiều kho hậu cần thực hiện kháng chiến trường kỳ.

Việt Minh kêu gọi được hàng loạt văn nghệ sĩ vào chiến khu, sáng tác văn học nghệ thuật theo đường lối kháng chiến và quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. Trong các tác phẩm, Hồ Chí Minh có nhiều đêm không ngủ vì lo cho bộ đội, cán bộ gắn bó với nhân dân, quân đội được sự ủng hộ của toàn dân. Bằng hiệu quả tuyên truyền, Việt Minh huy động được nhiều sức người sức của ra tiền tuyến. Thân thương là hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa bước ra từ những làng quê “nước mặn đồng chua”, từ những cánh đồng “đất cày lên sỏi đá”, đi đánh giặc mong đem lại ruộng đất, áo cơm và cuộc sống hạnh phúc.

Họ xung vào các đoàn quân với tình cảm chân chất yêu quê hương đất nước, căm thù giặc Pháp. Điều mà Đảng Cộng sản đón nhận từ nông thôn không chỉ số lượng thanh niên trai tráng vào lính, mà quan trọng nhất là mối quan hệ như mạch máu nối liền giữa hậu phương và quân đội được hình thành và duy trì:

“Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi

Xóm làng tôi còn nhớ mãi

Các anh đi bao giờ trở lại

Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong…”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Cho nên, nói nhân dân yêu mến anh bộ đội cụ Hồ cũng không sai. Những người nông dân mang áo lính với tư tưởng như tờ giấy trắng bắt đầu chép lên hai từ “đồng chí” khi xưng hô. Ý thức hệ cộng sản lan rộng trong toàn quân toàn dân, rõ nét dần, cuối cùng là khu biệt tất cả họ vào một tư tưởng. Hầu hết xã hội không còn cơ hội nhận biết, so sánh hay chọn lựa nhiều những tư tưởng. Họ không có con đường nào khác ngoài con đường theo hệ ý thức cộng sản.

Ở các khu kháng chiến, Việt Minh tự chế tạo vũ khí: từ đơn giản như làm lựu đạn, làm ngòi nổ, dùng các loại axit chế tạo thuốc nổ; đến cao hơn như chế tạo súng chống tăng RPG, thủy lôi, đại bác không giật, mìn. Giáo sư Trần Đại Nghĩa từ Pháp theo ông Hồ Chí Minh về nước tham gia kháng chiến, chỉ huy việc sản xuất vũ khí ở Chi Nên và Việt Bắc. Một người Nhật tên là Saito cũng giúp chế tạo vũ khí ở một xưởng tại Quảng Ngãi. Đến năm 1950, quân đội đã sử dụng thành thạo các vũ khí hạng nặng thu được từ Pháp. Việt Minh cũng cử người đi học thiết lập, điều hành các trạm liên lạc thông tin và phát thanh chiến khu. Hai thành công lớn nhất trong nghiên cứu là tự chế tạo súng bazoca và kháng sinh penicillin.

Cuối năm 1953, tình hình cho thấy quân Pháp ngày càng rơi vào thế bị động, các vùng Việt Minh làm chủ lan rộng. Chính phủ Pháp vừa muốn chấm dứt cuộc chiến, lại muốn duy trì quyền lợi thuộc địa. Vì thế, tướng Henry Navarre được cử đến Đông Dương nhằm tạo ra một chiến thắng quân sự, làm cơ sở cho thương thảo hòa bình. Theo đó, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra đời. Quân Pháp có 12 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh cùng đầy đủ các lực lượng pháo binh, công binh, súng cối, xe tăng, máy bay… với trên 16.000 quân. Toàn bộ cứ điểm gồm phân khu Bắc Him Lam và Bản Kéo; khu vực trung tâm, các cao điểm phía Đông và sân bay Mường Thanh; khu vực phía Nam, các chốt đóng quân và sân bay Hồng Cúm. Tổng cộng có 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm phòng thủ.

Lúc này Việt Minh quân số đông nhưng kinh nghiệm tác chiến những trận quy mô lớn chưa có. Việt Minh cũng gặp khó khăn trong việc đưa quân đội và vũ khí vào lòng chảo Điện Biên vì địa hình núi rừng. Để khắc phục hạn chế này, Việt Minh huy động hàng trăm ngàn lượt dân công mở đường trong thời gian ngắn nhất. Đội xe đạp tải quân lương và vũ khí trên 20.000 người, mỗi xe chở gần 300 kg. Các cấp chỉ huy Pháp đã không tiên đoán được khả năng này. Quân Pháp cũng không nghĩ rằng Việt Minh có thể mang pháo 105 mm vào chiến trường chỉ bằng sức người.

Sau nhiều lần thay đổi kế hoạch, Việt Minh khai hỏa đợt 1 chiến dịch ngày 13-3 và tiêu diệt được phân khu phía Bắc. Không bao lâu, sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm cũng bị tê liệt. Đợt hai bắt đầu từ 30-3, những trận đánh ở khu vực trung tâm diễn ra khốc liệt. Quân Việt Minh đã thành công bằng chiến thuật đào giao thông hào áp sát và bao vây dần đối phương. Đợt 3 bắt đầu từ ngày 1-5, các căn cứ phía Đông thất thủ, cùng trận đánh đồi A1 đã phá hủy hệ thống hầm ngầm kiên cố nhất. Sáng ngày 7-5, quân đội Việt Minh tấn công khắp nơi. Tướng chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là Christian de Castries và bộ tham mưu phải chấp nhận đầu hàng. Quân Pháp có gần 1.800 người chết, hơn 5.000 người bị thương, gần 2.000 người mất tích và gần 12.000 quân bị bắt sống. Quân Việt Minh có gần 4.000 người chết, trên 10.000 người bị thương, gần 1.000 người bị mất tích. Các nghĩa trang liệt sĩ tại đồi Độc Lập, đồi Him Lam và đồi A1 ngày nay có tổng cộng gần 4.000 ngôi mộ hầu hết vô danh.

Theo nhiều phân tích, sai lầm của quân Pháp là từ chủ động trên nhiều chiến trường, đã tập trung quá lớn quân lính và cơ sở vật chất chiến tranh vào một địa điểm, cho rằng đó là “Pháo đài bất khả xâm phạm”. Mặt trái của căn cứ Điện Biên là cố thủ và tự giới hạn sức mạnh của mình. Địa điểm ấy lại nằm trong vùng trũng núi đồi bao quanh, thuận tiện cho đối phương bao vây và đặt pháo nã xuống. Những chuyến hàng viện trợ thả từ máy bay xuống cũng bị Việt Minh bên ngoài chủ động cướp trước, do đó “pháo đài” càng bị cô lập. Cùng với sức mạnh toàn dân tộc, sự giúp đỡ vũ khí và chuyên gia quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, Việt Minh đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong đó, Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch, được Hồ Chí Minh phong đứng đầu hàng tướng với quan điểm thắng tướng là tướng.

Hiệp định Genève

Chúng ta cùng xác định lại bối cảnh lịch sử dẫn đến ký kết Hiệp định Genève. Trong giai đoạn 1945 – 1954, Việt Minh củng cố lực lượng, được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ. Các đội quân vũ trang của Lào và Campuchia liên kết với Việt Minh gây nhiều khó khăn, buộc quân đội Pháp phải căng giãn ra chống đỡ. Tại Pháp, nền Đệ tứ Cộng hòa vừa giải quyết rối ren chính trị và kinh tế trong nước, vừa điều phối cai quản nhiều thuộc địa khác nhau, trong đó có Đông Dương. Tình trạng tranh giành địa vị xảy ra với hai đời Tổng thống Pháp và 17 lần thay đổi nội các, có nội các mới thành lập sau vài ngày đã tan rã.

Năm 1949, Chính phủ Pháp ký thỏa ước với Bảo Đại và nộp đơn đề nghị LHQ công nhận Chính phủ Việt Nam. Liên Xô lại bác bỏ và nộp đơn đề nghị công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng lúc này, Hoa Kỳ tăng thêm viện trợ cho Pháp, hình thành lực lượng đặc biệt có sự tham gia của 500 cố vấn quân sự người Mỹ nhằm thực hiện Kế hoạch Navarre, đồng thời hậu thuẫn cho Chính phủ Việt Nam rút tên khỏi khối Liên hiệp Pháp. Cho nên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Á, trong đó có Việt Nam và Triều Tiên, từ đấu tranh giải phóng dân tộc đã chuyển thành chiến tranh ý thức hệ giữa CNCS đứng đầu là Liên Xô và CNTB mà đại diện là Hoa Kỳ và các nước phương Tây. Trước đó đã có tư tưởng cộng sản, nhưng nhìn chung tâm điểm vẫn là đấu tranh giải phóng dân tộc ra khỏi chế độ thuộc địa. Đến lúc này, đối đầu ý thức hệ trở thành tâm điểm mới.

Tháng 1-1954, trong một hội nghị tổ chức tại Berlin, đại diện ngoại giao đoàn Pháp đã thuyết phục các cường quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô đưa vào nghị trình bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình tại Đông Dương. Liên Xô đồng ý đưa vấn đề ra Hội đồng LHQ, có sự tham gia của Trung Quốc. Vì thế, Hội nghị Genève đã khai mạc vào ngày 26-4 với sự tham dự của đại biểu 19 quốc gia, bàn về chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương. Vào ngày 8-5, (một ngày sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên), phần nội dung bàn về Việt Nam bắt đầu.

Ngày 10-5, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuộc phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu quan điểm yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và tự chủ của Việt Nam, đồng thời cũng sẵn sàng gia nhập vào khối Liên hiệp Pháp. Quan điểm này được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ. Tại phiên họp thu hẹp thành phần và hạn chế công khai thông tin ngày 26-5, Pháp và Việt Minh đạt được thỏa thuận về ngưng bắn và các bên đóng quân theo các khu vực ấn định. Quan trọng là Việt Minh đã đề nghị chia đôi lãnh thổ Việt Nam cho mỗi bên. Ban đầu Việt Minh muốn có lãnh thổ từ cực Bắc đến vĩ  tuyến 13, nhưng Pháp muốn quản lý từ cực Nam ra đến vĩ tuyến 18. Dưới tác động của Liên Xô và Trung Quốc, cuối cùng Việt Minh chấp nhận chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17.

Ngay từ đầu, phái đoàn Quốc Gia Việt Nam do Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định thuộc Chính phủ Bửu Lộc đại diện luôn kiên quyết chống lại giải pháp chia hai đất nước. Ông tuyên bố: “Tôi để cho phái đoàn Việt Minh trách nhiệm đối với lịch sử… Chia đôi, nghĩa là sớm muộn cũng lại có chiến tranh”. Cũng trong lúc diễn ra Hội nghị, Bảo Đại đã mời Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng. Ngày 7-7-1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới và bổ nhiệm ông Trần Văn Đỗ làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay thế vai trò trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam tiếp tục tham gia hội nghị. Nhà báo Pháp Jean Lacouture cho biết đại diện phái đoàn Quốc gia Việt Nam uất nghẹn khi đứng lên phản đối việc chia cắt đất nước. Bầu không khí cả hội nghị lúc đó chùng xuống, chia sẻ lo lắng về hòa bình hòa hợp của một dân tộc đang bị thách thức. Nhưng cuối cùng, Hiệp Định Genève về Việt Nam cũng chính thức ký kết vào lúc 3 giờ 50 phút ngày 21-7-1954.

Hiệp Định có 47 điều, kèm theo phụ lục. Nội dung cơ bản gồm: ấn định thời gian có hiệu lực lệnh ngưng bắn các miền trong nước; ranh giới tạm thời chia đôi Việt Nam là vĩ tuyến 17 độ Bắc, ở sông Bến Hải với vùng phi quân sự dọc hai bờ sông và mỗi bên tự quản lý hành chính; vào tháng 7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất hai miền; nghiêm cấm phá hủy cơ sở trước khi rút quân; cấm trả thù hoặc ngược đãi những người đã cộng tác với đối phương; cấm đưa quân đội, vũ khí và lập căn cứ quân sự ở vùng của đối phương; việc giám sát đình chiến giao cho Ủy hội quốc tế thực hiện; trong vòng 300 ngày sau khi ký Hiệp định, người dân hai miền được quyền di chuyển từ vùng này sang vùng khác mà không bị hạn chế và ngăn cản.

Ngày nay, thế hệ trẻ hầu như không được biết rằng phái đoàn Quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ đã không ký vào bản Hiệp định. Chia hai đất nước là chủ trương xuất phát từ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nằm dưới sự tác động của Liên Xô và Trung Quốc, mà chưa bao giờ chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về đề nghị này. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cũng cho rằng với chiến thắng ở Điện Biên Phủ, Việt Minh đã buộc Pháp ký kết Hiệp định Genève. Đây là kết luận không đủ nguyên nhân, sai sự thật, phiến diện và vắn tắt. Trong tình thế đối phó với nhiều khó khăn, trước đó Pháp đã chủ ý đi đến giải pháp này tại Đông Dương. Thời điểm trận Điện Biên Phủ là bước xúc tiến. Sau cái bắt tay ban đầu của Hoa Kỳ và Liên Xô tại Hội nghị tưởng sẽ đi đến hòa bình thống nhất, dân tộc Việt Nam lại bước vào cuộc chiến tranh hai mươi năm khốc liệt hơn.

 

Di cư – Tập kết 

Như đã đề cập trong Hiệp định Genève, điều 14 cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý phải tạo điều kiện cho họ di cư đến hết 19-5-1955. ICC [24] được thành lập theo điều 34 cùng tham gia giám sát thực thi Hiệp định. Về di cư, dòng người phía Bắc vào Nam theo Chương trình Passage to Freedom (Đường đến tự do). Đó là những người theo Kito giáo, công chức và người đi lính cho Pháp, những người giàu ở thành thị và nông thôn. Còn có gần 50.000 người thuộc các dân tộc Tây Bắc từng cộng tác với Pháp. Gần 1 triệu người bỏ miền Bắc ra đi. Người dân được cho biết các điều kiện sống sắp đến sẽ khắc nghiệt dưới sự cai trị của cộng sản. Có nơi còn xuất hiện truyền đơn hay tin sấm truyền tai họa lớn sắp xảy ra. Các linh mục huấn dạy cho giáo dân là Chúa đã vào Nam, giáo dân nên theo. Do vậy, số dân đăng ký di cư càng tăng. Trước tình hình đó, Chính phủ phía Bắc đã tố cáo về việc người dân bị Chính phủ Liên hiệp Pháp tuyên truyền lôi kéo, dẫn đến ICC phải mở cuộc điều tra. Trong số hàng chục ngàn người được hỏi, không ai nhận mình bị cưỡng bức dụ dỗ và cũng không muốn ở lại miền Bắc. Ngoài nghe tuyên truyền, việc ra đi cũng là chọn lựa của người dân. Phản ứng không hiệu quả, sau khi nhận tài liệu từ ICC trao cho mỗi bên phổ biến đến người dân để họ có quyền chọn lựa và quyết định tự do di cư, các cấp chính quyền phía Bắc đã không phân phát rộng rãi tài liệu nhằm hạn chế số người ra đi.

Tháng 8-1954, Chính phủ phía Nam lập ra Ủy ban hỗ trợ định cư, từng vùng có các cơ quan tiếp nhận, bố trí điều kiện cư trú. Nhiều chuyến bay liên tục trong hai ngày đưa trên 1.000 sinh viên đại học vào miền Nam, đồng thời kêu gọi nhiều nước và tổ chức quốc tế hỗ trợ phương tiện. Cầu hàng không nối sân bay Tân Sơn Nhất với các sân bay phía Bắc như Gia Lâm, Hà Nội, Bạch Mai, Cát Bi cũng được thiết lập. Về đường biển, các tàu của Anh, Hoa Kỳ, Ba Lan, Trung Quốc… giúp được gần 600.000 người vào Nam. Vì số người đã đăng ký còn quá đông, hạn cuối ngày 19-5 được hai bên đồng ý kéo dài thêm ba tháng, thêm gần 4.000 người tiếp tục được đi. Chuyến tàu cuối cập bến Sài Gòn vào ngày 16-8 đánh dấu kết thúc di dân. Ngoài ra, còn có hơn 100.000 người tự tìm đường vào Nam.

Ở phía Bắc, Chính phủ Hồ Chí Minh công bố đã đón nhận 140.000 người phía Nam tập kết ngược ra bằng cách tự đi hoặc thông qua các tàu của Ba Lan, Liên Xô, Pháp. Đa số họ là những người theo Việt Minh, hoạt động bí mật qua các thời kỳ hay gia đình hầu hết đã ở miền Bắc. Sở dĩ có số lượng chênh lệch lớn giữa di cư và tập kết là do di cư đón nhận số lượng lớn người dân muốn theo Chính phủ phía Nam, trong khi đó tập kết chỉ có thể đón nhận thành phần đã từng có quan hệ với cộng sản và cả trường hợp bị bắt buộc. Hầu như không có người dân bình thường nào từ miền Nam đi ngược ra Bắc. Chỉ riêng điều này cũng đã cho thấy quyết định lựa chọn thể chế từ người dân.

Từ đây, dân tộc Việt Nam trở thành một trong một vài dân tộc bị chia cắt bởi ý thức hệ, nằm vào hai thể chế đối đầu. Những người lính cầm súng đứng canh ở hai đầu cầu, hai bên đua nhau dựng cột cờ mỗi bên cao hơn, những cuộc nổ súng qua lại. Những người dân nhớ thương người thân còn lại ở mỗi bên, hàng đêm nhìn lên trời sao với tâm sự:

“Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu

Thấy con vịt lội giữa dòng sâu

Sao Hôm như mắt em ngày ấy

Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu

 

Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi

Lộng lẫy uy nghi một góc trời

Em ở bên kia bờ vĩ tuyến

Nhìn sao thao thức mấy năm rồi” 

(Đêm sao – Nguyễn Bính)

Hoàng Việt ra đất Bắc, sau này sáng tác những nốt nhạc “Tình ca” hay Tế Hanh với bài thơ “Nhớ con sông quê hương”. Một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ theo Đảng Cộng sản gây xúc động, còn tồn tại và vẫn được chấp nhận ít nhiều trong lòng yêu mến của bạn đọc đến nay, đều viết bằng ý thức và tình cảm dân tộc, nói về nỗi đau chia cắt và mong ước sum họp, mà không phải là tuyên truyền và đề cập về hệ tư tưởng cộng sản. Chỉ riêng điều này thêm lần nữa cho thấy dân tộc là một phạm trù vĩnh viễn, đem lại những cảm xúc sâu sắc và có sức sống lâu bền nhất cho các sáng tác.

Nhìn ra thế giới, người Đức bị chia cắt bởi “Bức tường ô nhục”. Sau này, họ đã đập bỏ cũng vì tinh thần dân tộc Đức không thể chấp nhận bị chia cắt, bao vây trong ngục tù, đồng thời ý chí của nhân dân đã đi đến một giải pháp đơn giản và hiệu quả mà hoàn toàn tránh được đối đầu vũ trang, lấy súng đạn giết chết lẫn nhau. Riêng đối với Triều Tiên, vĩ tuyến 38 ngày nay vẫn là bờ ngăn mà sau thời gian đổ máu, những cuộc đoàn tụ dân tộc của hai bên đổ ra thêm không biết bao nhiêu nước mắt. Từ khởi điểm lịch sử này dẫn đến ngày nay một bên ở phía Bắc với 1/3 dân số thường xuyên bị đói nghèo trong khi chính quyền dành ngân sách chế tạo vũ khí hạt nhân, và một bên phía Nam giàu có nằm trong nhóm các nước “con rồng Châu Á”.

Chúng ta tưởng tượng điều gì nếu vĩ tuyến 17 vẫn còn chia cắt Bắc – Nam Việt Nam? Mặc dù hệ tư tưởng cộng sản phía Bắc đã dùng máu xương dân tộc và súng đạn XHCN làm áp lực tràn xuống miền Nam, điều mà họ gọi là chiến thắng đồng nghĩa với việc người Mỹ thất bại trong nỗ lực ngăn chặn, nhưng nhìn lại vĩ tuyến 17 và “di cư – tập kết” để hiểu rằng chân lý, sự thật nhiều khi đã phát hiện khẳng định ngay ban đầu lại rất khó được chấp nhận ngay. Ngày nay thông tin tự do đã mở rộng, mọi người có thể nhìn nhận lịch sử từ nhiều góc độ khác nhau, do đó sự thật về một cuộc xâm lược và bành trướng của CNCS đang ngày một biểu lộ rõ ràng.

 

Chặng đường hai lối rẽ

 

Miền Bắc XHCN (1954 – 1975)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tư tưởng Marx-Lenin không những ăn sâu trong cán bộ đảng viên, mà trở thành hệ tư tưởng duy nhất trong xã hội. Quan điểm và chính kiến tự do cùng các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản từng tồn tại, bị thu hẹp, bài trừ, triệt tiêu bằng nhiều hình thức khác nhau. Cả miền Bắc bị huy động tập trung mọi nguồn lực thực hiện nhiệm vụ mở rộng ảnh hưởng của CNCS xuống vùng Đông Nam Á theo chỉ đạo từ Liên Xô, Trung Quốc. Các nhiệm kỳ Đại hội Đảng luôn khẳng định “giải phóng miền Nam”, xem đó là cuộc cách mạng chính nghĩa và ra sức tuyên truyền để biến miền Bắc thành hậu phương lớn. Đảng Cộng sản đã vắt kiệt sức người sức của ở miền Bắc, đồng thời tiếp tục áp dụng phương thức “bình mới rượu cũ” qua việc tạo dựng nên những tổ chức cộng sản giấu tên đưa vào miền Nam.

 

Hiến pháp 1959

Hiến pháp được quốc hội thông qua vào ngày 31-12-1959, thay thế Hiến pháp 1946. Hiến pháp mới lần này xuất hiện khái niệm “tập trung dân chủ” (điều 04) và “dân chủ nhân dân” (điều 07). Ở đây, dân chủ tưởng được mở rộng cho toàn dân, nhưng khái niệm “nhân dân” gắn vào chỉ nhằm lạm dụng danh nghĩa, loại trừ và tiêu diệt các cá nhân và tư tưởng khác. “Nhân dân” ở đây là một chủ thể chung, không giới hạn cụ thể, nhưng đằng sau đó là quyền lực điều hành và thực thi pháp luật cũng không chịu sự ràng buộc của bất cứ giới hạn nào. Nghĩa là đối tượng ban hành, thực hiện hiến pháp và các luật độc quyền vô biên.

Cũng như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 không quy định vai trò, quyền hạn, phạm vi và hoạt động đảng phái chính trị, kể cả Đảng Cộng sản (Hiến pháp 1980 sau này lại có quy định này). Như vậy, Đảng Cộng sản đứng đâu trong xã hội? Có thể điều này cho thấy đảng phái chính trị có vai trò độc lập và không liên quan đến quốc hội và chính phủ, nhưng cũng có thể hiểu đảng đã đứng ngoài sự công nhận và tác động của luật pháp. Vì thế mà đảng không thể bị xét xử, là điều kiện tiến tới toàn quyền hành xử?

Hiến pháp cũng lần đầu tiên xuất hiện và chính thức khẳng định CNXH là thể chế được chọn, mà trước tiên là phải hình thành “nền kinh tế XHCN”.  Đến đây thì hệ tưởng và mô hình XHCN được chấp nhận bằng văn bản cao nhất, thay thế cho thể chế dân chủ cộng hòa tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp 1946, mà không đưa ra bất kỳ lý do giải thích nào. Vì sao nền dân chủ phải ra đi? Vậy thì Tuyên ngôn độc lập còn lại ngày nay có giá trị xuyên suốt và ý nghĩa thực tế gì ngoài chỉ là tư liệu lịch sử đã qua một vở diễn?

Hiến pháp vẫn công nhận tồn tại riêng về tư liệu sản xuất, tài sản của người lao động riêng lẻ và tư sản dân tộc; quy định quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình, quyền được bảo vệ và giữ bí mật thư tín… Tuy nhiên, những quyền này đã bị vi hiến ngang nhiên trong công cuộc cải tạo toàn xã hội miền Bắc, mà đáng kể là ba sự kiện còn để lại nhiều uất hận trong lòng dân tộc đến ngày nay: cải cách ruộng đất, cải tạo nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm và kết tội những cá nhân có tư tưởng xét lại chống Đảng.

Ở thời kỳ này, Đảng Cộng sản thôn tính và khuynh loát toàn bộ Nhà nước dân chủ. Mặc dù xã hội đã có hiến pháp nhưng cách cai trị độc quyền, rập khuôn máy móc và chủ quan bất chấp tất cả. Trong nhiều tiếng nói trí thức phản đối, tiêu biểu là ý kiến của luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông cho rằng xã hội đã ban bố các nguyên tắc dân chủ nhưng việc làm của chính quyền các cấp không tôn trọng cam kết đề ra trong hiến pháp, trong bản Tuyên ngôn độc lập, các đạo luật và sắc lệnh. Do vậy mà: Người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình tham gia xây dựng các chính sách của chính phủ”.

Về hoạt động của quốc hội qua mười năm, luật sư chất vấn cho rằng quyền lập pháp gần như không có thực và chỉ rõ quốc hội là cơ quan bị giới hạn quyền lực, chỉ còn biết thông qua chính sách. Từ đó, ông đề nghị phải có một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự, trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến pháp, mà cả trong thực tế nữa”. Nhưng không những ông, mà hầu như tất cả các luật sư đã bị tư tưởng bảo thủ và tôn sùng lãnh đạo trong Đảng Cộng sản bao vây, cô lập hoàn toàn.

 

Cải cách ruộng đất

Đây là chủ trương đã bắt đầu từ năm 1949. Trong hoàn cảnh nhiều người bỏ vùng quê hoang tàn chiến tranh ra thành thị sinh sống, để giữ dân bao quanh các chiến khu tăng gia sản xuất có lương thực trường kỳ kháng chiến, tháng 7-1949 Việt Minh ban hành sắc luật thành lập Hội đồng giảm tô, buộc chủ đất giảm tối đa tiền nông dân thuê đất. Chủ trương tịch thu ruộng đất từ điền chủ Pháp và người Việt thân Pháp đem chia cho nông dân bắt đầu. Năm 1950, thêm sắc lệnh tổng động viên sức người sức của cho kháng chiến, đồng thời hủy bỏ tất cả nợ của nông dân với địa chủ ở các vùng kháng chiến, quốc hữu hóa đất hoang đã 5 năm đem chia cho nông dân.

Cũng năm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Liên Xô. Ông được quán triệt cần đẩy mạnh cải cách ruộng đất mà có thể tham khảo biện pháp tổ chức thực hiện của cải cách ở Trung Quốc. Vì vậy, Việt Nam đã cử đoàn cán bộ sang Trung Quốc tập huấn và khi tiến hành thì mời cố vấn sang. Cố vấn Trung Quốc chủ trương trong tổng số dân, đối tượng bị cải tạo phải đạt tỉ lệ 5%. Ông Trường Chinh trong Bộ Chính trị cũng triển khai lại chính xác tỉ lệ đó trong một hội nghị. Phải chăng Việt Nam lại mắc một âm mưu từ Trung Quốc nhằm tiêu diệt nguồn nội lực quan trọng nhất của dân tộc?

Năm 1951, một cuộc chỉnh huấn và chỉnh quân diễn ra nhằm đả thông tư tưởng và hình thành quyết tâm không chùn bước cho cán bộ các cấp thực hiện, hướng dẫn cách triển khai thí điểm, xác định đối tượng cần đấu tố. Trước 1945, tầng lớp giàu có theo cách mạng được xem là yêu nước thì lúc này không ít người bị đánh giá ngược lại. Kể cả các đảng viên từng tham gia, cống hiến và đang giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, các cơ quan và đoàn thể, nếu lý lịch gia đình là địa chủ, cũng phải chịu xét lại. Đảng viên các đảng phái khác và giáo dân là thành phần càng cần phải bị cải tạo, đồng nghĩa với bị tiêu diệt. Cuộc chỉnh huấn chỉnh quân đã áp đặt được áp sự nhất trí từ đảng viên cốt cán ra quần chúng.

Năm 1952, cải cách thí điểm ở sáu xã thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Cuối năm 1953, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh triển khai văn bản “Tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất”. Kết thúc kỳ họp, quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất, ban hành và thực hiện. Ủy ban nông nghiệp các cấp mở những đợt tịch thu tài sản được cho là của Pháp, Việt gian, địa chủ. Đây cũng là thời gian bắt đầu xuất hiện vài cuộc đấu tố mở đường. Đến 1955, Chính phủ Hồ Chí Minh triển khai cao điểm đợt cải cách thứ năm. Ủy ban cải cách ruộng đất toàn quốc do ông Trường Chinh đứng đầu. Các tỉnh lập ra các đoàn cải cách ruộng đất, dưới các đoàn có các đội và tòa án nhân dân. Sai lầm, tội ác và tang thương nhiều nhất nằm vào đợt này. Tháng 4-1956, đoàn đại biểu ngoại giao Liên Xô do ông Mikoyan dẫn đầu đến Hà Nội, phổ biến chủ trương hòa hợp của Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev sau đại hội lần thứ 20 ở Liên Xô, buộc Đảng Cộng sản Việt Nam không thể làm khác, cải cách ruộng đất mới dừng lại giữa năm này.

Theo nhiều nhân chứng và nạn nhân hiện còn sống, mỗi đoàn cải cách ruộng đất có một đoàn ủy do trung ương cử xuống lãnh đạo và quyết định tình hình. Dưới các đoàn là các đội cải cách ruộng đất, cũng có cán bộ biệt phái của đoàn tham gia cấp đội. Mỗi đội từ 30 đến 40 người. Phần lớn họ được “điều động chéo” giữa các địa phương, nhằm tránh bao che, chùn tay, khó xử khi gặp quan hệ thân thuộc… Các đội về từng làng, đầu tiên là một số ít, ăn ở trong nhà dân, hỏi han tình hình xưa nay ai là bóc lột, ai là bần nông căm thù địa chủ. Hồ sơ đối tượng được lập ra chủ yếu dựa vào những lời kể không cần chứng cứ và không chịu bất kỳ một trách nhiệm nào.

Các đội chuẩn bị cho phiên tòa bằng những cuộc tập huấn: sắp xếp ai lên tố, nội dung tố như thế nào, động tác và lời nói ra sao, hô khẩu hiệu gì… Thành phần chủ trì phiên tòa có đại diện đội và những nông dân tại làng do đội chọn lựa bố trí ngồi vào. Thậm chí có nơi “chánh tòa” còn mù chữ. Trước khi tiến hành xét xử, các đội giữ kín danh sách đã lập. Việc di chuyển của người dân trong làng bị hạn chế nhằm tránh bị đánh động, những đối tượng đã xác định sẽ bỏ trốn hay phân tán tài sản.

Khi các đội về đến làng, chính quyền dân chủ tại địa phương được giao lại cho các đội độc quyền hành xử, công an hay du kích cũng phải theo lệnh điều động của đội cải cách, pháp luật hay lẽ phải không còn giá trị. Đội ra lệnh không cho gia đình của đối tượng bị lập danh sách truy tố ra khỏi nhà, đồng thời kéo đến nhà tịch thu tài sản, tra hỏi của cải cất giấu. Xong bước này, hồ sơ được bổ sung lần thứ hai, đưa lên cấp trên chờ duyệt để làm cơ sở xét xử, mà hầu hết hồ sơ gửi lại thêm hai chữ  “y án”. Người bị tố không được đưa ra chứng cứ, không ai được bào chữa hay tự bào chữa, mà chỉ có cúi đầu nhận tội.

Tại không ít địa phương, đấu tố diễn ra nhiều ngày. Tội tử hình thuộc thành phần giàu có, đảng viên các đảng phái không phải là Đảng Cộng sản. Những người nhẹ hơn thì bị đi từ tập trung, bị trói ở chuồng trâu bò, không cho ăn uống. Một bà cụ từng che giấu, nuôi dưỡng cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản, từng ủng hộ vàng trong “Tuần lễ vàng” năm 1945, hoạt động cho phụ nữ cơ sở, có con vào quân đội… bị quy vào thành phần gian ác và bị bắn chết. Một ông già 60 tuổi bị trói vào cột và bắn chết sau khi kết tội là địa chủ. Những người hành quyết lấy dao chặt dây trói và đẩy xác ông lão xuống cái hố đã đào sẵn sau cột, san đất cho bằng lại.

Về kể tội tại tòa, có đủ các hạng người hăng máu tham gia mà phần lớn là phụ nữ dễ tin. Con gái ruột tố cha, con dâu tố cha chồng… Bần cố nông còn bị đánh vào lòng tham khi nghe hứa ai tố nhiều sẽ được chia đất ruộng nhiều. Vì thế mà dẫn đến “tố điêu”, “tố đại hội”, “tố bừa” mọi giá để đạt được tỉ lệ 5%. Những người tố cáo bị sắp xếp hướng dẫn qua tập dượt, bị kích động hận thù và biến hận thù thành khát máu. Về các đội trưởng đội cải cách, quả còn hơn cả vua trong chế độ quân chủ nhận mình là con của trời, khi người dân nhận xét: “nhất đội, nhì trời”.

Đến tháng 7-1956, một số hội nghị trong Đảng Cộng sản nói về sai lầm cải cách ruộng đất. Hội nghị lần thứ 10 diễn ra ba tháng liền cuối năm này không ban hành nổi một nghị quyết. Ông Trường Chinh là người đứng đầu, nhưng không chấp nhận trách nhiệm chỉ riêng cá nhân. Các ông Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng… bị kỷ luật mà không ai nghỉ việc hay bị truy tố. Ông Lê Văn Lương, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhận sai lầm đã chỉnh đốn nhân sự tiến hành cải cách. Cuối tháng 10-1956, tại cuộc mít tinh ở Nhà hát lớn, ông Võ Nguyên Giáp thay mặt chính phủ công nhận sai lầm. Hồ Chí Minh và Trường Chinh không có phát biểu nào, trong đó Hồ Chí Minh lấy khăn lau nước mắt.

Đến Đại hội Đảng năm 1960, sai lầm hầu như không còn được nhắc đến. Sách báo đề cập về sự kiện này thường bị tịch thu ngay sau khi phát hành. Các sắc lệnh và văn bản chỉ đạo do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành đi ngược lại với quyền công dân và quyền con người, kể cả toàn bộ danh sách và hồ sơ kết tội đối tượng đưa ra xét xử, cũng không còn tìm thấy. Trang sử đẫm máu và nước mắt oan ức của 5% người dân và gia đình họ hàng thân thuộc mà phần lớn là thành phần ưu tú xã hội bị khép lại một cách lặng lờ!

Sửa sai của Đảng Cộng sản sau khi đã đạt được mục đích chỉ là hình thức chiếu lệ. Người được đền bù hoặc được phục hồi danh dự chủ yếu có công và thân cận trong hàng ngũ cấp cao. Hầu hết những nạn nhân khác bị hủy hoại trầm trọng sức khỏe thân thể và tâm lý, phải sống lo sợ tủi nhục và bị xã hội bần nông phân biệt trong nhiều năm. Người bị tù vẫn tiếp tục bặt âm vô tín. Người chết càng không bao giờ được minh oan. Cải cách và sửa sai đều không thực hiện trên nguyên tắc hiến pháp và pháp luật đã ban hành.

Qua năm đợt tiến hành cải cách ruộng đất trên 3.500 xã, số liệu thống kê bấy giờ cho thấy: hơn 170.000 người bị quy là kẻ thù, trong đó khoảng 2/3 người bị oan! Đó là chưa kể số bị mất tích bí hiểm, oan ức hay lo sợ mà tự tử. Số bị quy oan quá lớn là do tỉ lệ tìm diệt 5% hình thành quyết tâm “kích thành phần”, “thà sai hơn sót”, “thà oan còn hơn lọt lưới”… Theo số liệu sách giáo khoa phổ thông lịch sử ngày nay thì 81 vạn ha đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ từ giai cấp địa chủ bị tịch thu chia cho hai triệu nông dân. Ngành văn hóa còn tổ chức triển lãm hình ảnh thắng lợi của cuộc cách mạng “long trời lở đất”, “đào tận gốc, trốc tận rễ” này. Những hình ảnh cắm cờ cắm cọc, phân chia ruộng cho dân nghèo chỉ để tuyên truyền và che giấu sai lầm. Đến ngày nay, chủ yếu các tài liệu của Đảng Cộng sản vẫn ca ngợi thắng lợi, còn sai lầm mang tính tội ác chỉ viết không quá vài dòng.

Không ai có thể chấp nhận một Đảng Lao động lại phá nát môi trường, các điều kiện và giết chết người lao động. Chỉ vì máy móc tiếp nhận cải cách ruộng đất từ Trung Quốc và kích động căm thù đã dẫn đến hậu quả khốc liệt. Đứng trên quyền lợi phe nhóm cầm quyền thì thành quả là chủ yếu. Nhưng nhìn trên tinh thần dân tộc, đây là một cuộc đại tàn phá, chỉ để lại kiệt quệ và xơ xác cho nông thôn. Sâu rộng hơn nữa, đây là tội ác diệt chủng tập thể, chống loài người. Cuộc cải cách chà đạp lên đạo đức luân lý, nhân tối lửa tắt đèn hại nhau, tôn giáo bị chèn ép, các đảng phái khác bị tận diệt.

Không ít người bị thiệt thòi, thậm chí theo cách mạng để chỉ “làm ơn mắc oán”. Trước đó, để “lôi kéo” địa chủ phong kiến, Đảng Cộng sản tuyên truyền: “một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai” [25]. Khi những người này bước về với hòa bình lại trở thành “kẻ thù của nhân dân”, chịu thêm một lần bị hạ nhục nhân phẩm và bị giết chết không phải bằng súng đạn và nhà tù của thực dân đế quốc! Không những nạn nhân đau đớn, các thế hệ gia đình nạn nhân sau đó còn bị chính quyền cô lập và xét lý lịch nhiều đời.

Việt Minh từng lên án thực dân Pháp dùng người Việt cai trị người Việt và phân biệt chế độ ba kỳ gây mất đoàn kết dân tộc. Đến khi nắm quyền, chính sách dùng người Việt giết người Việt được Đảng Cộng sản thực hiện ở chỗ đội cải cách vùng này giết dân làng vùng kia, gây chia rẽ hận thù trong lòng nông thôn không bao giờ nguôi. Chính nhà thơ Tố Hữu trong Bộ Chính trị cũng thú nhận: “Không thể tả hết được những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá (mà thực tế là trung nông) phải chịu đựng ở những nơi được phát động”. Hóa ra, tuyên truyền trong cuộc di dân trước đó đã được chứng minh, về chính trị không phải là kích động mà là một dự đoán chính xác, về đức tin đã thấy một tai họa hiển linh.

Cải cách chỉ dừng lại ở việc thay đổi chủ sở hữu đất đai mà không quan tâm cải tiến phương pháp đổi mới canh tác, thiếu áp dụng khoa học kỹ thuật. Vài năm sau, lời hứa chia ruộng cho người tham gia đấu tố, chia nhiều hơn cho người hăng hái đi đầu đã không còn. Hợp tác xã ra đời, tất cả bần nông thuộc các tổ vần công đổi công, tất cả ruộng đất thuộc sở hữu chung. Bần nông trở về xuất phát điểm ban đầu. Cuối năm 1961, nối tiếp cải cách ruộng đất là cải tạo toàn diện quan hệ sản xuất: 85% nông dân, 70% ruộng đất, 87% thợ thủ công, 45% buôn bán nhỏ… phải tham gia vào mô hình sản xuất kinh doanh tập trung. Đây mới chính là kết quả chung cuộc của cải cách ruộng đất!

 

Cải tạo nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm

Cuộc cải tạo này bắt đầu năm 1955, kết thúc giữa năm 1958. Lúc bấy giờ, ở Hà Nội có tờ báo Nhân Văn và tạp chí Giai Phẩm, các văn nghệ sĩ thực hiện và cộng tác được gọi chung là nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Tờ báo và tạp chí này đăng nhiều bài viết, tác phẩm, bài phê bình thực tế mọi lĩnh vực xã hội. Điển hình bài thơ “Nhất định thắng” của nhà thơ Trần Dần có đoạn:

“Tôi đi giữa phố

Không cửa không nhà,

Chỉ thấy mưa sa

Trên màu cờ đỏ

Bài viết có tựa đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệcủa Phan Khôi thể hiện rõ ông không đồng ý chủ trương đưa tổ chức cơ sở Đảng vào nắm quyền và chỉ đạo sáng tác văn hóa nghệ thuật. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong một trả lời phỏng vấn nêu khiếm khuyết về đời sống dân chủ: “Đảng viên Đảng Lao động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ. Do đó xa lìa quần chúng và tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình. Để sửa đổi, cần xây dựng quan điểm quần chúng cho đảng viên và cán bộ, yêu cầu đảm bảo sự thi hành triệt để tự do dân chủ”. Trần Đức Thảo cũng có bài quan tâm mở rộng dân chủ, phát triển phê bình trong nhân dân. Nguyễn Hữu Đang tập trung nhận xét tình hình thực hiện Hiến pháp 1946…

Vì thế, vào tháng 12-1956, Ủy ban hành chính Hà Nội ban hành thông báo đình bản báo Nhân Văn. Khoảng 30 nhà văn và hoạt động trí thức bị quy tội bôi đen chế độ. Cụ thể có: Chu Ngọc, Đào Duy Anh, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Phùng Quán, Hữu Loan, Thụy An, Trần Dần, Nguyễn Văn Tý… Thụy An bị ghép tội làm gián điệp, chịu 15 năm tù. Nguyễn Hữu Đang do nhận xét cả việc thực hiện hiến pháp nên cũng phải đi tù dài hạn. Số còn lại bị đưa đi học tập cải tạo tư tưởng, một số bị treo bút, số khác bỏ sự nghiệp văn chương… Nặng thì bị xét cả sự nghiệp cầm bút. Nhẹ như Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” với hình ảnh“Tây tiến đoàn quân không mọc tóc” cũng bị xét và cấm một thời gian dài. Nguyễn Đình Thi với bài thơ “Đất nước” bị xét ở câu:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

Theo phân công trong Bộ Chính trị, Tố Hữu phụ trách công tác văn hóa tư tưởng, là người trực tiếp thi hành nhiệm vụ. Bằng quan điểm và đường lối văn nghệ cách mạng, Tố Hữu lên án nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm là một “công ty phản động” với rất nhiều “biệt tính”. Ông gọi “bọn Phan Khôi, Trần Duylà mật thám của Pháp, gọi Thụy An là bọn gián điệp”, gọi Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt là bọn trốt-kít và phản Đảng”. Cuối cùng, Tố Hữu quy tất cả những trí thức này vào dạng tội phạm:Hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ”.

Phan Khôi là người Quảng Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo theo xu hướng tư tưởng tự do và duy lý phương Tây, phê phán xã hội một cách hài hước, trực diện, sắc bén. Ông cũng tiếp thu các giá trị văn hóa Á – Âu, viết cho rất nhiều tờ báo và tạp chí cả nước: Nam Phong, Lục Tỉnh Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo, Tràng An, Sông Hương… Ông từng tiếp xúc và chịu ảnh hưởng từ Phan Chu Trinh, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, đòi giảm thuế ở Trung Kỳ và bị Pháp bắt giam. Sau 1945, ông tham gia kháng chiến ở Việt Bắc. Năm 1954, ông về Hà Nội cùng với các văn nghệ sĩ chiến khu. Trong thời gian 1956 – 1957, ông là một trong những người đi đầu chủ trương ra tờ Nhân Văn, đăng bài phê phán lãnh đạo văn nghệ sĩ nhưng không biết gì về văn nghệ, và do đó ông bị cấm sáng tác. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã nói về ông: “Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức”.

Trần Dần quê ở Nam Định. Năm 1946, ông cùng nhiều nhà văn nhà thơ lập nhóm “Dạ Đài”. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm công tác tuyên truyền ở khu IV, phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La. Tham gia nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, ông lên tiếng đòi sáng tác và xuất bản tự do. Theo ông, tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu nhỏ bé nhạt nhẽo trước cuộc sống lớn và mắc sai lầm nghiêm trọng là sùng bái cá nhân, thần thánh hóa lãnh tụ. Bị chính quyền cảnh cáo, ông vẫn viết các tác phẩm phê phán xã hội và lên án cải cách ruộng đất. Ông từng cùng một số văn nghệ sĩ soạn bản “Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa”, trong đó đề cao quyền văn nghệ sĩ tự do sáng tác và lãnh đạo văn nghệ, hạn chế tình trạng Đảng nắm quyền các đoàn văn công quân đội…

Là tác giả của bài thơ “Nhất định thắng” gây nhiều dư luận xã hội, năm 1956, ông lại bị giam ba tháng tại Hỏa Lò. Tháng 7-1958, ông bị kỷ luật, khai trừ khỏi Hội Nhà văn, bị đình chỉ xuất bản ba năm, bị lao động cải tạo ở Chí Linh năm 1959 và ở Thái Nguyên năm 1960. Trong đám tang khi ông qua đời, hai câu thơ của ông được viết trên một tấm băng lớn:

“Tôi khóc những chân trời không người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời…”

Ở câu đầu: “khóc” là đau thương, “những chân trời” là không gian xã hội miền Bắc bấy giờ, “không có người bay” là vắng bóng nhân tài, trí thức thật sự vì hầu hết đã bị tiêu diệt và cải tạo theo Đảng tính. Ở câu sau: “khóc” lại là tiếc nuối, “những người bay” là thân phận những trí thức còn lại với trí tuệ chân chính và con tim yêu cuộc sống kiên quyết miễn nhiễm, “không có chân trời” là không có môi trường sáng tạo thật sự tự do.

Văn Cao lại là trường hợp khác. Đầu năm 1957, sau khi triệt phá nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, Tổng Bí thư Trường Chinh biểu dương tinh thần đấu tranh, chủ trương thành lập Hội Văn nghệ, sáng tác theo chỉ đạo của Đảng. Văn Cao được bầu làm làm hội trưởng, ra tạp chí Văn số đầu tiên vào tháng 5-1957. Đầu năm 1958, tạp chí Văn lại bị đình bản vì tội tiếp tục “chống Đảng”. Sau sự kiện này, gần  500 văn nghệ sĩ bị chỉnh huấn, 300 người khác phải ký cam kết viết theo đường lối.

Bùi Tằng Việt quê ở Bắc Ninh, bút hiệu là Hoàng Cầm, cũng bị quy vào tội chống Đảng. Năm 1947, ông tham gia vệ quốc quân, thành lập đội văn nghệ và văn công trong quân đội. Năm 1952, ông lãnh đạo đoàn văn công thuộc Tổng cục Chính trị, năm 1955 là trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông tham gia công tác xuất bản ở Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, được bầu vào Ban chấp hành. Do vụ án này, ông rút khỏi Hội Nhà văn năm 1958.

Giữa năm 1958, Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam lại tổng kết mừng thắng lợi đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm. Những trang báo cáo dài tóm lại chỉ là ngụy biện cho một việc làm mù quáng. Sau nông dân và nông thôn, đến văn nghệ sĩ bị cột chặt vào hệ tư tưởng cộng sản. Nghệ thuật chỉ còn tập trung ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi Đảng và đường lối xây dựng CNXH. Nhìn bề ngoài, có nhiều tác giả tác phẩm, thật ra tính đa chiều phản ánh trong từng đề tài và chủ đề đã thu hẹp. Cả xã hội không được quyền hiểu biết và hưởng thụ một giá trị nào khác.

Khác với báo cáo thành tích của Đảng, nhà phê bình Trương Tửu đã tổng kết về hậu quả của cải tạo Nhân Văn – Giai Phẩm và phân loại những nhóm cầm bút ngược lại với cách phân loại ghép tội của Tố Hữu: “Một số văn nghệ sĩ non gan, biến thành những tên thư lại văn nghệ xu nịnh trục lợi. Một số khác trốn vào thái độ tiêu cực, chán nản công tác, tâm tư nặng trĩu hờn oán và uất ức. Một số khác nữa “cất kín” cá tính và nghệ thuật xuống “đáy ba lô”, yên lặng làm bổn phận một người công dân kháng chiến bằng bút, bằng màu sắc, bằng dây đàn, bằng sân khấu – đánh giặc đã! Còn một số không khuất phục, kịch liệt phê phán tác phong và đường lối lãnh đạo của thường vụ hội thì bị chụp mũ, bị chèn ép, bị “trù”, bị hành hạ, bị gạt sang một bên…”.

 

Vụ án xét lại chống Đảng

Sau khi cải tạo xong nông nghiệp nông thôn và sáng tác văn hóa nghệ thuật, từ tiêu diệt đối tượng rộng rãi bên ngoài, vụ án bắt đầu tập trung vào vòng trong, xử lý ngay ở cơ quan đầu não. Rõ ràng quá trình cải tạo toàn diện xã hội có quy trình các bước với các đối tượng và bằng những biện pháp tổ chức thực hiện khác nhau. Những người đã đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản chiến đấu và cống hiến qua nhiều thời kỳ, hoàn toàn không chống Đảng. Tuy nhiên, họ đã nhận thức ra sự thật và kịp thời thay đổi tư tưởng vì quyền lợi của dân tộc. Chủ nghĩa xét lại bắt đầu khi Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khruschev lên án Staline độc tài, chủ trương bình thường hóa quan hệ với phương Tây để tránh căng thẳng đối đầu không cần thiết. Nhưng ở Trung Quốc và Việt Nam, xu hướng xét lại xuất hiện đã bị quy vào tội chống Đảng, cho nên mới có “Vụ án xét lại chống Đảng”.

Vấn đề là Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thoát khỏi ảnh hưởng từ Trung Quốc. Năm 1962, Mao Trạch Đông công khai chỉ trích Khrushchev là buông tay đầu hàng. Khrushchev đáp lại rằng sự cứng nhắc về tư tưởng của Mao sẽ dẫn đến chiến tranh với khối TBCN. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì muốn được sự giúp đỡ của cả hai nước lớn nên ban đầu phân vân, không đứng về bên nào. Năm 1963, Bộ Chính trị tiếp đoàn đại biểu Tiệp Khắc. Chủ tịch Novotny dẫn đầu trong chuyến viếng thăm đã nêu quan điểm “Chung sống hòa bình” của Liên Xô là “chính sách đúng đắn nhất”. Ngay sau đó, Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ cũng đến Hà Nội, qua tọa đàm đã ra tuyên bố chung xem quan điểm trên là “chủ nghĩa xét lại” “cơ hội hữu khuynh” đe dọa phong trào cộng sản Quốc tế.

Từ đó, nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam chia thành hai nhóm: một nhóm chấp nhận chính sách Liên Xô, một nhóm theo đuổi quan điểm Trung Quốc. Nhóm theo chủ trương của Mao thắng thế. Ông Lê Đức Thọ viết bài trên báo Nhân Dân phê phán đảng viên bị ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại, đề nghị chỉnh huấn quán triệt nhận thức khác nhau giữa chủ nghĩa Marx-Lenin chân chính và chủ nghĩa xét lại. Cũng năm này ở miền Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính thể Đệ nhất Cộng hòa kết thúc. Cuộc tranh chấp giữa hai phe nhóm trong Bộ Chính trị phía Bắc đã quy chụp vào tình hình cụ thể: phái chủ trương sống chung hòa bình với Nhà nước phía Nam tiêu biểu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phái chủ chiến nhất định phải “giải phóng miền Nam” không ai khác là Lê Duẩn. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 9 chủ yếu nhằm giải quyết mâu thuẫn trên.

Lúc này ở Trung ương Đảng có ông Hoàng Minh Chính. Sau nhiều cống hiến, ông được cử đi học ở Liên Xô, trực tiếp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chủ trương Khrushchev. Về nước, ông được giao làm Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Để chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 9, ông Trường Chinh giao cho ông soạn một báo cáo chính trị. Toàn bộ báo cáo ông viết trên quan điểm “chung sống hòa bình” nên đã bị bác bỏ. Không dừng lại, ông đã viết và tự phân phát tài liệu tham khảo trong hội nghị, nội dung đề cập chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam. Hồ Chí Minh và gần nửa đại biểu không phản đối.

Nhưng Hồ Chí Minh cũng đã mất quyền lực trong Bộ Chính trị nên không thể làm chuyển biến tình hình. Phe chủ chiến gồm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã kết thúc hội nghị với nghị quyết đẩy mạnh đấu tranh vũ lực giải quyết vấn đề miền Nam. Ông Hoàng Minh Chính và những người ủng hộ tài liệu bị đàn áp. Cao điểm năm 1967, cũng để chuẩn bị cho Tổng tiến công Mậu Thân 1968 mà không bị phản đối trong nội bộ, phe chủ chiến xác định 40 nhân vật chức vụ cao cấp và hàng trăm cán bộ đảng viên liên quan cần xét lại, đã bị đưa ra khỏi các cương vị công tác, không ít người bị cô lập và bắt giam.

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt tháng 7-1967. Những người bị bắt và bị cách chức tiếp theo gồm: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng – Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm, nguyên Bí thư Vũ Đình Huỳnh cùng con trai là Vũ Thư Hiên (sau này là tác giả quyển “Đêm giữa ban ngày”), Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm, Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Minh Việt, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước Bùi Công Trừng… Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh và Lê Thanh Nghị bị Lê Duẩn chỉ đạo đưa ra khỏi Bộ Chính trị. Còn có hàng chục người lúc đó đang học tập và công tác tại Liên Xô, trước tình hình bị thanh trừng, lo sợ mức độ nguy hiểm và tàn bạo kéo dài nên đã xin ở lại mà không về nước. Những người này cũng bị Bộ Chính trị tuyên bố khai trừ khỏi Đảng.

Ông Hoàng Minh Chính ở tù đến năm 1972 thì về địa phương và bị quản thúc đến năm 1976. Năm 1981, ông làm đơn kiện vụ án này và đòi giải oan cho những người bị bắt. Ông lại bị giam thêm sáu năm, quản thúc ba năm. Trong một bức thư, ông lên án nhà tù chế độ XHCN đối xử tàn bạo và vô nhân đạo. Mọi biện pháp làm lung lạc, làm cho bệnh hoạn và giết dần ý chí cũng như sức khỏe con người đều được áp dụng. Đó là việc gây ô nhiễm tiếng ồn vào giờ ngủ nghỉ, làm nhiễm bẩn thức ăn gây ngộ độc phải đi cấp cứu mà bác sĩ đã có kết luận nguyên nhân. Các đòn tra tấn gồm nắm tóc, bẻ quặt tay, lấy vải bịt miệng, thậm chí bóp cổ đến gần chết ngạt. Ông tố cáo: Mục tiêu duy nhất của họ là hủy hoại sức khỏe, tiêu diệt ý chí phản kháng, buộc phải cúi đầu, quỳ gối nhận tội như lời hai sĩ quan tay sai của ông Lê Ðức Thọ đã thét vào mặt tôi”.  

Có hai câu hỏi đặt ra về vụ án này. Thứ nhất, vì sao trong Bộ Chính trị lại là nơi ẩn mình của một quyền lực ngầm ghê gớm và ngoan cố như vậy? Thứ hai, sự im lặng của Bộ Chính trị đến nay phải chăng là một thách thức pháp luật, lương tâm? Nó cho thấy một số nhân vật gây tội ác vẫn đứng ngoài pháp luật và được miễn trừ. Cũng có nhận định rằng có thể hàng trăm ngàn người dân hai miền đã không hy sinh xương máu trong sự kiện 1968, miền Nam và cả nước không rơi vào tình trạng trì trệ tụt hậu sau năm 1975, nhiều người không phải bỏ quê hương chạy ra nước ngoài; có thể Việt Nam ngày nay vẫn duy trì hai miền như Hàn Quốc – Triều Tiên và có cách khác tái thống nhất, hòa hợp dân tộc mà không phải đổ máu; hận thù trong lòng dân tộc có thể không dai dẳng… nếu như nhóm chủ hòa trong Bộ Chính trị lúc ấy không thất bại. Và đó cũng là nguyên nhân hồ sơ vụ án vẫn khép kín, Đảng Cộng sản không đưa ra bất cứ quan điểm hay giải thích nào về sự kiện này. Nhỏ như dấu lặng trong âm nhạc cũng không phải là yếu tố không mang một giá trị hay ý nghĩa nhất định, huống gì lại muốn lấy im lặng chôn vùi một sai lầm lớn như thế?

Nhìn lại cả ba sự kiện: cải cách ruộng đất, cải tạo Nhân Văn – Giai Phẩm, vụ án xét lại chống Đảng, một điều nhận thấy là hàng loạt điều khoản đặt ra trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đã bị vi phạm. Ai xét xử vi phạm? Không còn ai cao hơn để thực hiện công lý! Việc đại diện xin lỗi trong vụ cải cách ruộng đất không nằm trong quy định của hiến pháp mà chỉ là tình cảm đạo lý, càng không thể dùng lời xin lỗi bỏ qua tội ác, xem như chuyện đã rồi. Sự vi hiến này phải được đưa vào một trang trong lịch sử tội ác chống loài người của CNCS toàn thế giới.

Bức tranh xám tối thời kỳ ấy là hậu quả của việc triệt tiêu tất cả những tư tưởng phi Mác-xít, không muốn bất cứ lực lượng và tiếng nói nào khác tồn tại ngoài Đảng Cộng sản. Đảng đã triển khai một ý thức hệ máy móc, chủ quan, tìm kiếm công bằng xã hội theo công thức đơn giản và phi lý: “công bằng = cào bằng”. Cho nên, cuộc cách mạng vô sản đánh đổ bất công đã thay vào đó bằng một bất công khác do bị ảnh hưởng bên ngoài mà thiếu tự lập tự chủ, thiếu sáng suốt bảo vệ quyền lợi dân tộc.

Sau này, chúng ta còn gặp lại cách hành xử đó trong các sự kiện chiêu dụ trí thức lập ra Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Khi đạt mục đích, Bộ Chính trị chủ trương “đổi chất đổi màu” tổ chức này, những trí thức công thần ban đầu chỉ còn chức vụ trên hình thức, rồi tiếp theo là tuyên bố hoàn thành nhiệm vụ, gia nhập vào Mặt trận tổ quốc và… chấm hết! Mặc dù hình thức có khác nhau, nhưng tựu trung lại bản chất là xuyên suốt, không phải là một lầm sai lầm cá biệt do hạn chế hoàn cảnh và  điều kiện lịch sử cụ thể.

 

Mô hình kinh tế XHCN

Mô hình này xuất phát từ Liên Xô những năm 1920, được đề xướng bởi E. Préobajensky từng tốt nghiệp đại học luật và kinh tế, tham gia vào hàng ngũ Bolchevik. Ông viết cuốn sách “ABC của CNCS”, được Staline tin dùng và áp dụng vào thực tế bằng “bàn tay sắt” của mình. Những học giả khác cũng phụ họa theo, cho rằng các công trình kinh tế học phương Tây là tầm thường, là những “nọc độc” của kẻ biện hộ cho một chế độ thối nát. Viện sĩ E.Vagra (Liên Xô) còn cho rằng: “Thế giới TBCN sẽ sụp đổ về mặt kinh tế và sẽ đại bại trong cuộc thi đua hòa bình với CNXH”.

Bản tuyên bố chung của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế Moskva năm 1957 và 1960 ra đời với tám nguyên tắc, trong đó có hai nguyên tắc cơ bản: công hữu XHCN dưới hai hình thức toàn dân và tập thể, toàn bộ nền kinh tế hoạt động theo một kế hoạch tập trung thống nhất (không chấp nhận thị trường tự do). Đây là khuôn mẫu chung về lý thuyết, để từ đó vận dụng vào đường lối mỗi nước. Những trí thức Việt Nam đi đào tạo ở Liên Xô cũng lĩnh hội lý thuyết đó. Có người còn cực đoan chính trị trong kinh tế khi phân loại tư sản nguồn gốc nước ngoài đến đầu tư là kẻ địch. Vì thế, sau khi cách mạng thắng lợi, tư bản dân tộc tiếp tục trở thành đối tượng bị chuyên chính vô sản tấn công trực diện: bắt giam, tịch thu tài sản, quan hệ xuất nhập khẩu bị cắt đứt và chuyển sang nhà nước thực hiện.

Nghiên cứu kỹ mô hình sẽ thấy rất nhiều mâu thuẫn giữa nói và làm: tước đoạt của những kẻ tước đoạt; đấu tranh giai cấp là động lực của phát triển nhưng sau khi giành quyền quản lý thì không biết làm gì, làm như thế nào nên tự triệt tiêu động lực; tính ưu việt của chế độ mới là công hữu nhưng cuối cùng công hữu rơi vào một vài người có chức quyền và xảy ra phung phí, lạm quyền, tham nhũng; phê phán sản xuất hàng hóa nhỏ là nguồn gốc hàng ngày hàng giờ đẻ ra CNTB nhưng sản xuất lớn lại không thể kiểm soát được nền kinh tế; nhà nước độc quyền ngân hàng, xuất khẩu, ngoại thương trong khi trách nhiệm làm chủ tập thể một cách vô hình vô sản thì thuộc về toàn dân; chế độ kế hoạch hóa tập trung toàn quốc trong khi kế hoạch thực tế cơ sở không được chấp nhận; chế độ XHCN được cho là của cải sẽ tuôn ra dào dạt như nước chảy mùa xuân trong khi mọi thứ đều thiếu thốn, cũ kỹ lạc hậu và không tiện nghi…

Sai lầm cơ bản của mô hình kinh tế XHCN có thể nói là ở xuất phát điểm nền kinh tế lạc hậu, kinh tế thị trường chưa có hoặc chưa phát triển toàn diện nhưng sau khi tiến hành tước đoạt tư bản đã tin tưởng làm chủ hoàn toàn trong cuộc chiến “ai thắng ai”. Thường thì mô hình kinh tế tư bản là mở rộng tác động vào tự nhiên và xã hội đến đâu, người ta nghĩ ra cách quản lý phù hợp đến đó, hoặc muốn chủ động đi trước cũng phải liên kết, tập trung đủ điều kiện. Còn mô hình kinh tế XHCN là muốn chiếm đoạt quản lý và cải tạo trên một không gian rộng lớn để trở thành “thế giới đại đồng”, trong khi không thể và không bao giờ có một bộ máy đủ năng lực làm việc đó.

Thực ra, từ năm 1921 Lenin đã nhận ra lỗ hổng vấn đề. Những người vô sản đã tước đoạt của cải nhưng không thể tước đoạt trí tuệ của nhà quản lý tư sản: “Nếu có thể dùng cách xung phong mà chiếm lĩnh được trận địa kinh tế của CNTB thì thật là dễ chịu hơn nhiều”. Vì thế ở các nước XHCN đồng loạt diễn ra quy trình: chiếm đoạt – tiêu dùng – khủng hoảng – tụt hậu. Nôm na như người Việt từ xưa đã nghĩ về vai trò quản lý điều hành: “Một người lo bằng một kho người làm”. Nhưng sai lầm đó đã không được khắc phục, lại sa vào tư duy của Staline với phong trào Stakhanovist hay ở Trung Quốc với điển hình Lôi Phong, Đại Trại…

Cách xây dựng ngọn cờ đầu, tập thể điển hình ở Việt Nam là bản sao các hình thức trên. Đó là phong trào “Năng suất cao – hoa màu nhiều – chăn nuôi giỏi”, cải tiến quản lý xí nghiệp, ba xây ba chống, mỗi người làm việc bằng hai, những ngọn cờ đầu như Hợp tác xã Đại Phong (nông nghiệp), Nhà máy cơ khí Duyên Hải (công nghiệp), Hợp tác xã Thành Công (thủ công nghiệp)… Tất cả những nỗ lực cùng các phong trào rầm rộ trên được sự tiếp sức từ nguồn viện trợ các nước XHCN nhưng vẫn ì ạch sản xuất cũ, nhân công tăng nhưng vấn đề chính là sản lượng thì không tăng.

Việc tập trung nhiều điều kiện vào một đơn vị đã sẵn điều kiện nhằm “đánh bóng” cho tính ưu việt xã hội, mặc cho sau đó bao rối ren và bất công. Hàng ngàn đơn vị, tập thể và khu vực khác không nằm trong diện ưu tiên điển hình thì không bao giờ thoát ra khỏi đói nghèo, lạc hậu. Những đơn vị điển hình thậm chí cũng chỉ được một thời gian nếu không tiếp tục duy trì những điều kiện ưu tiên. Về các kế hoạch hàng năm và 5 năm, không đạt chỉ tiêu ở năm này và nhiệm kỳ này, lại đặt ra chỉ tiêu mới dội xuống cho tất cả các cơ sở thời gian đến. Trong những chỉ tiêu đạt hay vượt mức, lẫn lộn trà trộn cả báo cáo gian bởi con số không biết tự tố cáo.

Sau khi xây dựng những ngọn cờ đầu, những hợp tác xã bậc thấp, đến lượt tiến lên hợp tác xã bậc cao. Lúc này, lối canh tác lúa khô thảo nguyên lại về với đồng ruộng vốn ngàn đời chòm vạt nhưng phù hợp với cây lúa nước và kinh nghiệm Việt Nam. Còn hợp tác xã cũng chỉ là chủ trương tích tụ ruộng đất mức độ lớn hơn về sở hữu chứ không phải quy mô và trình độ sản xuất mang tính công nghiệp hiện đại. Hậu quả thấy ngay ở chiếc máy cày đồ sộ nhiều lưỡi “tiến thoái lưỡng nan” trên những vạt ruộng cao độ khác nhau đắp đập be bờ theo địa hình và hộ gia đình.

Ông Trần Phương, một chuyên gia kinh tế miền Bắc, từng nhận thấy sai lầm của mô hình kinh tế quy mô lớn áp dụng vào môi trường sinh sống cây lúa nước: “Nếu cây lúa mì thích hợp nhất với phương thức sản xuất lớn thì cây lúa nước lại là thứ cây lương thực ít thích hợp nhất với phương thức đó… Đặc tính sinh trưởng của thứ cây này có khuynh hướng trói buộc con người vào những thửa ruộng nhỏ”. Dạng chủ nghĩa “sùng bái quy mô” với lập luận: cỗ máy quy mô lớn tạo ra hiệu quả cao, đã mắc phải sai lầm ngay ở khâu đầu. Trong đó, cỗ máy không tập hợp nhiều bộ phận chức năng khác nhau, mỗi bộ phận được kết cấu bằng nhiều chi tiết để trở nên cơ động; mà ngược lại chỉ kết cấu bằng một số bộ phận và chi tiết đơn giản không thể đa năng toàn diện, dẫn đến cứng nhắc và ì ạch vận hành.

Đồng thời, quy mô lớn chỉ để tính số lượng báo cáo thành tích chung, mà quên lợi ích riêng từng cá nhân với những con người cụ thể có năng lực và nhu cầu đa dạng khác nhau. Từ lý luận “quy mô lớn tạo hiệu quả cao” đã hình thành niềm tin: nền sản xuất lớn XHCN sẽ có năng suất cao hơn hẳn sản xuất tư nhân và cá thể từ trước đến nay, trong khi lại không hình thành bất cứ phương pháp hay sự liên kết nhân vật lực nào triển khai khả thi. Nhìn bằng cặp phạm trù của Marx thì đó chỉ là cái vỏ hình thức mà bên trong không diễn ra sự biến đổi nào giữa chất và lượng. Niềm tin mù quáng ấy đã được nhà kinh tế học Ludwig Von Mises (Áo) cảnh báo: “Không thể nào đủ tri thức để thực hiện kế hoạch hóa tập trung, nó sẽ là cái “gót chân Achilles” CNXH”.

Cũng trong nền kinh tế XHCN, đồng tiền song hành với tem phiếu để chứng nhận một giá trị lao động. Người ta mang phiếu đến kho hàng hóa để nhận những thứ cần dùng. Về lý thuyết, CNXH còn ưu việt ở chỗ trực tiếp bao cấp cho mọi thành viên, nhất là trẻ em và người già, bằng những hiện vật và điều kiện cụ thể theo yêu cầu. Nhưng làm như thế nào để cân đo giá trị lao động tương đương với một giá trị hàng hóa một khi không có đồng tiền trao đổi trong thị trường và không có hệ thống điều hòa lợi ích xã hội… thì các nhà lý luận Mác-xít chưa kiến thiết cụ thể. Giải pháp kèm theo nhiều dạng hóa đơn, giấy tờ hành chính trong quan hệ thanh toán mà thực ra là nắm giữ và ban phát quyền hành, càng tạo ra phức tạp và chậm trễ. Đủ tiền cũng chưa chắc có được hàng nếu chưa đủ các giấy tờ quy định. Từ đó, bệnh quan liêu hành chính, chạy giấy tờ, mua bán hóa đơn lòng vòng ra đời. Đây là bước tư duy tụt lùi trở về thời kỳ chưa có đồng tiền, khi mà con người phải tạm hình thành thị trường trao đổi ngang giá và trực tiếp giữa các loại hàng hóa. Đồng tiền không được xem là phát minh của loài người, thị trường cũng bị thu hẹp vì cho rằng đó là biểu hiện của xã hội tư bản. Những nhà kinh tế cộng sản lấy ý chí của lãnh đạo xây dựng kế hoạch, trong khi phương Tây thì hình thành nền kinh tế thị trường và căn cứ vào thị trường làm kế hoạch. Kế hoạch kinh tế XHCN đầy những chỉ tiêu cấp trên giao cấp dưới thực hiện, trong khi kế hoạch của CNTB cập nhật những hợp đồng khách hàng, nguồn hàng, thị trường tiêu thụ… Nhưng khi tiếp thu mô hình kinh tế XHCN, các nhà hoạch định chỉ thấy mặt ưu việt của nó, ca ngợi và áp dụng bằng mọi giá.

Năm 1968, trong một cuộc họp, Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Dù thế nào cũng không để trẻ con ăn đói, CNXH mà để trẻ con ăn đói là xấu xa lắm”. Năm 1969, ông còn đi sâu vào quần chúng hơn khi chỉ đạo công tác nội thương: “Hàng năm phải giải quyết 3 cái quần cho phụ nữ và trẻ em. Về việc học, cần đủ bàn ghế cho trẻ em. Còn đối với nông thôn, nội thương phải có than, gạch, ngói trong vòng 3 đến 5 năm sẽ làm từng bước để nông dân có nhà. Nước chè đối với nông dân cũng cần lắm. Tiến một bước nữa chú ý đến cái giường, cái ghế, được cái đồng hồ nữa càng tốt”. CNXH mà chỉ ở tầm mức ấy, Tổng Bí thư mà quan tâm đến những việc như thế? Có gì mới khi những điều đó hàng ngàn năm nay người nông dân đã tự trang bị cho mình? Từ lý luận cao siêu đến thực tế có một sự chênh lệch lớn, thậm chí bất cập tuyệt đối.

Cuối những năm 1960, Trung ương Đảng còn ban hành Nghị quyết 9, trong đó nghi ngờ đường lối kinh tế mở và chủ trương phân công lao động quốc tế từ Liên Xô. Ông Bùi Công Trừng, Viện trưởng Viện Kinh tế, đề xuất nên đi vào quỹ đạo kinh tế thế giới qua hợp tác và phân công lao động, mở rộng xuất khẩu với các nước, liền bị ghép tội “biến Việt Nam thành vườn chuối của phe XHCN”. Để tránh bị chụp mũ, lập luận nào cũng phải trích dẫn các phát biểu của Marx, Lenin, các văn kiện nghị quyết của Đảng Cộng sản, lời của các lãnh đạo Bộ Chính trị… Tư duy này cũng nặng nề xâm chiếm vào cả các giáo trình và sách giáo khoa. Cho nên, từ kinh tế đến tất cả các lĩnh vực đều bị Mác-xít hóa.

Mức độ nhiễm hóa này trầm trọng đến nỗi những đoàn đi tham khảo nền kinh tế các nước XHCN như đoàn của ông Nguyễn Văn Trân đi Cộng hòa Dân chủ Đức, ông Nguyễn Ngọc Minh đi Liên Xô, ông Trần Phương đi Bulgaria và Bắc Triều Tiên… khi về một số người có những ý tưởng mới nằm ngoài đường lối chung đều không dám trình bày. Phần đông các đoàn này vẫn tiếp tục tư duy xơ cứng, chỉ thấy toàn cái hoàn thiện, cái đẹp hình thức bên ngoài của XHCN, lấy đó làm nội dung tuyên truyền cho người dân không được biết gì ao làng của mình. Cho nên Việt Phương đã mỉa mai những tuyên truyền ấy:

“Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ

Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng Mỹ”

Trong chiến tranh, Đảng Cộng sản chủ trương đấu tranh giành quyền lợi cho mọi tầng lớp. Khi hòa bình, cả xã hội nhận nhu cầu phân phối sinh hoạt từ hệ thống bán buôn nhà nước mà từ “bao cấp” có thể hiểu trực tiếp là: bao hết lại rồi mới cấp. Cấp như thế nào? Trước hết, đảng viên theo các thứ bậc khác nhau được đặc quyền đặc lợi khác nhau, rồi rộng rãi mới ra toàn dân. Năm 1958, trên cơ lập luận bảo vệ sức khỏe lãnh đạo, tránh bị ám sát đầu độc (thời chiến tranh có nhiều đảng viên hy sinh trong máu lửa, những đảng viên còn sống bước vào hòa bình ngồi ở chức vụ cao lại sợ bị đầu độc!), ngành công an và nội thương mở một số địa điểm bán lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng cho cán bộ cao cấp với quy định: cán bộ cấp thấp xếp tiêu chuẩn C, thứ trưởng tiêu chuẩn B, bộ trưởng tiêu chuẩn A, Bộ Chính trị tiêu chuẩn đặc biệt.

Những điểm bán hàng đó là số 17 – Tông Đảng, khu vực Nhà thờ ở quận Hoàn Kiếm, khu vực Vân Hồ ở quận Hai Bà Trưng… Ban đầu với lý do bảo vệ sức khỏe lãnh đạo, nhưng khi đồng tiền bị trượt giá, xã hội phải dùng hàng giá cao và khan hiếm, những điểm này lại đưa ra lý do bù vào lương thấp nên vẫn ưu tiên bán rẻ bán đủ hàng hóa cho các loại a, b, c và loại đặc biệt vốn là “đầy tớ của nhân dân”. Trong khi ở đây duy trì đặc quyền thì toàn xã hội đầy khó khăn vẫn nêu cao“dân chủ”, gây bất mãn trong nhân dân qua câu ca dao truyền miệng:

“Tông Đản là chợ vua quan

Nhà thờ chợ của trung gian nịnh thần

Đồng Xuân chợ của thương nhân

Vỉa hè chợ của nhân dân anh hùng”

Tư duy của những nhà lãnh đạo vẫn không hình thành rõ biện pháp cụ thể thúc đẩy kinh tế, chỉ xoay quanh những lý luận đã cũ. Hậu quả là nông nghiệp trì trệ, công nghiệp nặng kém hiệu quả, công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng không đáp ứng đời sống, lưu thông phân phối tắc nghẽn do khoanh vùng thị trường và nhà nước quản lý tất cả. Các đoàn nghiên cứu đi khắp các tỉnh ở miền Bắc và cả khối XHCN đã thấy ra vấn đề, nhưng không ai dũng cảm phát biểu sự thật: từ tước đoạt dẫn đến tham vọng chiếm đoạt tất cả, đến khi lực bất tòng tâm lại không thể thả ra vì sợ trở nên thỏa hiệp và mất tính giai cấp.

Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam (1955-1963)

 

Quá trình thiết lập

Xây dựng thể chế tự do ở miền Nam là chính sách nằm trong học thuyết Truman nhằm tạo ra hai gọng kìm chiến lược ngăn chặn sự bành trướng cộng sản: Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) và Đông Nam Á (Philippines, Thái Lan, Nam Việt Nam…). Theo Kế hoạch Memphis, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ quyết tâm “biến vĩ tuyến 17 thành một phòng tuyến ngăn chặn CNCS không thể xóa được”. Vì vậy, ngay từ năm 1951, CIA [26] đã liên lạc và tạo mối quan hệ với ông Ngô Đình Nhu.

Tháng 11-1953, hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc từ Pháp về Sài Gòn, được vua Bảo Đại mời đứng đầu lập ra nội các thay thế Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm. Tháng 1-1954, Chính phủ Bửu Lộc trình diện Quốc trưởng Bảo Đại. Ba tháng sau, Paul Harwood từ Hoa Kỳ được biệt phái sang Sài Gòn làm nhân viên Bộ Ngoại giao ở Đại sứ quán, đồng thời cố vấn cho một kế hoạch thay đổi nhân sự, cụ thể đến tháng 6-1954 phía Hoa Kỳ đề nghị Quốc trưởng giải nhiệm Bửu Lộc và thay bằng ông Ngô Đình Diệm. Vì vậy, Thủ tướng Bửu Lộc đã từ chức. Quốc trưởng mời Ngô Đình Diệm về nước, đến tháng 7-1954 thì nhà chính trị họ Ngô bắt tay vào việc thành lập chính phủ mới.

Ngô Đình Diệm sinh năm 1901 tại Huế, trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1916, ông vào học trường dòng. Năm 1919, ông học trường hành chính ở Hà Nội. Từ năm 1923 đến 1929, ông được bổ nhiệm nhiều chức quan triều khác nhau. Năm 1933, ông đề xướng lên Chính phủ Pháp một số nội dung cải cách hành chính nhưng không được chấp nhận nên từ chức. Ông vận động trí thức truất phế Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier, cũng không thành. Năm 1934, ông tham gia vận động quan lại, linh mục, cảnh sát, binh lính thành lập Đảng Đại Việt Phục hưng với chủ trương chống Pháp. Năm 1944, Pháp triệt phá tổ chức này, ông vào Sài Gòn. Tại đây, ông thành lập Ủy ban kiến quốc, tôn hoàng thân Cường Để từ Nhật về đứng đầu, nhưng người Nhật không đồng thuận. Qua nhiều nỗ lực, Ngô Đình Diệm lúc này vẫn chưa khởi nghiệp được con đường chính trị của mình.

Sau khi Bảo Đại thoái vị, ông cùng một số người trong gia đình bị Việt Minh bắt ở Phú Yên. Người anh ruột Ngô Đình Khôi bị Việt Minh xử tử, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn chạy thoát. Ông bị Việt Minh bắt giam tại Tuyên Quang, đến năm 1946 thì trả tự do. Năm 1950, ông theo anh trai là giám mục Ngô Đình Thục đến Tòa thánh Vatican, sau đó sang Hoa Kỳ và học tại các trường dòng Lakewood, Ossining. Sau Hiệp định Genève, ông về Sài Gòn tham gia nội các mới với chức vụ Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại, thuộc Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp.

Tháng 7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố không chấp nhận tổng tuyển cử vì miền Nam không tham ký Hiệp định Genève nên không bị ràng buộc. Hơn nữa, trước Hiệp định này một tháng, Hiệp ước ngày 4-6-1954 giữa Thủ tướng Joseph Laniel (Pháp) và Thủ tướng Bửu Lộc đã công nhận độc lập của Chính phủ phía Nam. Nửa tháng sau, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở phía Bắc tiếp tục kêu gọi hiệp thương, cử phái đoàn do ông Văn Tiến Dũng dẫn đầu vào Nam đàm phán. Hội đồng nhân dân cách mạng đã tổ chức biểu tình tẩy chay, đốt cháy khách sạn Majestic nơi phái đoàn phía Bắc lưu trú, khiến ICC phải can thiệp để đoàn trở về an toàn. Vì vậy, hiệp thương và tổng tuyển cử đã không thể xảy ra.

Cũng năm này, được quân Pháp hậu thuẫn, quân Bình Xuyên cùng quân đội Cao Đài – Hòa Hảo liên kết lập ra Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia, ra tối hậu thư đòi Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải thay đổi nội các và kêu gọi Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại lệnh Ngô Đình Diệm sang Pháp hội kiến, nhưng ông Diệm bất tuân. Hai bên tấn công lẫn nhau, giành quyền kiểm soát các cơ quan trọng yếu ở nội thành Sài Gòn. Ngày 30-4, sau cuộc giao tranh lớn, quân Chính phủ kiểm soát được thành phố, quân Bình Xuyên rút lui về rừng Sát. Quân Chính phủ mở tiếp những chiến dịch lớn tiêu diệt, buộc quy hàng gần hết các nhóm đối lập. Số còn lại chạy sang Campuchia và sang Pháp.

Trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đạt số phiếu ủng hộ cao hơn Quốc trưởng Bảo Đại, lên nắm quyền. Ngày 26-10-1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Quốc gia Việt Nam là một nước Cộng hòa”. Tháng sau, ủy ban dự thảo hiến pháp gồm 11 người bắt đầu nhiệm vụ và sau đó hiến pháp được ban hành. Quốc hội lập hiến cũng được bầu trong năm gồm 123 dân biểu với nhiệm kỳ ba năm. Nhà nước theo mô hình dân chủ tự do hình thành. Các đảng phái khác nhau như: Phong trào Cách mạng Quốc gia, Tập đoàn Công dân Vụ, Đảng Công nhân, Phong trào tranh thủ tự do, Đảng Dân chủ Xã hội, các nhóm chính kiến độc lập khác… đều được phân bổ số ghế trong quốc hội.

Chính phủ mới cũng chấm dứt việc cử phái đoàn tham dự các kỳ họp và hoạt động của Nghị viện Liên hiệp Pháp và đòi quân Pháp rút khỏi Việt Nam. Tháng 9-1956, những người lính Pháp cuối cùng về nước. Tháng 3-1957, ông bà Ngô Đình Nhu đi thăm Hoa Kỳ, diện kiến Tổng thống Dwight Eisenhower cùng các quan chức Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Giám đốc CIA Allen Dullles. Tháng 5-1957, Tổng thống Ngô Đình Diệm lên đường công du theo lời mời của Hoa Kỳ. Đến năm 1960, có 55 quốc gia công nhận Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Chính phủ triển khai chương trình ưu tiên tái thiết hệ thống đường sắt, cải cách điền địa, tái định cư cho gần 1 triệu đồng bào từ Bắc vào. Việc khai hoang trồng cao su ở miền Đông và Tây Nguyên, đầu tư vùng lúa nước Tây Nam bộ được chú trọng. Năm 1962, chính phủ đề ra chương trình khu trù mật, rồi chương trình ấp chiến lược ở nông thôn trong nỗ lực giành dân và cô lập cộng sản, nhưng thường bị chiến tranh du kích của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phá hoại nhiều nơi.

Ở Sài Gòn, hoạt động công thương nghiệp trước đây phần lớn thuộc Hoa kiều kiểm soát. Năm 1956, đạo luật hạn chế người Hoa tham gia một số nghề cung – cầu lớn như bất động sản, thóc gạo, than đá, dầu lửa… đã tạo điều kiện cho doanh nhân người Việt phát triển. Chính phủ buộc 1 triệu người Hoa phải nhập Việt tịch nếu không sẽ trục xuất. Do vậy, đến 1961 chỉ còn 2.000 người giữ Hoa tịch. Chính phủ cũng cho khai thác quặng mỏ, phát hành tiền tệ riêng.

Lễ Hai Bà Trưng được công bố là đại lễ toàn quốc hàng năm. Ngày ban hành Hiến pháp 26-10-1956 được chọn làm ngày Quốc khánh Việt Nam Cộng hòa. Bộ Thông tin – Thanh niên được lập ra, thay thế Bộ thông Tin – Chiến tranh tâm lý. Năm 1957, Thư viện Quốc gia và Trung tâm Văn hóa với 1 triệu cuốn sách, ba thính đường (1000, 500 và 200 chỗ ngồi) được khai trương. Viện Đại học Huế là trường đại học thứ hai cũng được thành lập. Tại Huế, chính phủ còn mở thêm Đại học Y khoa dưới sự trợ giúp của Chính phủ Canada. Viện Đại học Sài Gòn có thêm Khoa Dược. Các ấn phẩm báo chí đa dạng: tạp chí có Sáng Tạo, Văn Hóa Ngày Nay, Bách Khoa, Hiện Đại, Nhân Loại, Văn Học; báo thường nhật có Chính Luận, Tự Do, Ngôn Luận, Sống, và Xây Dựng…

Cải cách điền địa lần thứ nhất

Lúc này, đại điền chủ chiếm 2,5% dân số ở miền Nam và sở hữu 45% ruộng đất, 73% dân số tiểu điền sở hữu 15%. Ở các vùng Việt Minh kiểm soát, các nông trại của Pháp bị tịch thu và chia cho nông dân. Năm 1955, Hoa Kỳ cử đoàn cố vấn do chuyên gia cải cách điền địa W. Ladejinsky dẫn đầu giúp Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Đến 1960, Hoa Kỳ viện trợ 12 triệu USD triển khai. Chính phủ dựa vào luật pháp cho phép địa chủ chiếm lại 750.000 hecta mà Việt Minh đã chia cho nông dân, vì vậy không ít nông dân phải trở lại thân phận tá điền.

Để giải quyết vấn đề này, Dụ số 57 ban hành tháng 10-1956 quy định mỗi địa chủ giữ không quá 100 mẫu ruộng canh tác riêng và 15 mẫu ruộng hương hỏa. Trong 100 mẫu, 30 mẫu phải trực canh, 70 mẫu còn lại cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Nhà nước trưng mua diện tích dư ra và trả bằng 10% tiền mặt cộng với trái phiếu trả trong 12 năm, mỗi năm lãi 5%. Hơn 2.000 điền chủ sở hữu 425.000 mẫu ruộng bị điều chỉnh. Chính quyền lấy ruộng trưng mua bán lại cho bốn thành phần ưu tiên theo thứ tự: người đã tá canh hơn hai năm, cựu chiến binh, dân di cư và người thất nghiệp. Mỗi hộ được mua không quá 5 ha, tiền trả trong 6 năm. Ruộng đất vẫn thuộc sở hữu của chính quyền cho đến khi hết nợ. Trong 10 năm, người mua không được đem cho thuê hay bán lại đất ruộng.

Rất nhiều ruộng đất được dành cho người di cư từ Bắc vào, thay vì dân tại chỗ. Phần còn lại về tay các chủ đất cũ hoặc người có khả năng mua, người trong chính quyền các cấp… Theo quy định, mỗi hộ chỉ được giữ tối đa 100 mẫu nhưng cũng có một số chia cho nhiều người trong gia tộc đứng tên nên đã tránh bị điều chỉnh. Chính phủ còn thu và trả lại cho chủ đất cũ những vùng mà nông dân địa phương đã chiếm, gây ra mâu thuẫn. Cải cách điền địa làm cho hàng quan chức nhanh chân chiếm đoạt trở nên giàu có, càng làm cho dân chúng căm ghét.

Hậu quả là đến năm 1958, đất ruộng Nam bộ lại tích tụ vào người có điều kiện, một nửa tá điền không có ruộng. Trong giai đoạn 1956 – 1961, chính quyền cơ sở đã thu 650.000 mẫu, trong đó chỉ 244.000 mẫu được chia lại đến cuối 1958, chủ yếu cho người di cư, binh lính. Ruộng đất của Pháp là hạng ruộng tốt nhất vẫn nằm trong tay chính phủ và không được chia cho dân. Theo Bộ Điền thổ và Cải cách điền địa, giữa 1960 đã đo đạc hàng trăm ngàn mẫu và bán lại cho gần 130.000 người thuộc một triệu hộ tá điền – con số giải quyết được rất nhỏ. Khác với cải cách ruộng đất ở phía Bắc, cải cách điền địa không tập trung tuyệt đối đất đai vào nhà nước và quá trình thực hiện không gây oan khiên, đổ máu. Mức độ oan sai cũng chỉ dừng lại ở tước đoạt và đền bù không thỏa đáng.

Nhưng cả hai cuộc cải cách đều đối mặt với một vấn đề đã hình thành và tồn tại ngàn đời: tư hữu đất đai. Tranh giành đất đai ở quy mô lớn trong chế độ quân chủ từng là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh. Nhà văn Lep Tônxtôi (Leo Tolstoy) của dân tộc Nga từng nhận định: “Phá bỏ tư hữu là đưa con người trở lại với thời kỳ dã man”. Nhìn vào vấn đề đất đai, thay đổi và làm xáo trộn chủ sở hữu chính là phá bỏ tư hữu. Cuộc cải cách phía Bắc và phía Nam cho thấy hiến pháp hay sắc lệnh thường chỉ là bộ mặt ưu việt của một thể chế. Vấn đề là việc áp dụng và thực hiện bằng một chính sách khôn ngoan và đội ngũ cán bộ công tâm như thế nào sẽ quyết định mức độ ưu việt trên thực tế. Điều này vẫn còn lặp lại cho đến ngày nay.

 

Hiến pháp 1956

Đây là bản hiến pháp của nền Đệ nhất Cộng hòa. Lời mở đầu khẳng định không gian địa lý: “Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”, lại nhằm: “hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo hóa”. Không gian địa lý đó cũng là không gian chủ quyền: “Việt Nam là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Cho nên không gian địa lý và không gian thể chế Việt Nam Cộng hòa đã không trùng khớp nhau. Điều này cho thấy để tiến tới thống nhất đất nước, tư tưởng không thể cùng tồn tại hai nhà nước trên một lãnh thổ xuất hiện ở cả trong hiến pháp.

Điều 3 và điều 4 thể hiện sự tiến bộ của nền dân chủ có pháp luật đứng đầu khi quy định: “Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt” (điều 3) và: “Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ tự do, dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập” (Điều 4). Hiến pháp đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, cũng đồng nghĩa với luật hóa việc đàn áp và tiêu diệt: “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp CNCS dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong hiến pháp” (điều7).

Mặc dù còn đơn giản, nhưng tinh thần chung của hiến pháp là tôn trọng quyền và giá trị con người, từ hội nhóm đoàn thể đến cá nhân. Các quyền được đề cao là: sinh sống tự do và an toàn; không bị bắt giam, tù đày một cách trái phép; quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh khi ra tòa; không bị tra tấn, chịu hình phạt hay đối xử tàn bạo, bất nhân, làm mất phẩm cách; những vấn đề về đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, thanh danh, thư tín… được tôn trọng; tự do ngôn luận, báo chí; tự do tín ngưỡng, hành giáo, truyền giáo, miễn là không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục; quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu…

Tuy nhiên trong quá trình căn cứ hiến pháp ban hành các đạo luật, Nhà nước Việt Nam Cộng hòa cũng mắc nhiều sai lầm, gây ra dư luận xã hội trái ngược nhau. Luật bảo vệ gia đình (1958) do bà Trần Lệ Xuân đề xướng, trong đó quy định vợ chồng không được ly hôn nếu tổng thống chưa “cứu xét”. Luật bảo vệ luân lý (1962) lại cấm đấu quyền Anh, đánh bạc, chọi gà, ngừa thai, phá thai, mại dâm, khiêu vũ… vì cho rằng đi ngược lại đạo đức và luân lý. Về công nhận quyền sở hữu ruộng đất, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 2 và Dụ số 7 trong năm 1955 buộc nông dân lập khế ước tá điền trong cải cách điền địa không khác chương trình cải cách trước kia của vua Bảo Đại, lại thêm bất công. Cách hành xử cứng rắn với các quan hệ cộng sản cũng gây chia rẽ và mâu thuẫn mà mục tiêu không đạt được. Cụ thể gia đình thuộc thành phần Việt Minh còn nằm vùng sau di cư bị đưa ra trước công chúng và bắt phải cam kết không tiếp tục liên hệ với cộng sản. Đạo luật 10/59 còn lập ra tòa án quân sự, xét xử tại chỗ bằng máy chém đối với cộng sản. Từ năm 1954 đến 1960, hơn 48.000 người bị bắt giam vì tội danh “cộng sản”. Do đó, phía cộng sản càng phản ứng quyết liệt bằng bạo động, khủng bố nhằm vào giới chức chính quyền địa phương, khu trù mật và các ấp chiến lược. Có năm xảy ra gần 200 vụ ám sát với hơn 1.400 nạn nhân. Thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, có một nơi bất ổn và nguy hiểm nhất ở miền Nam, đó là cả vùng nông thôn rộng lớn ở miền Nam!

Mục đích cơ bản của cải cách điền địa là phát triển nông nghiệp, nhưng chương trình cũng nhằm giành dân, mở rộng khu vực quản lý của chính quyền, thanh trừng cộng sản ra khỏi các khu dân cư. Nhưng cộng sản không chỉ gắn vào khu dân cư, mà còn ràng rịt các quan hệ vợ chồng, anh em, gia đình, dòng họ… Đó là sợi dây huyết thống bền chặt ngàn đời, chính quyền đã không thể nhanh chóng cắt đứt được tình thân bằng bạo lực. Buộc những người thân phải cam kết ly khai cộng sản cũng chỉ đạt được hình thức trên giấy mực. Điều này một lần nữa chứng minh chính sách gây chia rẽ mà không hợp với ý nguyện nhân dân đều không thể tồn tại trong lòng dân tộc.

 

Đảo chính 1963

Đây là sự kiện bi thảm kết thúc nền Đệ nhất Cộng hòa, do nhiều rạn nứt và bất ổn từ nội các chính phủ lan ra toàn xã hội. Trong chính quyền cấp cao, hiện tượng gia đình trị xuất hiện, thêm chứa đựng bên trong nhiều mâu thuẫn. Một số nhân vật quan hệ thân thuộc với Tổng thống, tuy không có chức vụ nhưng thực tế quyền hành rất lớn. Trên danh nghĩa, nhiều đảng phái bình đẳng tham gia vào quốc hội, Đảng Cần lao Nhân vị của ông Ngô Đình Nhu vẫn chiếm ưu thế. Liên kết với Đảng Cần lao Nhân vị còn có Phong trào Cách mạng Quốc gia quy tụ nhiều đoàn thể như: Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia, Đoàn Thanh niên Cách mạng, Phong trào Phụ nữ liên đới. Vào năm 1955, Đảng Cần lao lúc mới thành lập có có 10.000 đảng viên, đến 1959 đã có một triệu rưỡi đảng viên. Trong gia đình, cùng với bất đồng giữa ba anh em Nhu – Diệm – Cẩn, lại thêm Trần Lệ Xuân khuynh loát chính trường, thậm chí ra mặt coi thường cả Tổng thống. Ông Ngô Đình Cẩn không ủng hộ Tổng thống về chương trình ấp chiến lược ở miền Trung. Khi nói chuyện với CIA, ông Nhu đề nghị thay Tổng thống Diệm… Đại diện CIA cũng lưu ý với ông Nhu về hoạt động bí mật và vi hiến của một bộ phận Đảng Cần lao do Ngô Đình Cẩn đứng đầu ở miền Trung như một lãnh chúa tách rời. Nhưng ông Nhu bất lực trong can thiệp và điều chỉnh.

Rối ren tiếp theo là biểu tình chống đối của Phật giáo. Bất chấp lệnh cấm, trong tháng 5 các chùa ở Huế vẫn công khai treo cờ Phật giáo. Chính quyền phản ứng bằng vây bắt và đàn áp. Vào tháng 6, Sài Gòn chứng kiến sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu phản đối chính sách bất bình đẳng giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, gây chấn động trong và ngoài nước. Tại chùa Giác Minh do Thượng tọa Thích Tâm Châu trụ trì và chùa Xá Lợi do Thượng toạ Thiện Minh trụ trì, các cuộc tập trung của quần chúng ngày càng đông và thường xuyên hơn. Mặc dù giữa Phật giáo và chính quyền đã cam kết hòa giải nhưng chỉ là hình thức. Đỉnh cao bùng nổ mâu thuẫn vào lễ Phật Đản 1963, khi cảnh sát giải tán biểu tình tại các chùa, nhiều cuộc chạm trán giữa lựu đạn cay và gạch đá diễn ra. Quần chúng thêm thiện chí và quyết tâm ủng hộ Phật giáo chống chính phủ. Sau đó, biểu tình lan rộng ra học sinh sinh viên và nhiều tầng lớp khác.

Mặt khác, chính phủ còn cản trở và cấm đoán hoạt động của các đảng phái đối lập. Tháng 7-1956, lãnh đạo Đảng Xã hội bị bắt giam. Các khu vực của Đảng Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng ở miền Trung bị triệt phá. Không có một cơ chế nào kiểm soát hệ thống quyền lực ngầm chứa nhiều bất đồng này. Tướng Edward Lasdale của Hoa Kỳ ở Sài Gòn lúc này nhận thấy nguy cơ cực quyền, độc đoán, tàn sát, gây căm phẫn trong chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm, đã đề nghị Đại sứ Frederick Nolting ngăn cản. Nhưng chính quyền Hoa Kỳ đã có một đối sách khác.

Nhân kỷ niệm Quốc khánh Hoa Kỳ (4-7-1963), Tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh dự buổi tiệc do Đại sứ Hoa Kỳ tổ chức. Tướng Trần Văn Đôn gặp đại diện CIA thông tin tình hình quân đội muốn lật đổ Tổng thống. Tướng Nguyễn Khánh tỏ thái độ với Tổng thống Diệm và một số nhân viên CIA về việc ông không phục ông Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm. Theo ông, họ chỉ dựa vào nhau mưu cầu quyền lợi riêng mà không thật sự vì lý tưởng. Lại thêm đến Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa (7-7-1963), nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) tự vẫn, để lại bức thư phản đối sự chà đạp các giá trị tự do và bắt giam các thành phần quốc gia chân chính. Thư được đưa ra công luận càng đẩy những mâu thuẫn từ nội bộ đến rộng rãi trong xã hội lên cao.

Ngày 1-11, lực lượng thuộc Hội đồng quân nhân cách mạng chiếm Công dân Vụ và Bộ Tư lệnh lực lượng đặc biệt. Đến trưa, nơi làm việc của Tổng thống cũng bị chiếm. Biểu tình của dân chúng rầm rộ trên các đường phố. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu rút về dinh Gia Long liên lạc với các đơn vị trung thành nhưng không có kết quả, sau đó lánh nạn trong một nhà thờ và gọi điện muốn trình diện. Lực lượng đảo chính đến áp giải ông Diệm và ông Nhu về Bộ Tổng tham mưu, nhưng trên đường đi cả hai ông đã bị bắn chết. Đệ nhất Cộng hòa kết thúc trong bi thảm.

Đệ nhị Cộng hòa (1963 – 1975)

 

Nguyễn Văn Thiệu là vị tướng cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trước đó, vào năm 1962, ông là tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh, quân hàm đại tá. Năm 1963, sau khi tham gia lật đổ nền Đệ nhất Cộng hòa, ông được thăng cấp tướng. Nhưng cũng chính các tướng lĩnh trong Hội đồng quân nhân cách mạng lại nghi ngờ nhau. Trong hoàn cảnh đó, tướng Nguyễn Khánh tạm thời điều hành chính quyền.

Tháng 2-1964, ông Nguyễn Văn Thiệu đã đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nắm những chức vụ quan trọng trong quân đội, chuẩn bị lực lượng hậu thuẫn nhằm loại trừ ông Nguyễn Khánh. Lúc này, ông Nguyễn Văn Thiệu đang là Tổng trưởng Quốc phòng. Khi Thủ tướng Phan Huy Quát giải tán Chính phủ (nội các trung lập), giao quyền lãnh đạo cho quân đội (nội các chiến tranh), Hội đồng quân lực đã bầu Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia. Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp. Năm 1967, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức nhậm chức qua kết quả bầu cử, khai sinh ra thể chế Đệ nhị Cộng hòa.

 

Hiến pháp 1967

Hiến pháp được quốc hội thông qua ngày 18-3-1967, gồm 117 điều. Hiến pháp xác định “thiết lập một chánh thể Cộng hòa của dân, do dân và vì dân”. Quốc hội và các cấp chính quyền thực hiện theo mô hình Nhà nước dân chủ phương Tây. Hiến pháp nổi bật ở ba điểm: mở rộng và đảm bảo quyền công dân theo phạm vi nhân quyền thống nhất toàn thế giới; loại trừ CNCS; xây dựng bộ máy nhà nước được trang bị pháp luật mạnh và độc lập với các đảng phái. Yêu cầu được đặt lên hàng đầu là “tam lập phân quyền”, các cơ quan lập pháp – hành pháp – tư pháp phân nhiệm phân quyền rõ rệt, sau đó mới “phối hợp điều hòa” (điều 3).

Cơ quan quyền lực quốc hội lập theo lưỡng viện, trong đó quy định rõ số lượng, quyền hạn, cơ cấu, hoạt động từng viện. Các chức danh chủ chốt, kể cả Tổng thống, và nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cơ sở cũng không nằm ngoài ràng buộc của hiến pháp. Thể chế cộng hòa cương quyết “chống CNCS dưới mọi hình thức”“cấm tuyên truyền hay thực hiện CNCS” (điều 4). Cũng như Hiến pháp 1957, các quyền công dân được khẳng định lại đầy đủ, đồng thời bổ sung những nội dung mới như: nhận tội vì bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách chưa được xem là tội phạm; bị xét xử oan sau khi được tuyên bố vô tội có quyền đòi bồi thường; không bị giam vì thiếu nợ; người dân được tự do lập nghiệp đoàn và có quyền đình công, quyền nêu thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp; gia đình binh lính được hỗ trợ chế độ nuôi dưỡng con cái.

Về các hoạt động tôn giáo, ngôn luận và đảng phái, nổi bật có quy định: nhà nước không công nhận tôn giáo nào là quốc giáo, vô tư trước sự phát triển tôn giáo đúng quy định; ngôn luận, báo chí và xuất bản không nằm trong chế độ kiểm duyệt của nhà nước trừ điện ảnh và sân khấu kịch; các đảng phái được tự do thành lập, hoạt động theo thể thức và điều kiện luật định, khuyến khích tập trung hình thành lưỡng đảng (điều 99, 100). Để các đảng phái không điều hành quân đội, hiến pháp quy định: “quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái” (điều 23).

 

Cải cách điền địa lần thứ hai

Cải cách lần này diễn ra trong bối cảnh cải cách điền địa lần thứ nhất có nhiều hạn chế và các vùng nông thôn thuộc Mặt trận giải phóng miền Nam kiểm soát ngày càng mở rộng buộc Đệ nhị Cộng hòa phải giành lại thế chủ động kiểm soát. Vấn đề này được nêu ra trong cuộc gặp giữa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Richard Nixon, kết quả Hoa Kỳ đồng ý viện trợ 40 triệu USD cùng với việc cử chuyên gia phát triển nông thôn hỗ trợ. Những điều chỉnh tích cực của các cách điền địa lần hai được xem là thành công lớn nhất của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong thời gian nắm quyền.

Trước tiên, ông cho soạn thảo Luật người cày có ruộng, đến tháng 3-1970 thì được thông qua và ban hành. Luật quy định ruộng đất không canh tác đương nhiên bị tịch thu, được bồi thường thỏa đáng theo thời giá bằng hình thức chính phủ phát hành công phiếu chi trả. Diện tích thu được ưu tiên cấp phát miễn phí cho tá điền: 3 mẫu/gia đình ở Nam bộ, 1 mẫu/gia đình ở Trung bộ và Cao nguyên. Dự kiến hơn 1,5 triệu mẫu thu mua lại sẽ cấp miễn phí cho 80 vạn hộ nông dân kèm với giấy chứng nhận sở hữu. Những đại điền sở hữu không quá 15 mẫu.

Các tổ chức tôn giáo, vẫn giữ được diện tích đất đáng kể. Sở hữu nhiều nhất là nhà thờ Cầu Ngang 529 mẫu, nhà thờ Bãi Sang 432 mẫu, nhà thờ Bình Hạnh Đông 570 mẫu… Các giáo xứ và khu vực người miền Bắc theo Thiên Chúa giáo di cư vào Nam vẫn tiếp tục sở hữu nhiều ruộng đất. Luật cũng quy định những khoản nợ của tá điền với địa chủ trước đây đều hủy bỏ, ruộng đất do Việt Minh cấp cho nông dân được hợp thức quyền sở hữu bằng giấy tờ của Việt Nam Cộng hòa và được miễn thuế năm đầu.

Để thực hiện luật, Tổng thống cho lập ra Ủy ban cải cách điền địa các cấp nhằm thống kê quỹ đất, nắm thực tế sở hữu và canh tác, lập danh sách cấp giấy chứng nhận sở hữu mới, kê khai đền bù… Việc kê khai và nhận giấy chứng nhận sở hữu là bắt buộc; ngược lại sẽ bị tịch thu đất, bị ghép tội ngăn cản thi hành luật và chịu phạt bằng nộp tiền hay ở tù. Đến giữa năm 1974, toàn miền Nam đã cấp phát gần 1,3 triệu mẫu cho 75 vạn hộ gia đình với khoảng 5 triệu nhân khẩu, cấp 693.258 sổ sở hữu, bồi thường 151 tỷ đồng cho người nhượng đất ruộng.

Ruộng đất do cộng sản các vùng chiếm và cấp không cho nông dân bị Luật người cày có ruộng điều chỉnh lấy lại, chia đều và buộc các hộ gia đình nông dân có sổ chủ quyền, chấm dứt tình trạng tá canh làm thuê và thiếu nợ chủ điền. Hơn thế nữa, cải cách đã biến 80% nông dân thành tư sản trung nông. Song song với chia đất, nhờ chính sách hỗ trợ từ Hoa Kỳ, lối sản xuất lạc hậu đã được thay bằng áp dụng tiến bộ kỹ thuật, chăm sóc và bảo vệ mới, năng suất tăng cao. Giống lúa IR-3 được nhập từ Philippines, đến năm 1971 đã đưa vào canh tác gần 50% diện tích. Những đại điền được đền bù số tiền lớn cũng nhanh chóng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh, đầu tư dịch vụ nông nghiệp, chuyên chở hàng hóa và nông sản, chế biến thực phẩm… Từ đó, nền kinh tế hàng hóa nông thôn hình thành. Nhiều nước và các hãng truyền thông thế giới đều công nhận đây là một chương trình cải cách thành công.

 

Mậu Thân 1968 và vụ thảm sát Sơn Mỹ

Mậu Thân 1968 là sự kiện kinh hoàng cộng sản gây ra ở miền Nam, xuất phát từ nhóm lãnh đạo chủ chiến trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản phía Bắc. Lúc này như đã đề cập, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đều nằm ngoài quyết định phát động cuộc tổng tiến công. Trước đó, hai bên đạt được thỏa thuận ngưng bắn 36 giờ để quân nhân và người dân hai miền đón tết. Nhưng quân chủ lực phía Bắc đã đơn phương vi phạm, tuyệt đối bí mật di chuyển vào Nam trong một kế hoạch phối hợp với Mặt trận giải phóng miền Nam mở trận đánh mà theo ông Lê Duẩn là nhằm tạo “một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”.

Nhằm tăng cường bất ngờ và đánh lạc hướng phòng thủ hậu phương của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trước đó 10 ngày, quân chính quy phía Bắc mở trận đánh ở tiền phương Khe Sanh. Trong quá trình lập kế hoạch tác chiến cuộc tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam, quân chính quy cộng sản mắc phải ba sai lầm: đánh giá thấp cho rằng thực lực, chiến thuật và tinh thần của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đủ khả năng chống đỡ; hy vọng có sự hỗ trợ của nhân dân cùng nổi dậy như những năm 1945 Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền nhằm chiếm các cơ quan và lật đổ chính thể nhưng thực tế ngược lại; khi đã vỡ trận vẫn không quyết định rút lui kịp thời nên phải trả giá nặng nề nhất càng về sau.

Chiến dịch diễn ra ba đợt trong năm. Đợt thứ nhất trong tháng 1 và 2, lợi dụng bất ngờ và chủ động chuẩn bị trước, cộng sản đồng loạt tấn công ở 41 tỉnh thành và khu vực toàn miền Nam, tiêu diệt và làm chủ nhiều khu vực. Đợt thứ hai từ tháng 5 đến tháng 7, hai bên giằng co nhau trên từng chiến trường, thể hiện khả năng cận chiến quyết liệt, trong đó cộng sản yếu thế dần nhưng vẫn kiên quyết bám trụ. Đợt ba trong tháng 8 và 9, khi quân cộng sản không còn khả năng cầm cự, bị tiêu diệt, đẩy lùi và thiệt hại nặng nề. Tính cả binh lính và thường dân hai phía, có trên nửa triệu người đã chết. Tang thương nhất là Huế với trận chiến 25 ngày đêm. Trong ba tuần chiếm đóng thành phố, quân đội cộng sản đã sát hại hàng loạt dân thường mà họ cho là thành phần chống cộng: liên quan đến quân nhân Việt Nam Cộng hòa, Thiên Chúa giáo, công chức làm việc cho chính quyền…

Khi rút đi trong thất bại và hy sinh, quân cộng sản còn áp giải theo hàng ngàn người. Mục đích của tàn quân rút lui là lấy người dân làm lá chắn sống, gây khó khăn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong trường hợp bị truy quét. Nhưng những đoàn người bị áp giải lại gây ra chậm trễ và mất cơ động, có nguy cơ bị bắt sống toàn bộ. Cuối cùng, quân cộng sản quyết định giết hại tất cả. Ngay sau kết thúc chiến sự đợt thứ ba, hàng loạt địa điểm dân thường bị chết ở các vùng rừng núi ngoại thành được phát hiện, mỗi nơi chồng chất hàng trăm bộ xương người đã rữa thịt. Ngày nay, tết Nguyên Đán đối với người dân Huế còn là ngày đại giỗ ở nhiều làng, cùng với lễ cầu siêu cho không biết bao vong linh vô tội đã chết vì súng đạn hận thù từ tết Mậu Thân. Trong lòng dân tộc, đó là một vết thương không bao giờ lành.

Đến cuối năm 1968, cộng sản rút lui toàn bộ. Cùng với hàng trăm ngàn người dân bị chết oan, trên khắp các chiến trường còn có nhiều máu xương những người lính “sinh Bắc tử Nam”. Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn truy quét cộng sản nhiều nơi, đẩy lùi sang tận Lào và Campuchia, thu lại gần hết các “vùng giải phóng”. Chính thể Đệ nhị Cộng hòa càng thêm vững vàng. Về phía Đảng Cộng sản, Bộ Chính trị đã biện hộ cho thất bại chủ chiến và tội ác tày trời của mình là một thắng lợi tinh thần”: làn cho Tổng thống Johnson phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc và nối tiếp đàm phán, dư luận ở Hoa Kỳ và trên thế giới phản đối chiến tranh đòi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Để có thắng lợi tinh thần” này, bao nhiêu xương máu của dân thường và những người lính hai bên đã đổ ra. Cuộc tấn công Mậu thân 1968 có thể nói ở mức độ tàn khốc, toàn diện và tổng lực nhất.

Cũng trong năm 1968, vụ thảm sát tại làng Sơn Mỹ diễn ra, giữa tháng 3 ở thôn Mỹ Lai 4 và Mỹ Khê 4 thuộc làng Sơn Mỹ, Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Theo các dữ liệu lịch sử, khoảng 500 thường dân, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, bị giết hại. Thực hiện vụ thảm sát là đại đội Charlie thuộc lục quân Hoa Kỳ. Trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, tính đến lúc này, đại đội có hàng chục đồng đội đã tử trận và bị thương.

Sáng ngày 16-3, sau những loạt đạn bắn xuống từ trực thăng, đại đội bắt đầu đổ bộ. Đại tá Oran K. Henderson ra lệnh cho các sĩ quan cấp dưới: “Tìm kẻ địch và xóa sạch chúng”. Không tìm thấy cộng sản, những người lính viễn chinh tập hợp dân làng và xả súng vào họ. Trung tá Frank A. Barker ra lệnh tiểu đoàn 1 đốt nhà, giết gia súc, phá hủy nguồn dự trữ lương thực và các giếng cung cấp nước uống. Ở rìa một làng, hàng chục người bị dồn xuống một con mương và bị xả súng. Một nhóm người bị dồn vào giữa làng và bị tiêu diệt. Trung đội 2 đã giết những người bắt gặp khi càn qua phía Bắc thôn Mỹ Lai 4 và Bình Tây. Trung đội 3 bao vây và giết nhiều người, sau đó tìm giết tất cả người và gia súc còn cựa quậy những nơi ẩn nấp hoặc trong các đống xác chết.

Trong hai ngày tiếp theo, các đơn vị tiếp tục đốt phá làng xóm và tra tấn những người bị bắt. Thompson trong phi đội lái máy bay trực thăng nhìn thấy một nhóm dân thường trốn thoát trong một căn hầm. Máy bay hạ cánh và cứu được một nhóm sống sót, trong đó có một em bé toàn thân đầy máu. Vụ thảm sát đến tai chỉ huy cấp cao và bị hạ lệnh lập tức dừng lại. Những gì diễn ra chỉ được báo cáo trong nội bộ và giữ kín đến năm 1970 thì bị lộ ra trước dư luận báo chí. Một năm sau đó là thời gian tướng William Peers cùng ủy ban điều tra lập ra đã tiến hành lấy lời khai của hàng trăm nhân chứng và những người liên quan. Hàng chục người bị buộc tội, kể cả các sĩ quan cấp trên đã ra lệnh. Calley bị tòa tuyên án vào tháng 9-1971 với tội danh cố ý giết người và ra lệnh cấp dưới giết người. Ban đầu, Calley bị tuyên án chung thân nhưng sau đó Tổng thống Nixon ra lệnh ân xá. Tuy nhiên, Calley phải chịu án gần 5 tháng tù quân sự. Năm 66 tuổi, William Calley công khai xin lỗi với người dân Sơn Mỹ và nhân dân Việt Nam, cũng như dư luận thế giới: “Mỗi ngày qua đi tôi cảm thấy hối hận với những gì đã xảy ra”.

Không chỉ khác về quy mô và số tử vong, trận thảm sát Sơn Mỹ còn có nhiều điểm khác biệt với trận Mậu Thân. Vụ giết hại của lính Mỹ bị đưa ra truyền thông Hoa Kỳ và quốc tế, trong thời gian dài bị dư luận phản đối. Trong khi quân cộng sản sát hại hàng chục ngàn dân thường, còn ngụy biện chạy tội bằng một thắng lợi tinh thần”. Dù muộn nhưng những người lính Mỹ sám hối và công khai xin lỗi kèm theo vận động kinh phí xây trường học cùng một số việc làm khác giúp làng Mỹ Lai, trong khi những lãnh đạo chủ chiến trong Bộ Chính trị vẫn không có bất kỳ lời nói hay hành động nào với người dân Huế và khắp miền Nam. Đến khi các cá nhân chủ chiến lần lượt qua đời, Đảng Cộng sản hiện nay vẫn không tự nhận một trách nhiệm hay nghĩa vụ nào…

Trịnh Công Sơn và nhạc phản chiến

Trịnh Công Sơn là đỉnh cao ở chủ đề phản chiến trong âm nhạc. Những tác phẩm âm nhạc trong sự nghiệp sáng tác của ông và tiếng hát của “Nữ hoàng chân đất” Khánh Ly vẫn giữ nguyên giá trị đến ngày nay. Chỉ với cây đàn guitar gọn nhẹ, nhạc Trịnh Công Sơn – Khánh Ly đã thu hút sự quan tâm yêu thích và chia sẻ suy nghĩ về cuộc chiến của nhiều tầng giới xã hội miền Nam: trí thức, công chức, người lui tới các phòng trà, học sinh sinh viên ngay các sân trường, lính ngoài chiến trường, những buổi văn nghệ và biểu diễn…

Những bài của nhạc sĩ họ Trịnh như có ma lực ru ngủ, một giấc ngủ cho dù chợp mắt hay kéo dài đến “chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước”, cũng đều là thứ ngủ bệnh lý của con người và đời sống xã hội đã quá mệt nhoài, đau thương, tan nát vì chiến tranh. Trong “Người con gái Việt Nam da vàng”, ông viết: “Ôi cái chết đau thương vô tình. Ôi đất nước u mê ngàn năm. Em đã đến quê hương một mình. Riêng tôi vẫn âu lo đi tìm”. Ở đây tác giả đi tìm cái gì, tìm ai khi mà “em đã đến”, nếu không phải là tìm kiếm một khát khao hòa bình khi con người đối diện trước những cái chết và một ngày “bừng tỉnh” như là ngộ ra?

Ông viết về những tiếng đại bác, tiếng của cái chết quen đến nỗi mỗi người phải tự thích nghi, xem như lời mẹ ru trong giấc ngủ, lời kinh cầu ở giáo đường: “Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng. Đại bác như kinh không mang lời nguyện. Trẻ thơ quên sống, từng đêm nghe ngóng…”. Trong bài “Gia tài của Mẹ”, ông nghiêng về tâm linh thờ mẫu: một người mẹ Việt Nam trên quê hương chiến tranh đã quá nhiều đau khổ, gia tài chỉ là rừng xương khô, núi đầy mồ, ruộng đồng hoang tàn, là nhà cửa bốc cháy… Và người mẹ ngàn năm của dân tộc chỉ còn một mong muốn: “Mẹ mong con mau bước về nhà. Mẹ mong con lũ con đường xa. Ôi lũ con cùng cha, quên hận thù”. Có lẽ vào mấy nghìn năm trước, Quốc mẫu Âu Cơ không thể ngờ nổi thảm cảnh chiến tranh này!

Cũng trong bài hát này, Trịnh Công Sơn đưa ra một mệnh đề lịch sử: ”…ba mươi năm nội chiến từng ngày…”. Sau năm 1975, bài hát bị cấm vì quan điểm của tuyên giáo cộng sản cho rằng Việt Nam là nước nhỏ đã thắng hai đế quốc to, là giải phóng miền Nam ngục tù, chứ không phải nội chiến. Dĩ nhiên tuyên giáo cộng sản biết rất rõ sau lưng miền Bắc là chủ nghĩa Marx-Lenin, là súng đạn và chuyên gia quân sự Liên Xô, Trung Quốc… Miền Nam cũng xuất hiện một đối trọng tương tự. Đó là một cuộc đối đầu giữa hai hệ tư tưởng, một cuộc thí nghiệm chiến tranh tư tưởng và vũ khí hủy diệt trên đất Việt Nam. Cho nên, Trịnh Công Sơn còn có thể đúng về hình thức cuộc chiến, lập luận của tuyên giáo Đảng Cộng sản đã sai.

Trịnh Công Sơn viết về sự hy sinh của một người lính Việt Nam cộng hòa trong bài “Cho một người nằm xuống”: “Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên. Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn. Đất ôm anh đưa về cội nguồn. Rồi từ đó, trong trời rộng đã vắng anh, như cánh chim bỏ rừng, như trái tim bỏ tình…”.

Một nhà thơ cộng sản viết về cái chết của đồng đội:

“Đứa nào bắn anh đó

Súng nào nhắm trúng anh

Khôn thiêng xin chỉ mặt

Gọi tên nó ra anh…”

(Viếng bạn – Hoàng Lộc)

Cả bài hát lẫn bài thơ đều nổi tiếng. Nhưng nội dung tư tưởng lại cho thấy hai biểu hiện khác nhau: một bên tiễn đưa cái chết vào quá khứ để mà quên đi hận thù, một bên xuất phát từ chỉ đạo chính trị “biến đau thương thành hành động” quyết gây đổ máu và tiếp tục báo thù.

Vào Mậu Thân 1968, Trịnh Công Sơn có bài “Nối vòng tay lớn” được cộng đồng đón nhận rất nhanh chóng, vì đó là tiếng nói cho khao khát chấm dứt chiến tranh. Bài này ông không sáng tác vì chính thể nào. Trong sự nghiệp âm nhạc của mình, ông càng không có thiên hướng của “nhạc đỏ” hay có tư tưởng chính trị rõ ràng cho bất cứ bên nào. Nhưng vào đúng ngày 30-4, ông hát bài này trong một chương trình phát thanh sau khi quân cộng sản đã làm chủ. Đây là sự kiện sắp xếp nhằm tuyên truyền cho một thắng lợi hay ông vẫn hát bằng tiếng nói từ con tim đại diện cho hàng vạn con tim mơ ước về một ngày hòa hợp?

Từ nhạc phản chiến và những chủ đề khác, Trịnh Công Sơn được người Nhật mến mộ trao giải “Đĩa vàng âm nhạc” năm 1972. Năm 2004, Tổ chức Âm nhạc vì hòa bình thế giới đánh giá cao các tập “Ca khúc da vàng”, “Kinh Việt Nam”, “Ta phải thấy mặt trời”… và vinh danh trao thưởng. Nhưng những bài ca “hát trên những xác người” ấy bị cấm bởi chính quyền, cả chế độ Việt Nam Cộng hòa đã qua và Cộng hòa XHCN Việt Nam mà ông sống ở giai đoạn phải thay đổi quan điểm sáng tác. Những bài hát phản chiến ấy nay chỉ có Khánh Ly ca ở hải ngoại. Điều này cho thấy ông đã phản ánh đúng bản chất một cuộc chiến “nhồi da xáo thịt” vô nghĩa chẳng có bên nào thắng, mà chỉ có dân tộc điêu tàn.

 

Hai lối rẽ gặp nhau

Bối cảnh, nội dung Hiệp định Paris

Năm 1969, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đề nghị tổ chức một cuộc bầu cử, trong đó đưa cả đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cùng tham gia vào Liên minh quốc gia. Tướng Nguyễn Cao Kỳ phản đối quyết liệt vì cho rằng chủ trương không khác tự đưa kẻ thù vào tận cơ quan đầu não, sẽ dẫn đến nguy hiểm tiềm tàng. Sau đó, Tổng thống lại có hành động biểu hiện ngược lại khi chỉ đạo bắt giam và mở tòa án binh tuyên ông Trần Ngọc Châu 19 năm khổ sai vì đã đề nghị đàm phán hòa bình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổng thống đã không nhận ra bản chất quan hệ “bình mới rượu cũ” giữa Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam với Đảng Cộng sản ở phía Bắc, hoặc đó là tính toán “lối ra an toàn” do ông đã sớm nhìn thấy kết cục chiến tranh?

Biểu hiện bất nhất trên càng làm cho mâu thuẫn giữa Tổng thống và ông Nguyễn Cao Kỳ thêm trầm trọng. Năm 1971, chuẩn bị cho cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới, ông Nguyễn Văn Thiệu đã có ý định gạt ông Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi cơ quan đầu não của Đệ nhị Cộng hòa. Biết ý định đó, ông Nguyễn Cao Kỳ từ chối ứng cử. Một số khác cũng rút. Ông Nguyễn Văn Thiệu tranh cử một mình, tiếp tục cương vị Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Cũng như thời ông Ngô Đình Diệm, những dấu hiệu rạn nứt trong nền Đệ nhị Cộng hòa lại xuất hiện, nhưng lần này không chỉ trong nội bộ cao cấp mà quan trọng và quyết định hơn là giữa nền Đệ nhị Cộng hòa với Chính phủ Hoa Kỳ vốn là đồng minh đỡ đầu. Phong trào phản chiến cũng dâng cao trong lòng miền Nam và trên thế giới, làm cho rạn nứt đó khó hàn gắn.

Hiệp định được ký kết ngày 27-1-1973 tại Pháp giữa bốn bên gồm đại diện Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Hai ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger là hai nhân vật chủ chốt trong cuộc đàm phán kéo dài năm đợt từ giữa 1968 đến đầu 1973 mới chính thức ký kết. Cuối cùng, điều mà Hoa Kỳ đạt được là: đảm bảo khép lại cuộc chiến, mở sang một trang sử mới sau khi đã quá mệt mỏi tốn kém và chịu áp lực phản đối từ người dân, quốc hội cùng dư luận thế giới. Vì vậy, sau khi ký kết, Hiệp định chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở điều khoản rút quân và trao trả tù binh.

Điều mà Đảng Cộng sản đạt được là: quân đội Hoa Kỳ rút khỏi chiến trường trong khi các lực lượng quân chính quy miền Bắc vẫn ở lại miền Nam, những điều khoản khác ràng buộc cộng sản đã bị vô hiệu hóa bởi thực tế không thể kiểm soát được. Đó là: các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một – đổi – một; Lào, Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này. Đối với Đảng Cộng sản, đây là cơ hội tiến đến thắng lợi cuối cùng.

Điều mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhận thêm thất bại qua Hiệp định là: quân chính quy phía Bắc cùng quân giải phóng miền Nam ở lại trên chiến trường, đặt sự tồn tại của thể chế Việt Nam Cộng hòa trước một họng súng rất gần. Khi Hoa Kỳ chủ trương ký kết hiệp định, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản đối quyết liệt. Ông từng công bố: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống cộng”. Nhưng Hiệp định cho thấy người Mỹ cắt viện trợ, lấy gì để tiếp tục? Thậm chí Nguyễn Văn Thiệu còn trì hoãn ký Hiệp định, buộc Hoa Kỳ phải công khai: Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định vào ngày 23-1-1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hòa bình”. Tình thế cuối cùng buộc Tổng thống Việt Nam Cộng hòa phải đặt bút vào Hiệp định.

Hiệp định còn có những nội dung như: ngừng bắn trên toàn Việt Nam, các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí; miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng; nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế; việc tái thống nhất sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình. Về việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và giám sát thực hiện Hiệp định sẽ do một ủy ban kiểm soát – giám sát quốc tế và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên thành lập và thực hiện.

Nhưng ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi chiến trường, những nội dung còn lại bị đều vi phạm. Bắt đầu bằng việc các đoàn quân chính quy phía Bắc tập trung toàn lực và bí mật di chuyển vào Nam bằng nhiều ngả. Trước sự im lặng của chính quyền cộng sản miền Bắc, cộng sản Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Khi đã đủ điều kiện, quân đội cộng sản nổ súng trên nhiều mặt trận. Quân đội Việt Nam Cộng hòa chống đỡ trong hoàn cảnh mất lợi thế. Đầu năm 1975, bất chấp đình chiến, cộng sản phía Bắc huy động gần 1 triệu quân mở các đợt tổng tấn công. Lúc này, Giám đốc CIA William Colby trong một cuộc nói chuyện với Tổng thống Ford đã nhận định: Miền Nam Việt Nam đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh chóng”.

Tháng 4-1975

Bắt đầu từ Buôn Mê Thuột, rồi Huế và Đà Nẵng lần lượt thất thủ bởi quân đội cộng sản. Liên tiếp các tỉnh thuộc tuyến phòng thủ ven biển miền Trung không còn khả năng chống đỡ. Ngày 20-4, tuyến phòng thủ Xuân Lộc (Đồng Nai) cũng thất thủ, cánh cửa vào Sài Gòn đã bị mở toang, tầm súng cộng sản chĩa thẳng vào nội thành. Cũng vào ngày này, Ðại sứ Hoa Kỳ Graham Martin chuyển cho ông Nguyễn Văn Thiệu tối hậu thư của Chính phủ phía Bắc, đại ý bắt đầu từ 21-4 hoặc Tổng thống phải từ chức hoặc quân đội phía Bắc sẽ tấn công vào Sài Gòn. Ngày 21-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức trước quốc hội, lên án đồng minh Hoa Kỳ đã “bỏ rơi” Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay.

Tại một căn cứ ở Lộc Ninh gần biên giới Campuchia, các tướng lĩnh cộng sản đã nhận được chỉ thị từ miền Bắc và quyết định mở cuộc tiến công chiếm Sài Gòn với kế hoạch khai hỏa ở cả 5 cửa ngõ vào thành phố, lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đến 28-4, Đại tướng Dương Văn Minh được dàn xếp nhậm chức Tổng thống để tiến hành đàm phán, cũng là lúc các tuyến phòng thủ cuối cùng bị phá vỡ chỉ ngoại trừ còn lại bên trong nội ô. Ngày 29-4, sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích. Cùng ngày, Tổng thống Hoa Kỳ Geral Ford lệnh khởi động Chương trình Frequent Wind di tản quân nhân, nhân viên dân sự Hoa Kỳ và người Việt đã cộng tác hay liên hệ với Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Hơn 20.000 người Mỹ và 120.000 người Việt di tản trong đợt này.

Đến 8 giờ sáng 30-4, Tổng thống Dương Văn Minh lệnh đơn phương ngừng bắn, kêu gọi án binh chờ bàn giao chính quyền. Tin này đã làm cho giới lãnh đạo các cánh quân cộng sản củng cố niềm tin về một chiến thắng cuối cùng. Vì thế mà Sài Gòn còn nguyên vẹn, binh lính hai bên và người dân không đổ máu trong trận tử thủ quyết định. Khoảng một giờ sau lệnh ngừng bắn và sau khi chiếc trực thăng cuối cùng rời sân thượng Đại sứ quán Hoa Kỳ, các cánh quân cộng sản tiến vào thành phố và chiếm giữ những vị trí quan trọng. Đến 12 giờ trưa, quân cộng sản đưa Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đến Đài phát thanh Sài Gòn, đọc tuyên bố đầu hàng. Đại diện Ủy ban quân quản thành phố đọc lời tiếp nhận đầu hàng.

Nhà văn Pháp Jean Larteguy trong nhiệm vụ ký giả có mặt ở Sài Gòn trưa 30-4 đã cho biết sự thật về vấn đề giải phóng và chiếm đóng: “Sài Gòn không được giải phóng. Nó bị một đạo quân xa lạ từ miền Bắc tới chiếm đóng. Sự thật là thế. Chúng tôi, 120 nhà báo ngoại quốc ở đây để chứng thật điều ấy. Cộng sản biết vậy và chỉ hai giờ sau đó, đúng hai giờ trưa chúng tôi hoàn toàn bị giam lỏng. Không điện tín, không điện thoại, không đuợc gởi phim ảnh ra ngoài. Bọn ấy bắt chúng tôi im tiếng để có thời gian tiêu hóa hết cái lừa bịp của chúng…”

Chiều 30-4-1975, các ngân hàng thuộc Nhà nước Việt Nam Cộng hòa bị niêm phong, tất cả các kho tiền và cơ sở vật chất bị tiếp quản. Ngày hôm sau, Ủy ban quân quản tại Sài Gòn công bố quốc hữu hóa toàn bộ tài sản các ngân hàng mà chủ yếu là nội và ngoại tệ. Không bao lâu, ủy ban này lại ban hành Nghị định số 04/PCT-75 thành lập mới Ngân hàng Quốc gia Việt Nam để giữ quan hệ với các ngân hàng thế giới xác lập trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, đồng thời thông báo đồng tiền có mệnh giá trên 50.000 phải đổi sang tiền mới.

Ngày 30-4 chính thức khép lại cuộc chiến. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi để lại hai “di sản”. Thứ nhất, về vật chất là 16 tấn vàng thuộc ngân khố Việt Nam Cộng hòa, hiện vẫn là dấu hỏi lớn: vào tay ai? Chính quyền Sài Gòn thời điểm ấy bác bỏ tin đồn vàng đã chuyển ra nước ngoài. Vào tháng 4-2006, báo Tuổi Trẻ trong loạt bài phóng sự điều tra kết hợp nhiều nhân chứng lịch sử các thời kỳ, đã củng cố giả thiết vàng còn nằm lại trong nước, giao cho đại diện Ủy ban quân quản thành phố tiếp nhận. Thứ hai, về tinh thần là câu nói: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Đây là một khẳng định, nhưng lại là khẳng – định – mở, trong những hoàn cảnh và sự việc cụ thể mà người ta có thể liên hệ hay trích dẫn…

Cảnh hỗn loạn ở trung tâm Sài Gòn trong buổi sáng 30-4-1975 (Ảnh: Getty Images)

Con số thiệt hại về người trong chiến tranh mà Đảng Cộng sản tổng kết: hơn 1 triệu liệt sĩ, 600.000 thương binh, 300.000 mất tích, khoảng 6 triệu người dân bị chết, tàn phế  và nhiễm chất độc khai hoang. Chỉ riêng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn ở Gio Linh (Quảng Trị) có 23.000 m2 mộ chí với 10.333 mộ. Ngoài con số trên, những hy sinh của quân lính và dân thường khắp miền Nam đến nay chưa có số liệu chính thức cuối cùng vì việc tìm kiếm vẫn chưa kết thúc. Một ước tính khác cho biết phía quân đội cộng sản sau 1975 còn hàng trăm ngàn binh lính chưa tìm được xác.

Chính quyền Hoa Kỳ dựng lên ở đất nước mình bức tường tưởng niệm ghi tên tuổi của hơn 58.000 binh lính đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng tổn thất với số lượng lớn nhưng chưa có số liệu rõ ràng. Gần đến năm 1975, Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng cùng 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Những tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa thất thủ trên các mặt trận, quyết không chịu rơi vào tay đối phương, đã tuẫn tiết như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ… Thống kê tổng thể cho thấy số quân lính và dân thường cả nước thiệt mạng lên đến 4 triệu người.

****

Qua hai cuộc chiến tranh hiện đại, lịch sử Việt Nam đã chứng kiến việc ký kết nhiều văn bản ngoại giao quan trọng, ảnh hưởng lớn đến vận mệnh dân tộc. Giai đoạn thuộc Pháp, có bốn văn bản mà qua đó các vị vua cuối cùng triều Nguyễn trở nên mất vai trò, đất nước bị chia thành ba kỳ. Giai đoạn chiến tranh Nam – Bắc có Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, rồi Hiệp Định Paris 1973 tiến tới tái thống nhất. Sự kiện Cách mạng Tháng Tám ghi dấu lần đầu tiên Việt Nam khép lại chế độ quân chủ. Sự kiện 30-4 đánh dấu lần thứ ba không gian địa lý đất nước và chủ quyền quốc gia thống nhất (lần thứ nhất khi Nguyễn Huệ giải phóng Bắc Hà, đất nước thống nhất trong giai đoạn ngắn nhưng chưa thống nhất chính quyền; lần thứ hai Nguyễn Ánh lên ngôi, xóa bỏ giới tuyến sông Gianh, thống nhất giang sơn ở cả ba yếu tố: không gian địa lý – chính quyền – dân tộc).

Đất nước diễn ra nhiều chuyển biến. Việt Nam từ thân phận bị lệ thuộc, từng bước tiến tới tự làm chủ, đời sống xã hội tiếp nhận những giá trị hiện đại, các giai tầng, đảng phái với quan điểm khác nhau nhưng cùng chung phấn đấu vì lợi ích dân tộc. Khi hai miền với hai chủ thuyết, thể chế và mô hình xây dựng xã hội cũng khác nhau. Ở phía Bắc, chế độ đa đảng ban đầu đã từng bước bị triệt tiêu chỉ còn Đảng Cộng sản, các hội đoàn và lĩnh vực hoạt động xã hội đều bị tư tưởng Mác-xít áp chế. Ở phía Nam, qua các bước chuyển mình, xã hội dân chủ và nền kinh tế thị trường từng bước hình thành.

Sau chế độ thực dân Pháp, Việt Nam hai mươi năm đối đầu giữa hai hệ tư tưởng. Từ đó, cuộc chiến tranh ủy nhiệm diễn ra, nhà nước hai miền tố cáo nhau về việc mỗi bên dựa vào nguồn lực nước ngoài. Chiến tranh trên đất liền, trên biển, trên không, trên bàn hội nghị, áp dụng học thuyết và vũ khí hiện đại, phong trào phản chiến lan rộng nhất, chết chóc hy sinh, ly tán nhiều nhất… Những địa danh Khe Sanh, Huế Mậu Thân 1968, Đại lộ kinh hoàng, Đại lộ hoàng hôn, mộ ba nghìn người, ngã ba Đồng Lộc, tỉnh lỵ Phước Long, thành cổ Quảng Trị, Buôn Mê Thuột… còn để lại ký ức “những sớm mai lửa đạn, những máu xương chập chùng” không thể nào quên trong sử sách và nhiều thế hệ.

Kết thúc chiến tranh, Đảng Cộng sản hàng năm tổ chức kỷ niệm ngày 30-4, tự hào xem là “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, là “Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh”… Những người tham gia thể chế Việt Nam Cộng hòa và người tị nạn cộng sản ở nước ngoài lại cho là “Ngày Quốc hận”, “Tháng Tư đen”, đồng thời phát động phong trào đòi trả lại tên cho Sài Gòn. Những người có lúc bước ra ngoài cuộc, nhìn vào các thế lực tham gia chiến tranh cho rằng đây là đoạn kết của “ván bài bốn bên”. Ở tầm rộng hơn, một số quan sát viên quốc tế nhận xét: “Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Có người đứng trên tinh thần thuần túy dân tộc cho rằng đây là cuộc chiến không có phi nghĩa – không có chính nghĩa – chỉ có vô nghĩa!

Ngày 30-4 được cho là Bắc Nam một nhà, nhưng một bộ phận không nhỏ người Việt trong và ngoài nước vẫn còn vết thương chia cắt, vẫn bị cô lập và ngăn cách bởi “giới tuyến Bến Hải vô hình” khác lập ra. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản, người thắng trận là chính nghĩa yêu nước, bên bại trận hoặc những người ra đi đều là thù trong từng cấu kết với giặc ngoài. Phía tự hào về một chiến thắng dưới danh nghĩa “giải phóng” chỉ gây ra đau thương hận thù. Một nhà báo đã kết luận: “Biến cố 30-4 gây biết bao thảm họa cho dân tộc, ai có trách nhiệm đều có tội với đồng bào. Đó là điều không thể chối cãi. Có lẽ nào lại tiếp tục vô trách nhiệm với lịch sử và các thế hệ con cháu mai sau?”

Trong bài hát “Hoa vẫn nở trên đường quê hương”, từ hoang tàn đổ nát, một nhạc sĩ ở miền Nam đã nói lên tiếng nói cho bao ước nguyện, khao khát Việt Nam: “Đường năm xưa đi trong bóng tối. Đường hôm nay đi trong ánh sáng… Hãy lên đường và thương yêu nhau”. Nhưng những người anh em Việt Nam có “lên đường và thương yêu nhau” không, mẹ Việt Nam có được nhìn thấy “những đứa con cùng cha quên hận thù” không? Thực tế diễn ra ngay sau khi Hiệp định Paris vừa ký, những tháng còn lại của năm 1975 và những năm tiếp theo cho thấy hận thù vẫn là hố ngăn cách quá lớn!

Hay trong bài hát “Mùa xuân đầu tiên” sáng tác sau ngày 30-4, nhạc sĩ Văn Cao ở phía Bắc đã góp một tiếng nói vô cùng sâu lắng: “Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người”. Bài hát ngay sau lần hát đầu tiên năm 1976 bị xếp cất 12 năm liền sau đó bởi cơ quan tư tưởng của Đảng Cộng sản đặt câu hỏi: vì sao đến năm 1975, người mới biết quê hương, mới biết thương yêu người. Thế là tác giả, một thân phận con người, như được lịch sử giao cho đại diện hàng triệu thân phận uẩn khúc, vẫn không được biết đến quê hương hay tình thương yêu giữa con người với nhau!

Dân tộc Việt Nam cả khi đã thống nhất đất nước vẫn nằm trong nghịch cảnh không xa mặt nhưng vẫn cách lòng. Vì sao người Việt Nam vẫn phải thù hằn đố kỵ nhau, vẫn không tin tưởng nhau trong khi cùng sống, làm việc hay học tập…? Chia cắt ấy xuất phát chính từ chủ trương chia rẽ dân tộc của Đảng Cộng sản. Những năm sau đó, Hòa thượng Thích Huyền Quang thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất viết thư đề nghị Đảng và Nhà nước cộng sản lấy ngày 30-4 làm “Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc”: giải tội trong cải cách ruộng đất và tiến công Mậu Thân 1968, giải oan những tử vong, tàn tật bi thảm đời người trong hai cuộc chiến bất kể là binh lính hai bên hay người dân vô tội các miền, xác lập nhân quyền cho người sống và linh quyền cho người đã khuất… Trong một dịp lễ kỷ niệm 30-4, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng từng phát biểu: “Suy nghĩ của tôi chỉ đơn giản là làm sao để không còn những nhà lãnh đạo phải truởng thành từ chiến tranh như chúng tôi nữa… Nói như thế có nghĩa là, tôi mong chiến tranh thực sự phải thuộc về quá khứ – một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại”.

Quả là lịch sử có những lối đi bất ngờ khó đoán, ngay cả khi hai lối rẽ gặp lại, đất nước liền một dải. Vừa toàn vẹn lãnh thổ, cả dân tộc lại hứng chịu tiếp những hậu quả không kém phần khốc liệt và lại tiếp tục những năm tháng trải dài đau thương. Dường như dải đất này còn phải trả một món nợ lớn nhiều đời. Con đường của dân tộc lại đi qua những chặng khúc khuỷu, gập ghềnh ngay trong hòa bình, thống nhất và độc lập.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong sách. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to ĐI QUA HAI CUỘC CHIẾN TRANH

  1. Dân nghèo nói:

    Một cuốn sách hay và thật !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s