ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT ĐẾN THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Những năm sau 1975

Giữa tháng 5-1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn đáp máy bay vào Sài Gòn. Ông đi nhiều nơi, nhận thấy việc tiếp quản Sài Gòn và các thành phố gần như nguyên vẹn, đời sống ổn định, khu công nghiệp Biên Hòa hiện đại, nền kinh tế thị trường nhộn nhịp. Đáng ra, nếu Tổng Bí thư quyết định Sài Gòn vẫn giữ nguyên mô hình, các quan hệ trong nước và quốc tế đã tạo lập, các thành phần kinh tế… để từ đó thúc đẩy nền kinh tế cả nước thì tình hình đã khác. Nhưng tại Hội nghị trù bị lần thứ 24 tháng 8-1975, đa số lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản đề nghị áp dụng mô hình XHCN miền Bắc lên cả nước. Kết quả là một nghị quyết chính thức ban hành chủ trương cải tạo và xóa bỏ nền kinh tế đa thành phần ở miền Nam. Để thực hiện chủ trương, việc trước tiên quan trọng nhất là tập trung giam giữ mà cộng sản gọi là cải tạo con người trong bộ máy chính quyền vừa sụp đổ.

Từ đây, một hướng đi đã đưa nhân dân miền Nam và cả dân tộc vào chặng đường đói nghèo và khủng hoảng trầm trọng.

 

Cải tạo có trọng điểm

Đối với những sĩ quan, binh lính quân đội và cảnh sát trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, Ủy ban quân quản Sài Gòn và các tỉnh thành kêu gọi tất cả ra trình diện, khai lý lịch để phân loại. Chủ trương lúc này là: “Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân”. Đúng là ngay sau khi chiếm miền Nam, không có trả thù gây đổ máu, nhưng kêu gọi trình diện cũng không phải là chính sách khoan hồng, bởi việc trả thù diễn ra theo một cách khác.

Kêu gọi trình diện là “cái bẫy” để Ủy ban quân quản các cấp nắm được đối tượng. Ở chức vụ thấp và những cộng tác bình thường thì tập trung học tập tại chỗ thời gian ngắn. Nặng hơn, bị tập trung cải tạo dài hạn trong điều kiện khắt khe. Qua trình diện, hơn 300.000 đối tượng cần tập trung cải tạo lâu dài được xác định (cũng có con số khác ước tính cao hơn, Đảng Cộng sản đưa ra con số công khai là 200.000 người).

Những nhà tù sẵn có được mở rộng quy mô và tăng thêm tính kiến cố, cùng với việc thành lập hàng loạt trại giam tại nhiều vùng rừng núi xa xôi ở các tỉnh phía Bắc, hoàn toàn cách ly với bên ngoài trong nhiều năm liền. Tù nhân bị đối xử mất hết quyền công dân, chưa nói đến nhân quyền hay quyền tối thiểu của tù binh chiến tranh. Họ phải lao động ở các công trường, trong các trại cải tạo với sinh hoạt tối thiểu, hạn chế một cách khắc nghiệt, ăn uống thiếu thốn, chăm sóc y tế hầu như không có. Về tư tưởng, họ phải học tập lý luận Marx-Lenin cũng như đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản.

Cách đối xử của chính quyền mới bề ngoài là hoàn toàn nhân đạo, thực ra che giấu những tàn nhẫn, mất nhân tính và trái với Công ước Genève quy định về đối xử không phân biệt với tù binh chiến tranh ở bất cứ phía nào. Nhiều người bị cải tạo trên 10 năm và cũng không ít người bị cải tạo trên 20 năm. Những trường hợp chết, kể cả bị tra tấn trong thời gian giam giữ cải tạo đều bị liệt vào mất tích, gia đình không được hồi báo rõ ràng, càng không thể tìm thấy hài cốt. Những người sống sót hết hạn được về địa phương, trong tình trạng quản chế tại gia và tiếp tục bị theo dõi. Hàng trăm ngàn người bị tước đoạt quyền được sống cả cuộc đời hay phần lớn cuộc đời.

Theo sau họ, nạn bị phân biệt lý lịch dẫn đến gia đình, nhất là thế hệ con cái bị đối xử một cách bất bình đẳng về mặt xã hội. Sau khi bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, hầu hết họ đã làm hồ sơ xin đến định cư tại Hoa Kỳ theo các chương trình nhân đạo ODP và chương trình bổ sung HR [27]. Về cuộc cải tạo này, một luật sư đã nhận định: “Không có thời đại nào có cuộc trả thù khủng khiếp như thời kỳ cộng sản thống nhất đất nước”. Tướng Đặng Quốc Bảo trong quân đội cộng sản ngay sau năm 1975 cũng cho rằng hành xử như thế chỉ: “Mất một cơ hội hòa hợp bằng vàng! Mất đứt một khối nhân lực, chất xám!”

Đối với những nhà tư sản lớn tại Sài Gòn, Đảng Cộng sản chủ trương tước đoạt có mục tiêu bằng cưỡng chế bắt buộc. Như đã đề cập, tháng 8-1975 Tổng Bí thư Lê Duẩn vào miền Nam và trở về, đã phát biểu tại Hội nghị trù bị lần thứ 24, có ý so sánh “chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột”, thì đồng thời Bộ Chính trị cũng đã chỉ đạo đánh vào tầng lớp tư sản giàu có. Đánh như thế nào? Một kế hoạch mang mật danh X.2 hình thành.

Vào tháng 9, Ủy ban quân quản tại Sài Gòn triển khai đợt thứ nhất, bất ngờ tấn công vào nhà riêng, các cơ sở sản xuất, kho tàng… của những nhà tư sản lớn như: Mã Hỷ (lúa gạo), Lưu Tú Dân (vải vóc áo quần), Bùi Văn Lự (phụ tùng máy móc và phương tiện vận tải), Hoàng Kim Quy (dây kẽm gai), Trần Thiên Tứ (cà phê)… Đợt đầu tiên thu giữ không hoàn lại các loại tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc đá quý, đồng hồ đeo tay, kính đeo mắt, phân bón, hóa chất, nhôm, sắt vụn, heo, bò, phụ tùng các loại xe, xi măng, máy điều hòa, rượu, bơ, bánh bích quy, hàng trăm phương tiện vận tải, 500 căn nhà và cao ốc, 170 ha đồn điền ở Đà Lạt, cùng nhiều công ty, kho hàng, xí nghiệp sản xuất, rạp hát… Đến tháng 11, đợt thứ hai của chiến dịch diễn ra, gần 300 trụ sở cơ quan hành chính cùng hơn 700 đơn vị nhà cửa, kho tàng hậu cần tiếp tục bị thu giữ không hoàn trả. Những loại xe tải quân sự dùng trong việc chuyển quân và vũ khí vào miền Nam trên rừng núi Trường Sơn một cách bí mật, lúc này được huy động hàng đoàn nối nhau chở nhiều của cải về nhà các quan chức ở miền Bắc công khai ngay trên quốc lộ 1A xuyên Việt.

Qua hai đợt chiến dịch, chính quyền quân quản tiến hành thu tất cả mọi thứ, từ tài sản lớn nhất đến nhỏ nhất, từ cơ sở hạ tầng đến vật tư, đồ dùng, phương tiện sản xuất và đi lại, thậm chí còn có cả lương thực thực phẩm đã chế biến. Một cuộc trưng thu không cần pháp luật, chỉ cần bạo lực và trấn áp ngang ngược! Đó chính là sức mạnh đáng sợ của chuyên chính vô sản. Hãy lật lại điều 16 Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc”. Phải chăng Ủy ban quân quản Sài Gòn thực thi kế hoạch X.2 theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản là đứng trên hiến pháp này?

Đối với những quan chức cao cấp trong bộ máy kinh tế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Đảng Cộng sản chủ trương tập trung phổ biến lý luận Marx-Lenin, mở đường cho quá trình triệt hạ nền kinh tế đa thành phần ở miền Nam. Hơn 100 chuyên gia kinh tế được mời tham dự một lớp học 18 tháng (1977-1978) tại Phân viện Khoa học xã hội (49, Nguyễn Thị Minh Khai). Trong số những người tập trung, có các ông Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn Văn Hảo, Dương Kiến Nhưỡng, Nguyễn Văn Diệp, Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Anh Tuấn, Trương Đình Du, Lưu Văn Tính… Họ từng được đào tạo cơ bản ở các nước phương Tây với học hàm học vị tiến sĩ, giáo sư, từng giữ những cương vị quan trọng trong bộ máy nhà nước và hệ thống kinh tế trước đây. Ban đầu, họ cũng có mong muốn tiếp cận, tìm hiểu đường lối cộng sản trong hòa bình và góp trí tuệ, chất xám xây dựng đất nước.

Tại lớp học, lý luận mà họ được tiếp cận là những quan điểm trong các tác phẩm: Tư bản, Phê phán cương lĩnh Gotha (Marx), Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Chống Đuyrinh, Nguồn gốc gia đình (Engels), Chủ nghĩa đế quốc, Nhà nước và cách mạng (Lenin)… Họ thấy rõ yếu kém của lý luận kinh tế XHCN, nhưng chỉ lắng nghe và chấp nhận, ngại đưa ra chính kiến vì còn phải giữ an toàn và tự do cho bản thân, gia đình. Một số người cũng viết những chuyên luận, đề tài với cố gắng tạo cầu nối giữa lý luận kinh tế XHCN với kinh tế thị trường trong nước và trên thế giới. Cố gắng của họ được một số chuyên viên kinh tế của Đảng Cộng sản đón nhận, số khác đề cao cảnh giác cho rằng những người ủng hộ là “ăn phải bả của mấy thằng chuyên gia chế độ cũ”, số nữa nhận định kiến thức của họ chỉ là những cố gắng cuối cùng trong cuộc đấu “ai thắng ai” mà CNTB đang giãy chết. Các lãnh đạo cấp cao trong Bộ Chính trị thì không hiểu gì.

Cố gắng ấy không khác số phận những bản điều trần của Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ với triều Nguyễn xưa kia, bởi vì kết thúc lớp học không một ý tưởng nào được xem xét áp dụng thực tế. Mặc dù Hội nghị lần thứ 4 năm 1978 của Đảng Cộng sản chủ trương: “Đối với cán bộ nhân viên thuộc bộ máy chế độ cũ, cần sử dụng tốt khả năng chuyên môn”, nhưng nếu để được triển khai những ý tưởng trên thì cũng “lực bất tòng tâm”: thống kê xã hội là một lỗ hổng lớn không hề được cập nhật một con số làm căn cứ hoạch định, cái mới chưa hình thành mà cái cũ đã bị đào thải sạch, rối loạn diễn ra khắp nơi. Mặt khác, các bộ phận thừa hành cấp dưới coi thường chuyên môn hiểu biết, thi nhau bao che chiếm lĩnh chức quyền và cương vị lãnh đạo.

Cùng với tư tưởng, cả lối sống thành thị cũng bị cải tạo. Tất cả sách báo trước 1975 bị liệt vào dạng “văn hóa phản động đồi trụy” và cấm lưu hành. Đã “văn hóa” lại còn đi liền với “phản động đồi trụy”! Băng đĩa, tác phẩm âm nhạc bị liệt vào loại “nhạc vàng” ủy mị thiếu tính chiến đấu và thiếu tinh thần “cầm gươm ôm súng xông tới”. Tóc dài, quần loe, xăm mình, đeo nữ trang vàng bạc, sơn dưỡng móng tay dài… bị liệt vào biểu hiện của thành phần hư hỏng vô công rỗi nghề. Không còn tìm đâu ra quyền con người khi mà công an có thể chặn bất cứ ai ngoài đường, dùng kéo cắt quần loe hoặc cắt một chõm tóc để dài, bắt phải cắt ngắn cho mẫu mực và nghiêm chỉnh trăm người như một. Những người nghe radio phát chương trình tiếng Việt từ nước ngoài bị liệt vào tội nghe tuyên truyền phản động và bị bắt đi lao động phục dịch ở các cơ quan hành chính.

Những chủ trương sai lầm

Sau khi triệt hạ những thành phần được xác định là “nguy hiểm hàng đầu” ở miền Nam, một việc quan trọng không thể chậm là củng cố quyền lực và triển khai bộ máy điều hành nới rộng ra cả nước. Tháng 11-1975, Trung ương Đảng chỉ đạo tổ chức hội nghị hiệp thương chính trị. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh đứng đầu, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu, tán thành bầu cử quốc hội cả nước. Ngày 25-4-1976, tổng tuyển cử được tổ chức mà không cần thực thi theo các cam kết trong Hiệp định Paris năm 1973 về việc nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế. Đầu tháng 7-1976, Chính phủ cách mạng lâm thời chính thức tham gia vào nhà nước thống nhất sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ “vỏ bọc” cho cuộc đấu tranh vũ trang.

Trong bộ máy điều hành đất nước, Chính phủ đổi thành Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng đổi thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Đến Đại hội Đảng tháng 12-1976, tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc trước đây đổi thành Cộng hòa XHCN Việt Nam gọi chung cả nước, cũng không có một cuộc trưng cần nào về ý kiến toàn dân trong việc lựa chọn thể chế và mô hình phát triển đất nước, càng không phải là một quyết định tại kỳ họp quốc hội. Đảng Cộng sản chủ trương đấu tranh để nhân dân được hưởng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, nay chỉ còn xếp mục tiêu ấy dưới hàng chữ in hoa khẳng định quốc hiệu chế độ XHCN vẫn thường thấy ở các loại văn bản. Điều đó thể hiện, lợi ích giai cấp và nhiệm vụ cách mạng vô sản thế giới được Đảng quan tâm hàng đầu, còn quyền lợi thiết cho cả dân tộc là thứ yếu.

Bộ Chính trị cũng quyết định bỏ tên Đảng Lao động Việt Nam, sử dụng lại tên cũ trước đây là Đảng Cộng sản Việt Nam. Chức vụ đứng đầu Đảng là Tổng Bí thư đổi thành Bí thư thứ nhất. Sài Gòn đặt tên mới là Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1977, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cũng tuyên bố hợp nhất vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mở rộng cả nước.

Hầu hết đảng viên và người thân thuộc trong Đảng Cộng sản không có trình độ từng bước được đưa vào điều hành bộ máy kinh tế, tạo ra nghịch lý người dốt lãnh đạo người giỏi. Trí thức cũ, không những với người tham gia lớp học, mà lan rộng ra khắp nơi, bắt đầu lo sợ. Thêm vào đó là tình trạng phân biệt đối xử lý lịch không khác với đối tượng quân nhân bị cải tạo. Nhiều người nhìn thấy tương lai bế tắc, rút lui dần, quay ra cộng tác với các đơn vị sản xuất tư nhân. Số khác ra nước ngoài theo diện đoàn tụ gia đình hoặc trốn đi… Trong giới trí thức Sài Gòn bấy giờ xuất hiện nhận xét rằng: trước đó họ không tin Đảng Cộng sản mạnh (theo nghĩa khả năng) nhưng tin lý tưởng là cao đẹp, còn khi chứng kiến thực tế họ lại thấy Đảng rất mạnh (theo nghĩa bạo lực) nhưng không đẹp như trước.

Thực tế đó là gì? Đó là quan điểm về giai cấp và các tầng lớp cho thấy để tập hợp lực lượng cách mạng thì Đảng chủ trương liên minh, nhưng khi hòa bình lại tiêu diệt các thành phần kinh tế hoặc gây chia rẽ giữa kinh tế quốc doanh – tập thể và tư nhân, giữa con buôn và các nhân viên cửa hàng bách hóa. Đó là lập luận cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, nhưng thực tế một kiến trúc thượng tầng khổng lồ, thiếu trình độ, quan liêu và xa rời dân, toàn quyền chỉ huy cơ sở hạ tầng một cách duy ý chí từng bước hình thành. Đó là lý luận của Marx cho rằng một phương thức sản xuất không thể nào bị thay thế trước khi nó vẫn còn tác dụng tích cực đối với lực lượng sản xuất, nhưng khi muốn thay đổi quan hệ sản xuất, mà cụ thể là đổi nhân sự quản lý, Đảng Cộng sản lại lập luận trong điều kiện chuyên chính vô sản, với sự giúp đỡ của phe XHCN, có thể thiết lập ngay quan hệ sản xuất tiên tiến thay cho quan hệ cũ. Từ đó, quan hệ sản xuất mới lập ra cũng chỉ là hình thức, trong khi lực lượng sản xuất bị phá nát và bị triệt tiêu toàn bộ động lực tự thân của nó. Đó là quan điểm toàn diện khi đánh giá con người, nhưng dưới chủ trương cải tạo, quan chức chế độ cũ bị loại bỏ, tầng lớp thương gia và buôn bán nhỏ bị xem là thành phần không sản xuất ra của cải xã hội. Trong quá trình giải thích những luận điểm thành chủ trương vận dụng, có không ít nội dung bị cắt bỏ tùy tiện, làm cho sai lệch đi, tự ý mở rộng nhằm bằng mọi giá áp đặt suy nghĩ chủ quan để thực hiện và đạt được mục đích riêng. Nhưng điều đó lại được đánh giá như một thành tích “sáng tạo và phát triển lý luận Marx-Lenin trong hoàn cảnh cụ thể Việt Nam” !

Về ngoại giao, trong năm 1976, hai lần Ngoại trưởng Kissinger gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị cuộc gặp mặt bàn về quan hệ hai nước sau chiến tranh. Tổng thống Gerald Ford cũng đề nghị quốc hội tạm dừng cấm vận trong sáu tháng tạo điều kiện cho đối thoại. Năm 1977, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra lộ trình ba bước bình thường hóa quan hệ, nhắc lại lập trường bỏ cấm vận và sẽ viện trợ nhân đạo nếu Việt Nam trao trả hài cốt lính Mỹ và chấm dứt đòi bồi thường chiến tranh. Đầu tháng 5-1977 Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thuận, đến ngày 20-9-1977 Chủ tịch khóa họp 32 Đại hội đồng LHQ tuyên bố Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên thứ 149 trên thế giới. Các nước Tây Âu và một số nước Đông Nam Á tham chiến cùng Hoa Kỳ cũng khép lại quá khứ, thiện ý đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Về phía Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có những chuyến viếng thăm hữu nghị đến nhiều nước, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ ngoại giao bình thường mà không tận dụng cơ hội quý hiếm. Tất cả những cánh cửa không phân biệt ý thức hệ mở sẵn để có thể đón chào Việt Nam như biểu tượng anh hùng bước từ cuộc chiến ra với thế giới, đã bị Đảng Cộng sản từ chối. Nguyên nhân từ chối không ngoài tự cao trên chiến thắng, ngu trung ý thức hệ, hận thù dai dẳng, cảnh giác tuyệt đối. Cuối cùng, Việt Nam chọn đồng minh Liên Xô. Năm 1978, Việt Nam tham gia vào khối SEV [28] với tuyên bố hợp tác toàn diện và triệt để, thật ra nhằm tìm kiếm viện trợ. Nhưng để nhận một mức viện trợ tính bằng tiền rup thì Việt Nam cũng chấp nhận chênh lệch giá, chỉ mua được 2/3 giá trị số tiền đó bằng hàng hóa trên thực tế. Tham gia vào tổ chức đầy biến động và nhận viện trợ từ Liên Xô, Nhà nước Việt Nam chỉ sử dụng cho việc điều hành nhiều năm liền, khi hết nguồn thì không có cách nào khác để tự chủ. Còn viện trợ thì còn ngoại giao với tư thế ngang nhau, hết viện trợ phải trong vai chạy vạy đi xin xỏ khắp nơi, còn bị coi thường!

Mặt khác, Bộ Chính trị không những biểu hiện nghiêng hoàn toàn mối quan hệ về phía Liên Xô, mà còn chủ trương tước đoạt của cải và chèn ép người Hoa định cư nhiều đời. Trong thể chế Việt Nam Cộng hòa trước đó, người Hoa chỉ bị can thiệp nhằm chia sẻ quyền lợi kinh doanh cho cả người Việt và phải ổn định bằng cách buộc đăng ký Việt tịch; ngoài ra chưa từng có chủ trương cô lập, miệt thị, tịch thu tài sản, xua đuổi. Nhưng lúc này họ bị tấn công trực diện. Cho nên, nhìn lại đường lối giai đoạn này, có thể nói may mắn đến tận cửa nhà thì không biết giữ lại, tai họa tiềm tàng lại khơi lên để cả dân tộc lãnh chịu.

Cũng như việc công bố những thắng lợi ngoại giao khi tìm kiếm sự công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1945 đến 1950, khi thất bại trong trận Mậu Thân 1968, Đảng Cộng sản lại cho việc chọn đồng minh là Liên Xô là thêm một thắng lợi ngoại giao, bởi vì nhờ đó mà Đảng đã giữ vững được độc lập tự chủ cho đất nước! Đúng ra phải nói: nhờ đó mà Đảng Cộng sản đã duy trì được quyền độc trị đất nước. Thêm một tuyên bố che giấu sự thật. Bài học thực tế cho thấy nhiều nước trong khu vực mở rộng bang giao với các nước TBCN, hiện không thấy nước nào mất tự chủ hay bị chiếm đóng, mà thậm chí còn giàu mạnh hơn nhiều.

 

Cải tạo rộng khắp

Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng có lúc nhận định nghe thông thoáng với các thành phần kinh tế đa dạng ở miền Nam: “Anh mà làm sai thì công – nông không liên minh được đâu. Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế gồm mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ”. Nhưng hãy đọc kỹ: “Phải cho nó phát triển phần nào đã” chính là sách lược không vội vồ lấy ngay, mà cần nuôi dưỡng vỗ béo! Phát biểu của Tổng Bí thư vẫn chỉ là tư duy cưỡng đoạt. Bởi vì lý luận cơ bản cho thấy mục tiêu lâu dài của bất kỳ thể chế cộng sản nào vẫn là xóa bỏ thành phần tư bản và kinh tế phi XHCN của nó, để chỉ còn lại kinh tế công hữu. Đảng không những đánh vào một số tối thiểu người giàu ngay trong năm 1975 dựa theo luận điểm Lenin là “tước đoạt của những kẻ tước đoạt”, mà chỉ vài năm sau, một cuộc đại tước đoạt lan ra cả miền Nam theo xu hướng sâu rộng, toàn diện, triệt để và… “phủ định sạch trơn”.

Vì sao Đảng Cộng sản đã nhận thấy việc thực hiện chủ trương này ở miền Bắc mấy chục năm chẳng đem lại hiệu quả bao nhiêu mà còn gây ra không ít hậu quả, lại vẫn cứ áp đặt tiếp tục ở miền Nam sau 1975? Sau đổi mới, họ cho rằng điều đó là do nóng vội, chủ quan, duy ý chí, áp dụng rập khuôn… Giải thích ấy là ngụy biện. Chỉ có thể: trên cơ sở tiêu diệt kinh tế, yếu tố quyết định tất cả, sẽ dễ dàng tiêu diệt tư tưởng, hướng đến xã hội Mác-xít hóa toàn diện. Đó là điều kiện cần và đủ để từng bước và lâu dài tiến tới toàn quyền, lạm quyền lộng quyền! Đơn cử nhìn lại tác dụng kép của “pháo đài kinh tế” sẽ rõ: một mặt các trạm kiểm soát trên tất cả các trục lộ ngăn sông cấm chợ để quản lý kinh tế ai cũng biết; mặt khác cũng nhằm cắt rời, tránh liên kết chính trị và dễ dàng kiểm soát dập tắt trong tình huống có chống đối nổi dậy.

 

Nông nghiệp

Luật người cày có ruộng trong cải cách điền địa lần thứ hai của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa những năm 1970 đã phân phát ruộng đất cho đa số nông dân, đem lại đời sống nông thôn no đủ. Năm 1978, mô hình hợp tác xã được áp dụng. Cuối 1979, cùng với hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp đã có ở miền Bắc, miền Nam cũng lập ra gần 1.300 hợp tác xã với hơn 15.000 tổ sản xuất, tập trung khoảng 90% nông dân và ruộng đất, thực hiện chế độ sản xuất – phân phối tập thể. Không ít nông dân bị cưỡng bức bằng cách tập trung phổ biến chủ trương đường lối rồi buộc phải công hữu hóa từ đất ruộng đến vật dụng. Có nơi chính quyền còn dùng lực lượng đánh trói người phản đối hay cô lập ruộng lúa cá thể của họ trong việc sử dụng thủy lợi, phân thuốc và các điều kiện canh tác.

Đình làng là nơi xưa nay người dân thờ cúng lâu đời. Với quan niệm mới “vô thần vô đạo”, đình bị trưng dụng đặt trụ sở làm việc của các ban quản trị hợp tác xã, làm kho lúa, đặt trạm phát thanh… Các phương tiện, tư liệu sản xuất quan trọng của nông dân đều bị thu mua với giá rẻ, nhưng vài năm sau đến 70% không sử dụng được vì không có người bảo quản và không có phụ tùng thay thế. Từ đó, 1,8 triệu ha đất đang canh tác không còn sức máy hỗ trợ, bị tái hoang hóa. Năm 1978, việc thu mua nông sản giá thấp cũng bị áp đặt ở phía Nam. Người nông dân thật sự trở thành vô sản làm thuê mà không có quyền lựa chọn những chủ điền khác nhau, vì chỉ còn một chủ điền duy nhất vĩ đại: hợp tác xã ra đời từ chủ trương của Đảng Cộng sản với quy định tại pháp luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân!

Vào những năm 1950, nông dân miền Nam đã dùng xuồng máy, xe máy… Khi vào hợp tác xã, chủ trương không nhập khẩu nhiều nhiên liệu đã dẫn đến khan hiếm. Người dân phải chèo xuồng và nhiều khâu lao động bằng cơ khí máy móc trở về cơ bắp tay chân. Do đó, sản xuất bị kéo lùi lại trước năm 1950! Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lần đầu tiên trong lịch sử Nam bộ mấy trăm năm, người dân không đủ gạo ăn. Từ 1976 đến 1980, với hai vựa lúa lớn cả nước thời bình mà Việt Nam phải nhập 5,6 triệu tấn lương thực. Một số vùng ở miền Tây Nam bộ, lúa gạo vẫn tồn đọng nhưng nông dân kiên quyết không bán cho các công ty thu mua lương thực thuộc nhà nước nửa mua nửa tịch thu, hay còn gọi là “mua như cướp, bán như cho”. Rõ ràng chủ trương và việc làm này mâu thuẫn với quy luật giá trị trong lý luận Marx. Nhưng các nhà lý luận của Đảng Cộng sản lại áp dụng cách giải thích từ Liên Xô: để xây dựng CNXH, cần ưu tiên đầu tư ngân sách phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng, cho nên phần ngân sách để thu mua nông sản phải ít lại. Ngân sách ít, mà cũng muốn mua số lượng không đổi theo chỉ tiêu, chỉ còn cách buộc người nông dân phải chịu thiệt thòi một cách vô lý!

Mặc cho lý luận, nhiều nơi vẫn nhìn nhận vấn đề bằng thực tế. Ông Bảy Phong bấy giờ đang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã công khai: “Chúng tôi lăn lộn đánh Mỹ hai chục năm trong này không phải để chúng tôi đi theo CNTB, mà để xây dựng CNXH. Nhưng CNXH gì mà bán không được, mua không được. Người nông dân có thể cho chúng tôi hàng trăm ngàn tạ lúa để đánh Mỹ, nhưng bây giờ họ nói mua phải đúng là mua, bán phải đúng là bán”. Phản đối trên cho thấy chính trong hàng ngũ đảng viên có chức quyền phía Nam bước ra từ chiến tranh cũng đã có tư tưởng và cách làm khác lãnh đạo phía Bắc. Nhân vật lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp chưa nói thẳng là đã bị lừa về lý tưởng và mục tiêu để có động cơ chiến đấu hai chục năm liền. Riêng nông dân không diễn đạt cụ thể, nhưng hành động cự tuyệt bán lúa của họ cho thấy họ suy nghĩ mình đã từng bị lừa như thế.

Với khẩu hiệu tuyên truyền: “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, xã viên chỉ làm chủ trên danh nghĩa và ở các lĩnh vực thuộc về trách nhiệm, riêng ở khâu cuối thu hoạch lúa và nộp về kho đều do ban quản trị các hợp tác xã làm chủ! Một bài báo từng viết: “Cứ có tiếng kẻng thì xã viên đủng đỉnh ra đồng, làm cho qua chuyện, rồi có kẻng lại về… Công điểm là cái cùm trên lưng xã viên”. Cái cùm vô hình trên lưng ấy muốn diễn đạt gián tiếp câu hỏi: Đảng lãnh đạo hay cai trị hà khắc? Hậu quả thiếu ăn cũng làm một số thế hệ tiếp theo bị suy dinh dưỡng, kém hơn về chiều cao trung bình, thể lực lẫn trí lực đều hạ thấp.

Năm 1980, hợp tác xã và các tập đoàn sản xuất tan rã, chỉ còn trên giấy tờ. Vậy mà đến 1985, ở thời điểm lập lại trật tự kinh tế, Bộ Chính trị còn chủ trương phải tiến hành trở lại một cách triệt để việc thành lập hợp tác xã ở miền Nam. Nhưng không bao lâu, công cuộc đổi mới đã giải phóng người nông dân cả nước ra khỏi trại tập trung khổng lồ này. Những hợp tác xã cùng tiếng kẻng của nó đã vĩnh viễn chôn xuống nấm mồ quá vãng, mới đây thôi mà tưởng như chuyện thời xa xưa của loài người, kể lại không thể nào tin nổi! Người dân dần khôi phục lại các đình làng làm nơi thờ tự theo tinh thần tâm linh dân tộc, chủ nghĩa vô đạo vô thần cộng sản mới chịu lùi một bước.

Công thương

Phần lớn người buôn bán nhỏ bị đưa đến các vùng kinh tế mới hay kêu gọi trở về quê cũ trước trước khi tản cư ra thành thị tránh chiến tranh. Hàng loạt nông trường, khu kinh tế mới với những dãy nhà tạm được dựng lên giữa rừng rú. Đó là tầng lớp mà theo Đảng Cộng sản chỉ biết sống bằng viện trợ, bị khinh miệt xem là cặn bã và tệ nạn của chế độ cũ. Đất nước còn nghèo, lực lượng phi sản xuất này không thể chấp nhận tập trung quá lớn ở thành phố, phải giải tán, phân bố rộng ra và để họ tự kiếm ăn nhưng lại với lập luận: “Dù sao thì chúng nó cũng làm ra được củ khoai củ sắn, thêm một chút lương thực cho xã hội, còn hơn là ngồi không ăn hại” [29].

Trong quá trình giải tán đi để tự kiếm ăn, cụ thể là lên các vùng kinh tế mới, nhà nước không có bất cứ chủ trương nào trang bị họ nghề nghiệp, phương tiện, điều kiện hay việc làm. Lương thực cấp hạn chế ban đầu khoảng sáu tháng. Không chợ búa, không trường học, không điện nước. Máy ủi máy cày không có để cải tạo đất ngoài đôi tay xưa nay không phải nông dân. Những điều kiện khác về học tập, y tế, sinh hoạt văn hóa tinh thần cũng gần như từ con số không. Đó là những gì Nhà nước cộng sản chuẩn bị để đưa hàng trăm ngàn người lên những vùng rừng núi. Riêng ở Sài Gòn, những người nghe theo tuyên truyền ban đầu hăng hái “bỏ phố lên rừng”, đến nơi mới nhận ra sự thật. Số đông bỏ về lại thành phố trong tình trạng hộ khẩu đã bị cắt, nhà cửa đã hiến, bán hoặc bị trưng dụng…

Cuối năm 1976, để chiếm lĩnh mạng lưới công thương trở nên vô chủ qua cải tạo, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI chỉ đạo: “Phải phát triển nhanh thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán, sắp xếp hợp lý mạng lưới buôn bán và bán lẻ, bảo đảm cho thương nghiệp quốc doanh chẳng những nắm trọn khâu bán buôn mà còn cho phối được khâu buôn bán lẻ, quản lý được thị trường và giá cả, tạo điều kiện cơ bản để thống nhất được thị trường trong phạm vi cả nước”. Một thị trường tự do mà chế độ trước 1975 bỏ công gầy dựng (dĩ nhiên chưa hoàn chỉnh), đã bị phá tan. Quả là xây thì khó mà phá thì dễ! Nhằm thực hiện nhanh chóng chủ trương đề ra, Ban Tổ chức Trung ương Đảng chuyển ông Nguyễn Văn Linh lúc này đang phụ trách Ban cải tạo công thương ở Sài Gòn sang công tác khác, vì không chấp nhận quan điểm của ông Linh là cần thận trọng và ứng xử có văn hóa, tránh áp đặt cưỡng bức với các đối tượng cải tạo.

Năm 1978, cũng với yếu tố giữ bí mật bất ngờ như hai đợt chiến dịch X.2 cuối 1975, các đội cải tạo cùng lúc tấn công vào hàng chục ngàn doanh nghiệp tư nhân sản xuất và dịch vụ. Tất cả phương tiện sản xuất, nguyên vật liệu, hàng hóa… đều bị tịch thu, trưng mua giá rẻ. Ông Phan Trọng Tuệ lúc đó là Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải còn quyết định quản lý tất cả các phương tiện vận tải lớn nhỏ với nghi vấn: “Bọn này mà có xe thì nó sẽ liên lạc với các lực lượng thù địch trên khắp cả miền Nam”. Gần 3.500 hộ tiếp tục bị đưa về quê cũ hoặc lên vùng kinh tế mới, trong khi hàng ngàn hộ khác do có đóng góp cho cách mạng nên được ưu tiên cho ở lại thành phố và tuyển dụng vào các cơ quan. Hàng ngàn người bỏ ra nước ngoài. Có cả những người uất quá tự tử… Thiệt hại đáng kể là những thương gia Hoa kiều ở Chợ Lớn. Cả xã hội miền Nam bị cải tạo, lật đổ ngổn ngang từ tài sản, thành phần đến các quan hệ xã hội.

Các xí nghiệp, cơ sở, công ty tư nhân bị tịch thu được đặt những tên mới như công tư hợp doanh, tổ hợp sản xuất, tổ dịch vụ…cùng với nhân sự mới điều hành. Quan hệ xuất nhập khẩu đã và đang diễn ra cũng chuyển sang nhà nước quản lý. Tất cả các loại hàng hóa đều do nhà nước cung cấp qua cửa hàng bách hóa: từ nhu yếu phẩm đến chất đốt, từ vật liệu xây dựng đến đồ nội thất, kể cả những hàng hóa nhỏ nhặt hàng ngày như kem đánh răng, xà phòng, đá bật lửa, cuộn chỉ cây kim… Đến khi không còn ai và cũng chẳng còn gì tồn tại nguyên mẫu trước 1975, cuộc cải cách công thương mới dừng lại.

Trên danh nghĩa cải tạo công thương và thống nhất tiền tệ, nhà nước còn tiến hành đợt đổi tiền vào năm 1978. Sắc lệnh số 88-CP của Thủ tướng Chính phủ về đổi tiền được ký nhưng thông tin giữ kín đến sát ngày thực hiện cho thấy lại thêm một yếu tố bí mật bất ngờ. Theo đó, đồng tiền cũ cả hai miền không còn giá trị nếu không đổi tiền mới: tiền các tỉnh phía Bắc đổi 1 đồng bằng 1 đồng mới, tiền các tỉnh phía Nam trước 1975 đổi 1 đồng bằng 8 hào mới. Ẩn sâu bên trong mục đích công khai, người dân lúc bấy giờ vẫn nhận thấy đổi tiền là tiếp tục chủ trương đánh vào tư sản và toàn xã hội. Vốn tiền mặt của nhà sản xuất, người kinh doanh, tiền tích lũy tiết kiệm đều bị thu hồi do quy định chỉ được đổi một số lượng nhất định.

Sau hai năm bộ máy nhân sự mới điều hành mạng lưới công thương, yếu kém bắt đầu xuất hiện. Thường trực Ban Bí thư Lê Đức Thọ đưa ra phê phán: “Năng lực sản xuất của phần lớn các xí nghiệp sau khi cải tạo chưa được sử dụng tốt, năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế giảm, nhìn chung quản lý kém hơn trước… Tài sản thu được qua cải tạo bị hư hỏng mất mát nhiều… Đời sống công nhân có nhiều khó khăn hơn. Một số người đã bỏ việc, đi ra nước ngoài. Tâm trạng hoài nghi, chán nản và bất mãn khá phổ biến …”. Cũng như cải cách ruộng đất ở miền Bắc trước đây, trong lần cải tạo công – thương này, khi có chủ trương và tiến hành, những cán bộ đảng viên “người máy” chỉ biết thực hiện một mệnh lệnh: tước đoạt! Nhưng sau tước đoạt, bằng cách nào để tiếp tục vận hành hiệu quả thì từ Bộ Chính trị cho đến người thi hành không thể nghĩ ra. Sau nông nghiệp, công thương miền Nam từ đó cũng tiêu điều.

Hậu quả duy ý chí

Nền sản xuất lớn lần này được Đảng quyết tâm triển khai cả nước bằng tinh thần dời non lấp biển, nghiêng đồng đổ nước, trị trời khi hạn hán và lũ lụt, quy hoạch chuyển dời và sắp xếp lại những xóm làng lâu đời… Ở Quỳnh Lưu (Nghệ Tĩnh), cả làng dời nhà lên những vùng đồi để dành đất cho sản xuất, hàng loạt công trình vườn cây, ao cá và cơ sở vật chất bị phá sạch, san bằng thành những cánh đồng rộng lớn như dạng nông trang thảo nguyên ở Liên Xô. Về nhân lực, công nhân, cán bộ, công chức… ở các cơ quan, xí nghiệp nhà nước trong thời gian không có việc làm do kế hoạch bị trì trệ, cũng bị huy động ra ngoại thành và về những vùng nông thôn cày cuốc, tăng gia sản xuất. Tình hình lúc này đúng là: “Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Mà nông chẳng ra nông, sĩ chẳng ra sĩ, kết quả sản xuất ra của cải vật chất chẳng được bao, người một nơi của một nẻo không ai quản, chi phí gấp mấy lần thu lại. Thực trạng đó không khác: “Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng”.

Hà Nội cũng có kế hoạch mở rộng theo mô hình “thành phố vệ tinh” xung quanh như ở Moskva, nhưng không có lấy một thực lực nào. Trên cả nước, 400 “pháo đài kinh tế’ cấp huyện sẽ đảm nhận toàn bộ các vấn đề cung – cầu ở địa phương, đồng thời với thực hiện chỉ tiêu chung của nhà nước giao cho. Đơn vị hành chính cấp tỉnh không còn quan trọng nhiều nên hơn 60 tỉnh thành sáp nhập lại còn 29. Nhưng mặt trái của vấn đề không lường trước được cũng bắt đầu lộ ra: mô hình lớn mà quản lý thì bằng cách làm nhỏ lẻ, thiếu tri thức lẫn kinh nghiệm, hiệu quả do đó không thể nào cao. Để tính toán chỉ tiêu kế hoạch cho cả nước cũng như từng địa phương, Bộ Chính trị bố trí những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô vào các bộ phận tham mưu. Hầu hết các bộ phận này chỉ ngồi một chỗ tại các công sở ở Hà Nội, dựa vào nguồn viện trợ và số liệu và báo cáo các bộ ngành và tỉnh thành gửi lên, xây dựng tổng thể chỉ tiêu trình lãnh đạo ký, giáng xuống cơ sở. Cho nên, nông nghiệp đình trệ, lưu thông tắc nghẽn, thu mua nông sản muốn đạt số lượng nhiều lúc nhiều nơi phải tiến hành cưỡng chế.

Nhiều công trình lớn của đất nước thiếu nguyên vật liệu phải ngừng thi công, trong khi những nơi khác sản xuất ra nguyên vật liệu lại chưa có nhiên liệu cho phương tiện vận tải chuyển đến công trường kịp thời. Các xí nghiệp dệt may, cơ khí, mộc… cũng điêu đứng do thiếu máy móc, nguyên liệu và nhiều điều kiện quyết định khác. Tiền lương trả cho công nhân chậm, thậm chí có thời điểm phải trả bằng sản phẩm tại nhà máy xí nghiệp do họ tự làm ra, sau đó muốn sử dụng hay hoán đổi bằng cách nào thì tùy. Có đến 30% xí nghiệp đóng cửa, số còn lại hoạt động chưa đạt đến nửa công suất. Ông Nguyễn Văn An khi còn là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam cho biết: “Nhà máy dệt Nam Định, niềm tự hào của nền công nghiệp XHCN mà máy móc cổ lỗ, dây chuyền lạc hậu, thiếu nguyên liệu trầm trọng. Hàng ngàn cán bộ công nhân của tất cả các phân xưởng đều nằm trong tình trạng thất nghiệp triền miên”. Ông còn nhận định tình hình cả nước với công nghiệp “đổ vỡ”, thương mại “trì trệ”, nông nghiệp “thất bát”, chế độ “đánh kẻng chấm công” không những làm cho năng suất lúa suy giảm và ruộng đất bỏ hoang mà còn hình thành gánh nặng trên vai nông dân. Hầu hết các địa phương đều thiên la địa võng mạng lưới “ngăn sông cấm chợ”. Và không chỉ có nhập lương thực, một đất nước với bờ biển từ Bắc đến Nam mà lại thiếu muối ăn, phải nhập từ Trung Quốc! Cuối cùng, ông kết luận: “Đời sống nhân dân đói khổ, mấp mé cảnh lầm than”.

Trước đây, Nguyễn Ánh bế môn tỏa cảng đối với phương Tây đã bị cho là chính sách phản động, đến Đảng Cộng sản không những khép kín ngoại giao mà còn ngăn cấm đối với chính người dân trong nước, thì có thể khẳng định đó là chính sách đại phản động! Đời sống nhân dân mà “mấp mé cảnh lầm than” thì sánh ngang với những ông vua bất tài vô trách nhiệm chế độ quân chủ hoặc gần ngang với chính sách cai trị của chính quyền Pháp ở Đông Dương.

 

Thuyền nhân vượt biển

Trước tình cảnh đời sống mọi mặt lâm vào khó khăn, người dân chủ yếu ở Sài Gòn và các tỉnh thành phía Nam, chạy trốn chế độ cai trị trong nước. Họ là những người bị đối xử phân biệt lý lịch vì có liên quan đến chế độ cũ, những người bị đẩy lên rừng theo chủ trương kinh tế mới bỏ về lại thành phố, những người bị tịch thu tài sản qua các chiến dịch cưỡng đoạt, những người trải qua cải tạo nông nghiệp và công thương không còn điều kiện sản xuất, buôn bán.

Họ trốn đi, bất chấp bị kết tội phản bội tổ quốc. Có người bị lừa trong các vụ “mua bán bãi”, mất hết của cải còn vào tù. Có người bằng cách đóng tiền và vàng cho chính quyền địa phương theo chủ trương ra đi “bán chính thức”. Thậm chí, có nơi chính quyền còn khuyến khích những người này ra đi. Vì thế trong vài năm, con số người Việt tìm đến các nước phương Tây tăng vọt. Họ mang theo nhiều hận thù chế độ, khao khát tìm đến một bến bờ tự do. Hầu hết họ đi bằng đường biển, phương tiện tàu thuyền đơn sơ, gặp bão tố, thiếu lương thực, cạn xăng dầu, bị hải tặc… Không ít người thiệt mạng khi chưa đến được đất liền của bất cứ quốc gia tự do nào. Số khác lênh đênh giữa biển được các tàu hải quân của Hoa Kỳ cứu vớt hoặc tự đến được các quốc gia  quanh biển Đông. Cũng có nhiều trường hợp vượt biên trên bộ, bỏ xác trong rừng.

Theo một tài liệu đáng tin cậy trên mạng điện tử, một ước đoán khoảng gần 200.000 người đã chết ngoài biển. Cao ủy tị nạn LHQ cũng cho biết từ 1975 đến 1995, khoảng gần một triệu người Việt Nam đã vượt biên bằng đường biển và đường bộ, đến các trại tị nạn do Cao ủy LHQ lập ra ở Hồng kông (Achau, Chimawan, Whitehead), Indonesia (Galang, Kuku), Malaysia (Pulau Bidong,Sungei Besi), Philippines (Bataan, Palawan), Thái Lan (Banthad, Leam Sing, Phanat Nikhom,Sikiw, Site 1, Site 2, Songkhla). Tại Pulau Bidong thuộc Malaysia và Galang thuộc Indonesia có gần 400.000 người từng lưu trú trong các trại tỵ nạn, chờ giấy phép tái định cư nước thứ ba.

Sau này khi đã được định cư, những người từng lưu trú trở lại trại Galang, dựng lên tấm bia về sự kiện vượt biên với dòng chữ song ngữ Việt – Anh: “Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên con đường đi tìm tự do (1975 – 1996). Dù họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu. Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lãng quên”. Cũng tại đây, có một nghĩa trang chôn cất hơn 500 người Việt qua đời trên đường vượt biên, cùng một ngôi chùa thờ cúng. Nội dung văn bia nói trên không khác lời tố cáo chế độ cai trị, vì thế Đảng Cộng sản trong nước đã im lặng liên hệ với chính phủ nước này, buộc chính quyền địa phương đập phá. Văn bia do đó bị đục hết nội dung, hiện vẫn còn trơ khung đá. Nhưng khung đá trơ trọi, vẫn thi gan cùng tuế nguyệt lại có sức tố cáo dường như còn mãnh liệt hơn nhiều lần so với lúc nguyên vẹn.

Chủ nhân của một trang website có tên “Văn khố thuyền nhân” cũng từng là một trong những thuyền nhân may mắn đến được bến bờ mới, người có tâm huyết với cộng đồng người Việt vượt biên, đã đứng ra tổ chức nhiều chuyến thăm về các trại tị nạn hàng năm với tên gọi “Về bến Tự do”. Trước việc văn bia bị đập dỡ, ông đã có bài viết “Tôi khóc mà thưa”, trong đó có những đoạn đầy cảm động: “Những nơi này đã thành hình bằng xương, bằng máu, bằng sự đau đớn tột cùng của những nạn nhân hải tặc, bằng uất hận không thể phai tàn của những cái chết tức tưởi, bằng hờn căm bốc tận trời xanh vì những ước mơ không bao giờ thành sự thật. Nhờ những hy sinh vô giá này, cả thế giới đã xúc động và đưa tay đón rước thuyền nhân, mặc kệ là ra đi vì tỵ nạn hay vì bất kỳ lý do nào khác”. Theo ông, sau khi được chính phủ các nước chấp nhận cho định cư, người Việt ở hải ngoại không phải xác định tìm đến được thiên đường hưởng thụ mà đã “làm việc ngày, làm việc đêm, không quản một ca, hai ca, không ngại đêm đông sương tuyết”. Cuộc sống của họ có thể còn khó khăn, nhưng họ vẫn bóp bụng tiết kiệm tiền bạc gửi về cho thân nhân ở quê nhà bằng tấm lòng tự nguyện góp phần làm vơi đi một ít khó khăn, đói khổ. Việc làm đó hoàn toàn không vì được biết ơn, ghi công hay tôn vinh, mà xuất phát từ tình gia tộc nghĩa đồng bào. Về mặt kinh tế, theo quy định của Nhà nước Việt Nam, số tiền và quà của những người Việt ở các nước phương Tây gửi về cho thân nhân trong nước đều phải chuyển đổi qua ngân hàng thành tiền Việt Nam, nhưng tỉ giá thấp hơn nhiều so với chuyển đổi ở thị trường tiền tệ tự do. Về mặt chính trị, theo cảnh báo của ông Trường Chinh, đó là “những viên đạn bọc đường” !

Tác giả của “Tôi khóc mà thưa” cũng cho rằng việc đập phá bia tri ân và tưởng niệm chỉ làm khơi dậy, bùng cháy thêm những “hận thù đã ngủ yên”. Mất những dòng chữ trên bia đá, nhưng bia đời bia miệng đến nghìn năm sau chưa hẳn phai mòn. Và không chỉ có người Việt Nam, lịch sử tội ác cộng sản toàn thế giới sẽ thêm một trang về hành động trên. Ông Trần Gia Phụng, một nhà nghiên cứu lịch sử người Việt ở Canada, nhận định về sự kiện này cũng cho rằng thời gian đi qua sẽ hình thành nên lịch sử. Nhưng điều quan trọng là các thế hệ chỉ có thể làm cho lịch sử sáng rõ hơn và học được ở đó nhiều điều nhằm có “cung cách hành xử để chuộc lỗi”, chứ không phải sửa đổi và đánh tráo sự thật lịch sử. Theo ông: “Xóa bỏ một tấm bia đá thì dễ, nhưng làm sao xóa bỏ hàng triệu triệu tấm bia trong lòng của người Việt, trong trí nhớ của dân chúng thế giới, cũng như làm sao xóa bỏ được lịch sử nhân loại?”

Từ sự kiện đập phá tấm bia này, phong trào dựng bia tưởng niệm thuyền nhân lan rộng ở nhiều nơi: Grand-Saconnex (Thụy Sĩ), Santa Ana, California (Hoa Kỳ), Liège, (Bỉ), Hamburg, Troisdorf (Đức), Maribyrnong(Úc), Bagneux (Pháp). Nếu không có chuyện đập phá trên, có lẽ những tấm bia này đã không mọc nhiều thêm. Đồng thời với dựng bia, ngày 12-8-2009, Hội đồng Thành phố Westminster thông qua Nghị quyết 4257 công nhận ngày Thứ Bảy cuối cùng mỗi tháng 4 là “Ngày Thuyền nhân Việt Nam”. Trong lịch sử nhân loại, đây là sự kiện rời bỏ tổ quốc ra đi nhiều nhất mà không phải trực tiếp thời chiến, với chết chóc tang thương cũng nhiều nhất.

Cùng với ngoại giao đóng cửa khu di tích trại tị nạn và dỡ bỏ văn bia ở nước ngoài, trong nước giới lãnh đạo Việt Nam cho xây các bia căm thù, bia chiến công, hàng loạt nghĩa trang liệt sĩ được quy hoạch xây dựng sạch sẽ trang nghiêm, thường xuyên lễ viếng và hương khói… Cũng trong khi đó, các nghĩa trang nhân dân bị chuyển dời hay lập mới ở những vùng đất không mấy thuận lợi và mỹ quan, thậm chí có nơi còn nằm sát bên những núi rác khổng lồ! Từ “Boat people” (dịch là: thuyền nhân) xuất hiện trong các tự điển quốc tế để chỉ hiện tượng người Việt bỏ tổ quốc ra đi bị lâm nạn và được cứu vớt, nhưng lại không có trong từ điển tiếng Việt xuất bản sau năm 1975 và Đảng Cộng sản hoàn toàn vô cảm vô tâm trước thảm họa dân tộc do chính đường lối lãnh đạo gây ra. Vết thương hận thù chia rẽ dân tộc đã không dễ phục hồi trong đời sống chính trị Việt Nam, lại thêm một số quan điểm cộng sản cực đoan cho rằng tiếp tục cô lập một bộ phận người Việt ở hải ngoại trong khoảng vài thế hệ nữa họ sẽ tự hết hận thù và cũng không còn liên quan gì đến quê hương xứ sở. Đó là quan điểm vô cùng sai lầm. Phải thực tâm hàn gắn bằng cách nào để người Việt được sum họp trọn vẹn trong tinh thần dân tộc? Bộ Chính trị không thể tiếp tục im lặng mãi, và cũng không ai có thể trả lời câu hỏi ấy để hóa giải hận thù ngoài chỉ có Đảng Cộng sản.

Đến thời điểm này nhìn lại, xã hội miền Nam đang trên chiều hướng phát triển thịnh vượng, bỗng dưng phải gánh chịu hậu quả: tù đày vô vọng, phân biệt thành phần, thiếu thốn và bất công do tem phiếu, xóa bỏ tư hữu và giết chết tư sản, tiền bạc bị thu đổi, tài sản và nhà cửa bị cưỡng chiếm, nông nghiệp tiêu điều, công thương tan nát, ngoại giao bị cắt đứt, người dân bỏ quê hương xứ sở… Chỉ trong vài năm, toàn bộ tài sản và quyền hành vào tay Đảng Cộng sản. Nhà văn Dương Thu Hương từng theo đoàn quân đi “giải phóng miền Nam”, sau này bà đã tố cáo sự thật của một cuộc tiến công cướp bóc và áp dụng chính sách cai trị lỗi thời: “Tôi đã ở trong một đoàn quân chiến thắng; nhưng tôi phải đau đớn tuyên bố rằng mô hình tổ chức nhân xã của kẻ chiến thắng chính là mô hình man dại. Và ngược lại, mô hình của kẻ chiến bại chính là mô hình văn minh”.

 

Cuộc chiến hai đầu đất nước

 

Từ biên giới Tây Nam đến Campuchia

Từ 1975 đến 1978, quân Khmer Đỏ nắm chính quyền ở Campuchia, thường xuyên đánh phá, sát hại dân thường Việt Nam. Quy mô lớn và gây nhiều thiệt hại là những trận đột kích các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, xâm nhập sâu 10 km vào An Giang tháng 4-1977, đánh chiếm Tây Ninh tháng 9 cùng năm… Việt Nam đã mở những cuộc phản công cảnh cáo và đề nghị thiết lập vùng phi quân sự dọc biên giới. Phía Pol pot từ chối, do đó giao tranh vẫn tiếp diễn.

Tháng 12-1978, được hậu thuẫn từ Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động khoảng 50.000 quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây – Nam, thực hiện chính sách diệt chủng người Việt những nơi chúng chiếm được. Hơn 30 vạn người phải di tản về phía sau, những ruộng đồng vườn cây bị cày nát, hoang hóa. Nhiều làng xóm, phum sóc gần biên giới Tây Nam điêu tàn.

Tháng 1-1979, quân đội Việt Nam tổng phản công, đẩy lùi toàn bộ Khmer Đỏ, giải phóng nhiều vùng trên đất Campuchia, kể cả thủ đô Phnom Penh. Đến tháng 4-1979, quân đội Việt Nam đánh trận cuối vào căn cứ Leach có quy mô lớn, tập trung đông đảo nhiều quân đoàn. Sau khi Leach bị thất thủ, các đơn vị còn lại của Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Taxang sát biên giới Thái Lan. Quân đội Việt Nam tiếp tục truy quét, có trận đã đánh đuổi sâu vào tận đất Thái Lan.

Theo công bố từ Việt Nam, trong thời gian 1977 – 1978, quân đội đã tiêu diệt gần 40.000 quân Khmer Đỏ, bắt sống gần 6.000 lính. Về phía Việt Nam, đến cuối tháng 1-1979, có 8.000 lính thương vong. Theo một số liệu khác, trên 30.000 quân tình nguyện Việt Nam bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó trên 6.000 quân tử trận. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những con số trong hai năm giao tranh. Số tử trận của quân đội Việt Nam ít hơn là do Khmer Đỏ đã chủ ý sử dụng các loại mìn sát thương của Trung Quốc chỉ gây tàn tật mà không gây chết tại chỗ, để sau đó ám ảnh chiến tranh kéo dài trong người lính và nhà nước phải chịu gánh nặng trợ cấp chế độ nuôi dưỡng thương binh suốt đời. Hãy đến các trại thương bệnh binh nặng hiện nay sẽ rõ.

Do quân Việt Nam giải phóng nhiều vùng rộng lớn trong thời gian quá nhanh, Khmer Đỏ dù thiệt hại nặng nhưng hầu hết chỉ tan rã, chưa bị tiêu diệt hoàn toàn. Vẫn còn khoảng 30.000 quân có khả năng phục kích, làm mất ổn định ở những vùng hậu phương quân đội Việt Nam kiểm soát. Vì vậy, trong 13 năm đóng quân ở Campuchia, quân đội Việt Nam đã bị tàn quân quấy phá, gây thiệt hại khá lớn; đến nay không có con số kiểm kê nhân mạng chính thức. Khi Việt Nam hoàn thành rút quân vào tháng 10-1989 và LHQ hỗ trợ cuộc bầu cử năm 1993 thành lập ra chính quyền mới, Campuchia mới khôi phục lại hòa bình.

Nhận định về cuộc chiến, sâu xa nguồn gốc là từ mâu thuẫn nội bộ các phe nhóm cộng sản. Trước 1975, Trung ương cục R là đầu não chỉ huy lực lượng quân sự cộng sản ở miền Nam đã sử dụng lãnh thổ dọc biên giới Campuchia làm căn cứ địa. Khi Chính phủ Cộng hòa Khmer của tướng Lonnol thân Mỹ bị lật đổ bởi Khmer Đỏ, một cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa cộng sản diễn ra tại Campuchia. Nhóm cộng sản thân Việt Nam bị triệt thoái, hầu hết phải chạy về trong nước, định cư ở các khu giải phóng vùng Đông Nam bộ. Cùng với mâu thuẫn tiềm ẩn giữa Việt Nam và Trung Quốc có liên quan đến việc ký Hiệp định Paris, đường lối ngoại giao thân Liên Xô và chèn ép Hoa kiều ở Sài Gòn sau 1975, cũng như dã tâm thôn tính Việt Nam nhiều thời kỳ, Khmer Đỏ dưới sự vũ trang và chỉ đạo của Trung Quốc, đã tấn công Việt Nam ngay sau khi đất nước thống nhất.

Theo Đảng Cộng sản, quân đội Việt Nam có công giải phóng nhân dân Campuchia ra khỏi họa diệt chủng, nhưng sai lầm lớn cũng xuất phát từ tham vọng “tình nguyện” đóng quân quá lâu ở Campuchia. Một nhà tư tưởng xưa đã nói: “Chiến tranh là làm cho đất ăn thịt người”, đến nay việc tìm kiếm hài cốt chiến sĩ tình nguyện Việt Nam ở Campuchia trong quá trình “đất ăn thịt người” ấy vẫn tiếp tục. Con số chính thức hy sinh chưa bao giờ được công bố và chưa dừng lại, cho thấy máu xương đổ ra là vô kể mà vẫn bị bí mật bao trùm. Nếu không có phản ứng của cả thế giới, chưa hẳn lính tình nguyện Việt Nam nhận được chủ trương rút quân và không thể tưởng tượng nổi mâu thuẫn và chết chóc sẽ còn diễn ra tàn khốc mức nào.

Thời đó, có một nhà thơ quân đội đã viết một bài thơ rất hay về những người lính chiến đấu xa xứ. Họ xé những tờ lịch hàng ngày ghi lại nhật ký chiến trận. Cuối năm, những người lính xếp lại những tờ lịch cũ. Trong đó có tờ ghi:

“Tháng bảy – những tờ lịch chẳng bao giờ quên đâu

Những thằng bạn đi núi Chi không trở lại

Tiếng mìn rung lá rừng rơi rụng mãi

Tờ lịch trong túi nằm như một bàn tay”

Khi tết Nguyên đán đến mà phải ở chiến trường, không được trong không khí đầm ấm cùng gia đình, còn có cả bao suy tư trong tờ lịch cuối:

“Chúng tôi đến với mùa xuân

Với những cánh đồng ngày mưa ngập nước

Với những cánh rừng ngày khô bỏng rát

Với nỗi nhớ cồn cào Tổ quốc, Quê hương!”

Có dịp đọc cả bài thơ, chúng ta sẽ thấy tinh thần Việt Nam đúng như một câu danh ngôn đã tổng kết: “Muốn biết sức mạnh dân tộc, hãy tìm đến người lính. Muốn biết tình cảm của một dân tộc, hãy tìm đến nhà  thơ”. Dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ chiến tranh, có đủ cả hai phẩm chất hiên ngang và nhân ái. Nhưng cũng ít ai thấy được điều này: cả hai phẩm chất trên đã nằm vào tay một nhóm chủ chiến trong Bộ Chính trị. Khi bộ đội Việt Nam sang Campuchia thành nhiều đợt, truyền thông trong nước im lặng không đưa tin vì sợ lộ bí mật và sợ thế giới lên án. Khi đón đoàn quân trở về, chính quyền các cấp phải huy động mọi người, nhất là học sinh sinh viên (vì dễ huy động nhất), ra đứng ven đường cầm cờ vẫy chào, để thông tin ra dư luận về một chiến thắng của quân tình nguyện. Hơn chục năm sau, việc tìm kiếm hài cốt mang về thành nhiều đợt cũng được đón rước bằng cách huy động khối đông như trên, để trước hết truyền thông của Đảng kể công tình nguyện tiêu diệt thế lực diệt chủng, góp phần vào hòa bình thế giới. Người dân đi đón chào bộ đội còn sống và cả hài cốt trở về không phải từ thực tâm, cũng không phải vô tâm. Những người lính, hài cốt và nhân dân đều bị bất đắc dĩ đóng những vai trong một vở bi kịch mù mờ!

Viết về người thương binh chiến trường Campuchia, nhạc sĩ Trần Tiến có bài hát “Vết chân tròn trên cát”. Bài của ông có thời bị cấm, vì cơ quan tư tưởng cộng sản đặt câu hỏi: sự hy sinh của bộ đội Việt Nam để lại những vết chân tròn (người thương binh bị cụt chân, chống đôi nạng đi) trên cát trắng – mà giống như những con số 0! Giống hay không trước hết do từ trong Đảng cảnh giác và suy diễn, sau nữa thực tế sẽ trả lời. Chỉ biết rằng ở cuối bài hát ấy, sự hy sinh không để lại bất cứ điều gì cho quân đội và cho dân tộc, ngoài chỉ để lại cho đất mẹ một “bài ca trên cát trắng bao la!”

Thêm một thế hệ thanh niên quân đội tiếp tục hy sinh. Xương máu của những người lính nằm lại trên đất Campuchia để Đảng Cộng sản tự hào cho rằng đã “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả”. Đối với thế giới, nghĩa vụ quốc tế ở đây là Quốc tế cộng sản hay LHQ đề nghị tham gia thực hiện? Đối với trong nước, không có bất kỳ một “Hội nghị Diên Hồng” hay một cam kết nào cho thấy nhân dân quyết định trong việc gửi con em mình đi làm nghĩa vụ quốc tế cả. Đó là quyết định từ Đảng Cộng sản và dĩ nhiên Đảng Cộng sản phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Ngoại trừ giai đoạn phòng vệ khi Khmer Đỏ tấn công vào biên giới Tây Nam, sự hy sinh hơn mười năm sau đó hoàn toàn chỉ để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản. Ngày nay, các tập đoàn kinh tế lớn điển hình như Viettel, Tập đoàn công nghiệp cao su đi sau những chuyến ngoại giao của lãnh đạo đầu tư vào Campuchia, không phải đem lại lợi ích thiết thực cho người dân trong nước mà chỉ nhằm củng cố và xuất khẩu tư bản đỏ!

Báo chí của Đảng cho biết đến nay nhân dân Campuchia vẫn gọi quân tình nguyện Việt Nam là “Bộ đội nhà Phật”. Đã thuộc về “nhà Phật” còn cầm súng bắn giết trên mười năm liền! Trong khi đó, đồng bào Khmer trong lòng đất nước ở Tịnh Biên (An Giang) bị quân lính và chó nghiệp vụ trấn áp sau khi tịch thu ruộng đất. Khi bị thế giới lên tiếng tố cáo sử dụng quân đội giải quyết chuyện biểu tình dân sự, quân đội cùng chó săn mới rút lui. Từ vụ việc này, hàng trăm người Khmer cũng tập trung trước trụ sở LHQ biểu tình phản đối đại diện Nhà nước Việt Nam bên trong trụ sở đang đọc báo cáo tình hình thực hiện nhân quyền.

Người Khmer ở miền Nam cũng là một đối tượng nằm trong “Chính sách ba Tây” (Tây Nam bộ – Tây Nguyên – Tây Bắc) của Đảng nhằm quản lý các cộng đồng dân tộc thiểu số tiếp theo việc xóa bỏ quyền các dân tộc được lập khu tự trị trong Hiến pháp 1959. Người Khmer hầu hết theo dòng Phật giáo Tiểu thừa, vốn hiền lành. Một bộ phận Khmer chỉ có thể độc ác khi trở thành cộng sản. Khi vì quyền lợi chung thì liên minh với cộng sản Việt Nam cùng phá vỡ Hiệp định Paris, dùng vũ lực lật đổ chính quyền hợp hiến ở Campuchia. Nhưng khi lợi ích không còn gắn bó, hai phe phái cộng sản này gây chiến, hậu quả là những người lính và nhân dân hai nước gánh chịu.

Nhà báo Huy Đức từng là một người lính trải qua sống chết ở chiến trường Campuchia, đã suy nghĩ: “Không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ sứ mệnh của mình là giải phóng… Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do”. Chia sẻ suy nghĩ đó, chúng ta càng hiểu rõ hơn xương máu quân đội Việt Nam đổ ra ở Campuchia hơn mười năm có ý nghĩa gì, liên hệ ngược về lịch sử còn có thể hiểu hy sinh của bao người lính thực hiện lời kêu gọi “giải phóng miền Nam” của Đảng Cộng sản mà ngay sau đó không phải ai cũng được hưởng độc lập, tự do có ý nghĩa gì…

Chiến tranh biên giới phía Bắc

Trong lịch sử dân tộc vào năm 1075, phía Nam Đại Việt bị Chămpa đánh phá. Phía Bắc, nhà Tống cũng tập trung quân tràn sang. Mặc dù không gian chủ quyền xưa và nay đã khác nhau, nhưng hoàn cảnh như ngẫu nhiên lặp lại vào năm 1979 khi ở phía Nam Khmer Đỏ đánh phá và phía Bắc Trung Quốc tràn sang.

Trước khi chiến tranh, từng xảy ra “nạn kiều”, người Hoa kéo nhau về Trung Quốc và đến các nước khác. Những tháng cuối năm 1978: Trung Quốc chấm dứt viện trợ và rút tất cả chuyên gia ở Việt Nam về nước. Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm các quốc gia ASEAN căm tức công bố: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”, trong chuyến thăm Nhật Bản ký hiệp định hữu nghị và hòa bình cùng “chống sự độc bá” Liên Xô, trong chuyến thăm Hoa Kỳ quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao và công bố sẽ “xem là điều cần thiết để kìm hãm tham vọng của Việt Nam và cho chúng bài học hạn chế thích hợp”. Trung Quốc cũng gửi một công điện sang Việt Nam cảnh báo “sự kiên nhẫn và kiềm chế của Trung Quốc là có giới hạn”. Đường xe lửa liên vận nối Việt Nam sang Liên Xô ngừng hoạt động trên đất Trung Quốc, đường hàng không Bắc Kinh- Hà Nội chấm dứt. Về phía Việt Nam, Đảng Cộng sản phổ biến Nghị Quyết TW 4 chỉ đạo xây dựng kinh tế đi đôi tăng cường quốc phòng và sẵn sàng chiến đấu, đồng thời ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô.

Trung Quốc đã huy động 32 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng 600.000 lính, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tuy nhiên, trong một tháng diễn ra cuộc chiến, Trung Quốc đã không sử dụng không quân. Cũng vào thời điểm này, 3/4 quân số chính quy Việt Nam đang ở Campuchia, trấn giữ biên giới phía Bắc chỉ còn lại một số sư đoàn, bộ đội địa phương, công an vũ trang, dân quân tự vệ. Một bộ phận quân chính quy phải đóng ở Hà Nội bảo vệ cơ quan đầu não trung ương trong tình huống Trung Quốc tiến vào.

Sáng ngày 17-2-1979, quân đội Trung Quốc với chiến thuật biển người có xe tăng và pháo binh mở đường, tiến công trên toàn tuyến biên giới. Hai ngày sau khi khởi sự cuộc chiến, một nhóm cố vấn quân sự Liên Xô đến Việt Nam, thực hiện việc viện trợ vũ khí cho quân đội qua cảng Hải Phòng và dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chính quy từ Campuchia về. Liên Xô cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc rút quân. Đến cuối tháng, quân Trung Quốc đã chiếm Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang và một số thị trấn; cơ sở vật chất những nơi này bị phá hủy triệt để. Quân Việt Nam một mặt phòng ngự kìm bước tiến và gây thiệt hại nặng, mặt khác cũng phản kích qua biên giới đánh vào thị trấn Ninh Minh (Quảng Tây) và Malypo (Vân Nam) nhưng hiệu quả đạt được không đáng kể.

Hai bên tiếp tục tăng cường lực lượng vào cuộc chiến. Đẫm máu nhất là Lạng Sơn: sư đoàn bộ binh Sao Vàng của quân đội Việt Nam cùng một số sư đoàn khác áp dụng chiến thuật phòng thủ nhằm đẩy lùi các cuộc tiến công. Bất chấp hy sinh chồng chất, quân Trung Quốc vẫn tràn lên, vào được thị xã chiều ngày 4-3. Ngày hôm sau, quân đội Việt Nam điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh hỗ trợ, chuẩn bị phản công, đồng thời lệnh tổng động viên toàn quốc. Cũng trong ngày này, do áp lực của Liên Xô và phản đối của quốc tế, Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu chiến tranh. Đến ngày 18-3, quân Trung Quốc hoàn tất rút quân. Theo Trung Quốc: quân Trung Quốc có 6.900 người chết, 14.800 người bị thương và 240 người bị bắt. Quân Việt Nam có 60.000 người chết và bị thương, 1.600 người bị bắt. Theo Việt Nam: quân Trung Quốc có 62.500 người chết và bị thương, tổn thất 280 xe tăng, 115 khẩu pháo cối và 270 xe quân sự. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương. Việt Nam không nêu tổn thất của quân đội. Sau khi kết thúc, cả Việt Nam và Trung Quốc mỗi bên đều công bố chiến thắng, không có kẻ thua.

Vậy thì những người lính và nhân dân ở vùng biên hai nước đã thua, bởi vì cuộc chiến để lại quá nhiều thiệt hại. Về phía Việt Nam, ở sáu tỉnh biên giới: 320 xã, hơn 700 trường học, hơn 400 bệnh viện, bệnh xá, gần 200 nông trường – lâm trường – xí nghiệp hầm mỏ và toàn bộ hoa màu ruộng rẫy bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Gần hai triệu dân mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Nếu Trung Quốc tiếp tục dồn sức tấn công thẳng đến Hà Nội, dù có thể tiến đến được hoặc có thể bị cầm chân, thì mức độ hy sinh và tàn phá sẽ còn cao gấp nhiều lần. Cuộc chiến tập trung khốc liệt trong một tháng, nhưng mười năm tiếp theo căng thẳng xung đột vũ trang dọc biên giới buộc Việt Nam phải thường trực duy trì một lực lượng quân sự lớn. Nhiều cột mốc biên giới bị phá hủy, tranh cãi lấn đất kéo dài, đời sống sản xuất và sinh hoạt mọi mặt bị ảnh hưởng. Hàng hóa hai nước không được giao thương, thông tin đổi mới và mở cửa về kinh tế từ Trung Quốc cũng không đến được Việt Nam trong bảy năm liền. Việt Nam đã bị Hoa Kỳ cấm vận kinh tế, thêm bị hậu quả chiến tranh phía Bắc, lại bị dư luận thế giới phản đối chiếm đóng Campuchia, dẫn đến bị quốc tế cô lập. Trong hoàn cảnh đó, nhằm tạo thế cân bằng quân sự với Trung Quốc, đồng thời để nhận được viện trợ từ Liên Xô tháo gỡ khó khăn, tháng 3-1979, Nhà nước Việt Nam đã cho Liên Xô thuê cảng quân sự Cam Ranh trong 25 năm.

Cuối tháng 4-1984, Trung Quốc mở thêm trận đánh sang Việt Nam vì cho rằng quân đội Việt Nam đã nã đạn pháo qua biên giới. Theo tác phẩm “Dữ kiện bí mật của chiến tranh Trung – Việt” xuất bản từ Trung Quốc, sau khi dùng pháo binh ở Côn Minh dọn đường, bộ binh chiếm cao điểm 1509 và một số khu vực. Phía Trung Quốc bị thương vong nặng nhưng cũng đạt được mục tiêu. Giữa tháng 7-1984, trận đánh lớn nhất đã diễn ra. Việt Nam tập trung 6 trung đoàn bộ binh bao vây và tấn công 1 trung đoàn bộ binh Trung Quốc. Pháo binh Trung Quốc giải vây từ xa đã làm hàng ngàn quân Việt Nam hy sinh. Sau trận này, giao tranh ít dần, hai bên chủ yếu đấu pháo qua lại. Cuộc chạm súng bằng bộ binh giữa tháng 2-1991 đánh dấu chính thức kết thúc cuộc chiến.

Có nhiều nguyên nhân tiềm chứa từ lâu trong quan hệ Việt – Trung dẫn đến cuộc chiến. Trong đó, trực tiếp là việc Việt Nam mang quân sang Campuchia lật đổ Khmer Đỏ. Một số phân tích cho rằng Trung Quốc tiến công có giới hạn nhằm thăm dò, đánh giá thái độ và mức độ viện trợ của đồng minh Liên Xô. Trước năm 1975, Trung Quốc viện trợ cho quân đội phía Bắc Việt Nam khoảng 300 đến 400 triệu USD/năm, sau đó giảm dần đến con số 0 vào năm 1977. Trường hợp có chuyên gia quân sự và nguồn viện trợ thay thế thì Trung Quốc sẽ có cơ sở khẳng định Việt Nam là mối nguy lớn ở phía Nam.

Để hiểu hơn về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, hãy nhìn lại một sự kiện diễn ra năm 1975. Theo Đại sứ Martin và lãnh đạo CIA Polgar ở Sài Gòn lúc đó thì đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ở Thụy Điển và Paris muốn có giải pháp chính trị cho miền Nam. Ngoại truởng Kissinger cũng cho biết đến ngày 27-4, Bộ Chính trị phía Bắc vẫn còn chủ trương điều đình với Chính phủ Dương Văn Minh. Tổng thống Dương Văn Minh sau khi tuyên thệ nhậm chức cũng cử người đến tiếp xúc với đại diện phái đoàn cộng sản tại trại Davis, bàn vấn đề ngưng bắn và hòa giải dân tộc. Nhưng bắt đầu tối 27-4, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản phía Bắc lại bất ngờ chỉ đạo phải giải quyết vấn đề miền Nam bằng quân sự.

Nguyên nhân của quyết định đột ngột ở thời điểm này đã được hé lộ qua tài liệu từ phía Việt Nam phát hành nội bộ khi xảy ra cuộc chiến tranh 1979. Tài liệu có tên: “Sự thật về Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, đoạn nói về năm 1975 đã tố cáo nhà cầm quyền Bắc Kinh bí mật cấu kết với chính thể Việt Nam Cộng hòa ngăn cản tiến chiếm Sài Gòn: Họ tìm cách lôi kéo nhiều tuớng tá và quan chức ngụy quyền Sài Gòn hợp tác với họ, thậm chí cho người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, Tổng thống vào những ngày cuối của chế độ Sài Gòn, để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam Việt Nam”. Vì vậy, phái chủ chiến trong Đảng Cộng sản phía Bắc đã quyết định vứt bỏ giải pháp chính trị hòa giải dân tộc do lo sợ Trung Quốc can thiệp bằng cách ủng hộ Chính phủ Dương Minh, từng bước thay thế vai trò bảo trợ của Hoa Kỳ ở miền Nam.

Trung Quốc có một số lượng đáng kể Hoa kiều nắm uy thế kinh tế ở Sài Gòn và miền Nam nói chung (trong lịch sử từng ủng hộ Nguyễn Ánh chống Nguyễn Huệ, gây ảnh hưởng đường lối ngoại giao, cát cứ phía Nam…). Trung Quốc hợp tác với Hoa Kỳ kết thúc chiến tranh Việt Nam ưu tiên vì mục tiêu của họ. Ở thời điểm đó, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới thứ ba, phù hợp trong vai trò ủng hộ Chính phủ hòa giải dân tộc ở Sài Gòn. Về mâu thuẫn trước đây với Liên Xô, Trung Quốc không chấp nhận miền Nam sau khi thống nhất rơi vào ảnh hưởng của “đại bá”. Mọi giúp đỡ của Trung Quốc trong chiến tranh đều cân nhắc và tính toán đi trước nhiều nước cờ, càng không phải là giúp đỡ từ khối XHCN mà Liên Xô và Trung Quốc bắt tay nhau. Trung Quốc trước đây giúp cộng sản Việt Nam chống chế độ Việt Nam Cộng hòa và cũng chính họ ngầm cấu kết với chính thể này. Nghĩ rằng tài liệu trên mâu thuẫn, nhưng xét tình hình gần 30-4 là hoàn toàn có sơ sở. Chỉ riêng dữ kiện cho thấy tai họa mà dân tộc phải gánh chịu bao nhiêu lượt chính là từ mâu thuẫn giữa các Đảng Cộng sản.

Mặt khác, cuộc chiến thêm lần nữa gợi nhớ lại lập luận của Đảng Cộng sản từ năm 1945: thù trong giặc ngoài. Đảng Cộng sản từng xác định thực dân Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch, phát xít Nhật, rồi đế quốc Mỹ đều là “giặc ngoài” cấu kết với “thù trong”. Các đảng phái và phong trào yêu nước trước 1945 như đã đề cập, chưa hề trở thành kẻ thù dân tộc. Chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim bỗng nhiên bị lật đổ xét cho kỹ cũng không phải là kẻ thù. Các đảng phái tôn giáo bị tiêu diệt chỉ có thể do Đảng Cộng sản xem là kẻ thù. Những người bỏ miền Bắc vào Nam năm 1954 chỉ thực hiện quyền tự do lựa chọn thể chế và nơi cư trú. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa phía Nam do người Mỹ giúp lập nên mà hầu hết người dân, kể cả người dân phía Bắc không phản đối ngoài Đảng Cộng sản? Những người sau 1975 hầu hết bị giết chết và cô lập bơ vơ trong lòng dân tộc đến độ phải bỏ quê hương ra đi sao gọi họ là kẻ thù? Vì sao xung quanh Đảng Cộng sản, đối tượng nào cũng trở thành thù trong giặc ngoài?

Trung Quốc trong hàng ngàn năm, qua hai cuộc chiến tranh lớn, đến chiến tranh hai đầu đất nước là bạn hay thù? Ngay sau cuộc chiến, khi không còn chỗ dựa buộc phải bám vào Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam lại xem đó là láng giềng, bạn bè, đồng chí và đối tác tốt (4 tốt). Đáng quan tâm còn có phương châm ngoại giao 16 chữ: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” do hai bên thống nhất đề ra đã được phía Việt Nam mạ thêm một chữ vàng vào (trở thành 16 chữ vàng) nâng cao giá trị. Từ đó, cuộc chiến hầu như không còn được nhắc nhiều trên các phương tiện truyền thông, sách vở hay các chương trình văn hóa nghệ thuật một thời. Có định chuẩn gì để nhận diện lẫn truy tâm thù trong, giặc ngoài, đồng chí tốt… nếu không phải chỉ là lập luận tự tôn, che giấu sự thật và độc chiếm chân lý? Công luận đã cho rằng không ai khác, chính Đảng Cộng sản Việt Nam là thù trongTrung Quốcgiặc ngoài! Điều này sẽ càng thể hiện rõ ràng hơn nữa ở những giai đoạn lịch sử tiếp theo.

Trong Hiến pháp 1980, lời mở đầu xác định rõ “bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Campuchia”. Sự kiện này mà đưa vào hiến pháp là một xác định quan trọng, thậm chí bất di bất dịch. Nhưng đến năm 1992, khi hiến pháp mới ra đời, xác định ấy biến mất như một màn diễn đã kết thúc. Trong một tài liệu dày 250 trang nói về lịch sử Đảng qua các thời kỳ, cuộc chiến biên giới Tây Nam chống Khmer Đỏ viết được một trang, cuộc chiến biên giới phía Bắc viết chỉ 1/3 trang. Trong 1/3 đó, hơn một nửa ca ngợi tình hữu nghị với Trung Quốc, không liên quan sự kiện này. Còn trực tiếp nói về cuộc chiến chỉ có… năm câu rất ngắn, cụ thể: “Nhưng từ năm 1978, quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam xấu đi rõ rệt. Trên tuyến biên giới Trung – Việt liên tiếp diễn ra các vụ xung đột. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã tiến công Việt Nam. Quân và dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Ngày 18-4-1979, Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu đàm phán để khôi phục hòa bình, an ninh ở biên giới, giải quyết tranh chấp về biên giới lãnh thổ” [30].

Nghĩa trang liệt sĩ với mộ phần của những người lính Việt Nam hy sinh ở các tỉnh biên giới, theo phản ánh của nhà báo Huy Đức, nay bị bỏ hoang tàn. Bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” của Phạm Tuyên một thời từng thôi thúc tinh thần yêu nước của các thế hệ Việt Nam, với hình ảnh tổ quốc rất xúc động: “Mang trên mình còn lắm vết thương, người vẫn hào hùng ra chiến trường. Vì một lẽ sống cao đẹp vì mọi người: độc lập tự do”. Nay những tình cảm thiêng liêng đầy thôi thúc ấy, cũng như số phận của biết bao ca khúc, tác phẩm thơ văn đầy tâm huyết tắm trong mạch suối tinh thần dân tộc, đều bị cơ quan tư tưởng của Đảng Cộng sản “niêm phong” sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Tháp Bút giữa lòng Hà Nội xưa còn đó. Nhưng đâu rồi những nhà viết sử thời cha ông với tinh thần “tả thanh thiên”, viết lên trời xanh phải trung thành với sự thật? Đâu rồi quan điểm viết sử của Chu Văn An? Trong “Đại Việt Thông sử”, Lê Quý Đôn cũng từng nhận định: “Phép làm sử là phải: mỗi sự kiện đều nhặt đủ, không bỏ sót, để cho người ta sau khi mở sách ra xem, rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không được mắt thấy tai nghe mà rõ ràng như chính mình được thấy”. Không hiểu những thế hệ trẻ Việt Nam sẽ tiếp cận lịch sử của chính dân tộc mình một cách què quặt, méo mó với nhiều “góc khuất”, “vùng cấm” đến mức nào! Và dĩ nhiên đây không phải là trường hợp đầu tiên, càng không phải trường hợp khép lại sau cùng.

 

Trước đổi mới

Nơi xuất phát chủ trương

Việc học và hành của lãnh đạo đất nước

Đối với các nước phương Tây, các cá nhân hay nhóm nghiên cứu kinh tế xã hội (think-tank) thường độc lập với đảng phái chính trị và nhà nước, thực hiện yêu cầu tư vấn đề ra biện pháp khả thi, có lợi. Các nhóm học thuật này vừa hiểu biết thực tế, lại được hỗ trợ bởi công cụ thống kê và điều tra xã hội học nhanh nhạy trung thực, là nơi tập trung nhiều chuyên gia giỏi về các lĩnh vực. Từ đó, trí thức góp phần gợi ý những định hướng, biện pháp kinh tế xã hội hữu ích và ổn định quốc gia, khai thác lợi thế thời đại, hạn chế tác động các cuộc khủng hoảng…

Còn ở Việt Nam một thời gian dài, mọi chủ trương xuất phát từ Bộ Chính trị, việc tham mưu không thoát ra khỏi ý thức hệ Mác-xít. Đa phần lãnh đạo cấp cao của Đảng chỉ vận động quần chúng đấu tranh cách mạng, khi bước vào xây dựng đất nước thì không có kiến thức và kinh nghiệm, lại không bàn giao sự nghiệp kiến thiết đất nước lại cho bất cứ cứ ai. Vì thế, các lãnh đạo vừa làm vừa học để có thể tiếp tục nắm cương vị lãnh đạo. Việc học không có quá trình, nay lại phải học vắn tắt từ những chuyên viên, dẫn đến tiếp thu chỉ hình thức, máy móc. Tai họa chính là ở chỗ: không phải là hoàn toàn không biết gì, cũng không phải đạt đến hiểu sâu rộng vấn đề, mà biết không đến nơi đến chốn!

Ai dạy và dạy nội dung gì: cá nhân từng lãnh đạo mời các giáo sư, tiến sĩ được đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN, như ông Trần Phương, Đoàn Trọng Tuyến, Trần Việt Phương, Đậu Ngọc Xuân… đến để tóm tắt những tác phẩm lý luận của Marx, Engels, Lenin. Thậm chí có vị lãnh đạo tuyên bố rằng chỉ cần nắm được các vấn đề cơ bản trong bộ “Tư bản” của Marx xem như đã nắm được toàn bộ lý luận của các nền kinh tế ưu việt nhất qua mọi thời đại, nắm được chìa khóa vạn năng mở cửa mọi vấn đề.

Ai học và học như thế nào: ông Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị… Không phải quan hệ thầy trò, cũng không phải quan hệ lãnh đạo và tham mưu, giữa tiếp cận lý thuyết và đề ra giải pháp càng không đồng nhất. Một bên cung cấp lý thuyết và hiểu biết, một bên dựa vào lý thuyết được cung cấp và bằng quyền lực – ý chí – kinh nghiệm của mình ứng dụng xây dựng đường lối triển khai ra thực tế. Nhưng lý thuyết cung cấp tựu trung lại chỉ một nguồn duy nhất, bởi tất cả tài liệu sách báo phương Tây đều bị cấm ban hành. Người lĩnh hội lý thuyết xây dựng xã hội ở đỉnh cao quyền lực nên không thể hình thành môi trường trao đổi học thuật thật sự.

Cũng do thiếu hiểu biết, Bộ Chính trị chủ trương lập ra rất nhiều ban chuyên trách, hệ thống trường Đảng từ trung ương đến tỉnh, rồi Viện nghiên cứu quản lý kinh tế… Những lãnh đạo cấp tỉnh đều phải đi học trường Đảng, xem như yêu cầu chuẩn hóa bắt buộc. Sau 1975, cùng với Học viện Chính trị đã có ở phía Bắc, thêm hai phân viện ở Sài Gòn và Đà Nẵng. Cả ba miền đã đào tạo hơn một triệu lượt lãnh đạo các cấp. Đây là hệ thống trường lớp trang bị tư tưởng chuyên chính vô sản. Bất chấp tri thức phong phú nhiều mặt của nhân loại và thực tiễn thay đổi từng ngày, trường Đảng vẫn bám vào các giáo trình như: Triết học Marx-Lenin, Kinh tế chính trị học Marx-Lenin, CNCS khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử phong trào công nhân quốc tế… với niềm tin rằng đó là kim chỉ nam cho mọi lĩnh vực và phong trào cách mạng.

Sau khi được học, lãnh đạo các cấp bắt đầu áp dụng lên hệ thống đảng chính trị và nhà nước đã được củng cố. Các khâu từ tập trung ý tưởng và tình hình thực tế – trao đổi và giới hạn văn bản – ký ban hành và thực hiện trở thành quy trình khép kín, chặt chẽ một chiều. Căn cứ hệ thống văn bản đó, các cấp thấp hơn phải lập kế hoạch thực hiện, tổ chức tập huấn và nói chuyện ra dân. Cho nên, một nội dung chỉ đạo thường được máy móc áp dụng như nhất cho mọi trường hợp, đối tượng, thời điểm và khu vực vùng miền.

Đến những năm 1980, vấn đề dư luận và điều tra xã hội bắt đầu được quan tâm. Lúc này, một số nhà lãnh đạo đã nhìn thấy tác hại từ tư duy chủ quan duy ý chí, nên vào tháng 10-1982 chủ trương lập ra Viện nghiên cứu dư luận xã hội. Nhưng cơ quan này vẫn không thể triển khai bất cứ hoạt động gì hiệu quả, chỉ tồn tại trên quyết định thành lập và một số nhân sự chủ chốt được bổ nhiệm. Do đó, ý chí chủ quan lãnh đạo lại vẫn tiếp tục tạo ra kênh thông tin một chiều, dội các kế hoạch và chỉ tiêu từ trên xuống. Toàn bộ việc điều hành xã hội rộng lớn muôn mặt vẫn tiếp tục tập trung ở một nhóm người bảo thủ, thâu tóm quyền hành, muốn ghi lại dấu ấn lịch sử… nên gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Năm 1980 cũng là thời điểm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Còn nhớ năm 1976, văn kiện Đại hội IV của Đảng Cộng sản xác định thủy sản là ngành mũi nhọn, phấn đấu khai thác từ 600.000 tấn lên 1 triệu tấn, rồi xuất khẩu thủy sản thu ngoại tệ về từ 21 triệu USD lên gấp đôi. Để thực hiện điều này, ngành thủy sản phải huy động tại chỗ và vay vốn tổng cộng 500 triệu USD tăng tàu thuyền máy móc, đầu tư xây dựng trên 20 nhà máy đông lạnh cả nước. Kết cuộc hiệu quả kinh tế không bằng cách lao động nậu vựa. Ông Tố Hữu rất khôi hài và phi lý khi nhận xét về sự thua lỗ: “Thủy sản đang tuột dốc theo chiều thẳng đứng”, đáng ra phải gọi là vật rơi sau khi bị bắn cao lên mà không thể tự bay được. Ông Đỗ Mười mỉa mai rằng nên đổi tên Bộ Thủy sản thành “Bộ phá sản”. Đáng lưu ý là nhận xét của giáo sư Đào Xuân Sâm: “Đất nước ta đang lâm vào tình cảnh kinh tế suy kiệt, mà thủy sản là ngành đã đến đáy của sự kiệt quệ”. Những ý kiến trên cho thấy phá sản đã xuất hiện ngay từ trong tư duy lãnh đạo kinh tế quốc doanh một cách chủ quan máy móc: tập trung tất cả sức người sức của vào một vài lĩnh vực, lúng túng quản lý điều hành, bất lực, hao phí, không ai chịu trách nhiệm.

Năm 1983, khi ông Võ Văn Kiệt chuyển công tác ra Hà Nội, đã kể lại cách làm việc của bộ máy vạch ra đường lối phát triển đất nước qua tiếp xúc với một nhóm tham mưu: Họ được học rất kỹ về cái nghề làm kế hoạch ở Liên Xô. Họ thuộc làu các con số. Và vì thế chỉ ngồi ở số 6 – Hoàng Diệu mà quy định ra hàng ngàn chi tiêu cho cả nước, cho tất cả các bộ, các tỉnh, thậm chí từng nhà máy, từng huyện… Cái gì họ cũng thuộc, vấn đề gì họ cũng nắm chắc và rất có hệ thống. Cãi họ không nổi vì số liệu của họ đầy đủ lắm…”. Nhưng tất cả chỉ là lý thuyết không thực tế, khi đi xuống từng đơn vị làng xã mới thấy sức phá hoại của những “quả bom kế hoạch” này. Ông kể, một tỉnh không có cây điều nhưng cũng được trung ương giao chỉ tiêu sản lượng điều hàng năm. Một Vụ trưởng đến nhà dân chỉ cây điều và hỏi là cây gì, một Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thấy cây đu đủ gọi là thầu dầu! Sức ì từ những bộ óc bảo thủ và thiếu thực tế trong xây dựng kế hoạch lẫn chỉ đạo đã trở thành căn bệnh trầm trọng.

Có thể nói tầm mức tư duy của những chỉ đạo trên vẫn bị bao bọc bởi lũy tre làng, không vượt ra khỏi ao làng và cả lối mòn đường làng ăn sâu vào từng nếp nghĩ cách làm. Lỗi này là do các lãnh đạo đã tự trói mình vào một hệ tư tưởng. Từ đó, những nhóm tham mưu muốn trình bày các lý thuyết, phương pháp phi Mác-xít trong các công trình nghiên cứu, báo cáo, tham luận, đề án, văn bản… đều phải xem như là những tham khảo mở rộng, rất ngắn và xếp sau cùng sau khi đã trình bày hàng loạt lý luận XHCN… Từng có những trí thức vượt ra khỏi hiểu biết đó và bị cách chức hay cô lập. Đến khi lúng túng gần như không còn lối thoát, Bộ Chính trị mới mời các chuyên gia kinh tế Liên Xô sang Việt Nam “gỡ rối”. Họ đưa ra “chiếc phao” những năm 1920 với mô hình kinh tế NEP [31] của Lenin. Không ít lãnh đạo và các chuyên viên liền “bám vào” và xem như đã tự cứu mình. Nhưng còn một số lãnh đạo bảo thủ chậm tiến hơn cả những người đã trở về năm 1920, công khai chỉ trích áp dụng NEP là chệch hướng, cần xét lại!

Tư duy của Tổng Bí thư

Để hiểu rõ hơn tư duy của Bộ Chính trị, chúng ta cần có vài thông tin về Tổng Bí thư Lê Duẩn. Ông là quyết định những chủ trương, đường lối quan trọng của cách mạng vô sản tiếp theo sau Hồ Chí Minh, cả trong chiến đấu và thời kỳ xây dựng. Một trong những chủ trương kinh tế thời kỳ này là: tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (quan hệ sản xuất – khoa học kỹ thuật – tư tưởng văn hóa), chế độ làm chủ tập thể, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thêm khái niệm “sự bừng nở toàn thân”, “pháo đài cấp huyện”… Khi đi dự đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, nghe ông Brejenev cho biết phải huy động đông đảo các viện nghiên cứu và các nhà khoa học hàng đầu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để tổng hợp tình hình và xây dựng kế hoạch cho chặng đường mới, Lê Duẩn nói với Brejenev: “Còn tôi, tôi chỉ cần có mấy chú thư ký thôi” !

Trong quá trình trao đổi ở Bộ Chính trị hay với các chuyên gia đầu ngành trong nước, ông chỉ muốn có người nghe và công nhận ý tưởng của ông, mà rất ít nghe kỹ người khác nói. Ông hay cắt lời, phát biểu chỉ đạo gần một buổi trong các cuộc họp nên không còn thời gian cho người khác trình bày. Tự ông khẳng định tính chân chính và khoa học ở những suy nghĩ của mình mà không cần thử nghiệm trước khi áp dụng. Vì thế không ít chỉ đạo của ông trong xây dựng đất nước, áp dụng đến đâu thường chỉ tìm thấy sự đồng thuận hình thức và sai lầm đến đó. Năm 1977, ông diễn giải vai trò và vị trí của khái niệm “làm chủ tập thể”: “Loài người cho đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể”. Rồi ông cho biết làm chủ tập thể là: làm chủ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân, làm chủ tư liệu sản xuất – quản lý – phân phối, làm chủ cả nước và làm chủ từng địa phương… Nghe xong, các vị trình độ giáo sư như ông Phạm Như Cương, Trần Đức Thảo, cả ông Trường Chinh… cũng không hiểu gì! Sau khi ông Lê Duẩn qua đời, ông Nguyễn Đức Bình mới mạnh dạn phê phán qua liên hệ với một nhận xét của Lenin: đó là những “bông hoa điếc mọc trên thân cây sống”.

Khái niệm “làm chủ tập thể” còn được Lê Duẩn nói chuyện với cán bộ đang công tác và học tập ở Liên Xô: “Lenin đã đưa ra công thức: CNCS = Chính quyền Xô Viết + Điện khí hóa. Ta cần phải thêm rằng:  CNCS = Chính quyền Xô Viết + Sản xuất lớn XHCN + Làm chủ tập thể”. Nói về dân chủ, ông cho rằng Lenin chỉ đề cập khía cạnh pháp quyền, còn làm chủ tập thể của ông là ”một triết lý lớn của việc tổ chức xã hội mới chưa từng có trong lịch sử loài người”. Với ông, và một số thân cận buộc phải nói theo, đó là việc sáng tạo lý luận nhằm vận dụng phù hợp vào hoàn cảnh Việt Nam, tránh sáo mòn và kinh điển. Nhưng đối với người dân hiểu nôm na lại là: cái đúng thường không mới mà cái mới thường không đúng! Cứ thế, nhà lãnh đạo phát biểu, các phương tiện thông tin và cán bộ tuyên giáo khuếch đại khuếch tán thêm ra… Ở đâu và bất cứ lúc nào người ta đều nghe kêu gọi “làm chủ tập thể”, nhưng chẳng ai được làm chủ nổi ngay cả bản thân mình! 

Vấn đề là sau khi gom hết đất đai, tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế… vào công hữu, ông còn muốn “gom” cả suy nghĩ và việc làm từng người trong từng giờ từng ngày vào việc hãy nhớ và thực hiện một khái niệm. Cho nên “làm chủ tập thể” triển khai ra toàn dân để rồi chỉ thấy lãng phí, tham ô, cắt xén, chiếm đoạt, gian lận, móc ngoặc, bao che, ỷ lại, vô trách nhiệm… Làm chủ mà thực ra là vô chủ! Cả xã hội bất lực và chính ông cũng bất lực. Thật vậy, khi nhận thấy những tư tưởng làm chủ tập thể, sản xuất lớn XHCN và “pháo đài cấp huyện” không thể thực hiện nhiều nơi, ông bức xúc: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi”. Nhưng qua nhiều sai lầm, vẫn lặp lại hiện tượng chỉ thấy các lãnh đạo chuyển công tác, thậm chí sau một thời gian còn ở cương vị cao hơn, không thấy vị nào từ chức cả!

Mâu thuẫn ở ông là: lý luận xa rời thực tiễn, hơn thế nữa một thứ lý luận rắc rối không có căn cứ khoa học. Ông muốn thực hiện những dự định chỉ mình ông hiểu và muốn có nhanh kết quả, nên thường gạt bỏ mọi tham vấn và chính kiến khác. Từ đó, bảo thủ và độc đoán hình thành. Sai lầm của ông theo như nhận xét của nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp là đã xóa bỏ kinh tế nhiều thành phần để muốn có ngay nền kinh tế XHCN hai thành phần, áp dụng cơ chế kế hoạch hóa để bài xích kinh tế thị trường, muốn có nền sản xuất lớn nên mới có sáp nhập tỉnh và xây dựng hợp tác xã. Đại tướng khẳng định: “Những khuyết điểm và sai lầm nói trên là trách nhiệm chung của Bộ Chính trị và Trung ương, trong đó anh Ba (Lê Duẩn) là người chủ trì có trách nhiệm lớn”.

 

Nhân dân bất chấp chủ trương

Năm 1978, được sự chấp thuận riêng của ông Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, công ty thu mua lương thực về miền Tây Nam bộ mua lúa của nông dân không theo giá rẻ do nhà nước quy định, mà ngang bằng giá thị trường. Nhờ đó, hơn ba triệu dân Sài Gòn có gạo ăn, nông dân cũng bán được lúa trữ. Ngoài ra, còn có An Giang cũng tự phá giá trong thu mua lúa, Long An thực hiện cung – cầu hàng tiêu dùng theo giá thị trường. Qua cách làm này, thị trường trao đổi ngang giá có tín hiệu tái lập, chủ trương chèn ép giá nông sản làm thiệt hại nông dân bắt đầu bị lung lay. Nhóm bảo thủ ở trung ương chủ trương thu mua giá rẻ im lặng.

Cùng với miền Nam, nhiều nơi khác bắt đầu bất tuân sự lãnh đạo của Đảng. Hợp tác xã nông nghiệp Đoàn Xá (Hải Phòng) trước đó sản lượng chỉ đạt 60 kg/sào Bắc bộ. Năm 1980, địa phương tự “khoán chui”, năng suất tăng lên gấp sáu lần. Ông Phạm Hồng Thưởng, Chủ nhiệm hợp tác xã đã tiên đoán và chấp nhận trước hậu quả bị khai trừ khỏi Đảng có thể xảy ra do bất chấp chủ trương khi khẳng định: “Bây giờ, cái cấp bách là cuộc sống của dân chứ chưa phải là thẻ Đảng. Có thẻ Đảng mà dân đói thì mang thẻ Đảng càng thêm xấu hổ. Cứ làm sao lo cho hợp tác xã lên, đấy mới là cái thẻ quý nhất”. Lãnh đạo huyện và tỉnh nghe tin, bèn trù dập và kỷ luật ban quản trị. Nhưng trước thành công không thể chối cãi, cấp tỉnh phải báo cáo lên trung ương. Khi hội nghị báo cáo mô hình khoán nông nghiệp của Đoàn Xá được tổ chức, một vị trong Ban Nông nghiệp Trung ương còn cho rằng: “Nếu nêu cao tấm gương Đoàn Xá tức là noi gương bọn ăn mày, như thế thì còn gì là CNXH”. Vị lãnh đạo này đã quên hoặc cố ý quên rằng trong hoàn cảnh khó khăn, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng phải đi xin viện trợ ở các nước XHCN mà có nước còn không muốn đón tiếp theo nghi thức ngoại giao, cảnh người dân xếp hàng chờ giải quyết tem phiếu cửa hàng bách hóa không phải là ăn xin hay sao?

Xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu – Côn Đảo ở một vùng biển giàu hải sản, trước 1979 thực hiện chủ trương lấy thủy làm ngành mũi nhọn nhưng luôn thua lỗ, không thoát khỏi thực trạng toàn ngành bị phá sản. Trong khi đó, các tàu đánh cá tư nhân khai thác và bán sản phẩm rất nhanh. Xí nghiệp mạnh dạn mời một đại diện nhóm đánh cá tư nhân làm ăn tốt nhất đến quản lý. Trong thời gian ngắn, sản lượng tăng, sản phẩm bán nhanh, thu nhập của công nhân cao hơn gấp ba lần. Công ty xe khách Bến xe miền Đông cũng khoán xe cho các tài xế tự quản mọi mặt, chỉ thực hiện nghĩa vụ đóng nộp theo quy định. Tình trạng hao hụt nhiên liệu, mất phụ tùng, chậm chạp trong giải quyết lượng khách đi lại được khắc phục nhanh chóng. Các công ty xuất nhập khẩu chủ động xuất hải sản và nhập nguyên vật liệu. Các tàu viễn dương mang các mặt hàng“second-hand” về bán trong nước. Trước 1975, có người cho rằng một số dân thị thành sống nhờ “rác” mà người Mỹ bỏ ra. Đó là những thứ còn dùng được nhưng thừa nên bị loại. Dù sao họ cũng kiếm sống được tại chỗ. Còn đến giai đoạn này, những người năng động phải sang tận các “nghĩa địa rác” nước ngoài mua rẻ hoặc chọn món còn dùng được mang về. Tình trạng nhập “rác” đó còn kéo dài cả sau thời kỳ đổi mới.

Tình thế đã nguy ngập mà Bộ Chính trị như những triều đại bế tắc xưa kia, còn chưa nghe thấy hết những oán hờn khắp các hang cùng ngõ hẻm. Chỉ đến lúc không thể tiếp tục duy trì đường lối cai trị lạc hậu do bất tài và ngu trung ý thức hệ nữa, chủ trương đổi mới mới được chính thức công bố. Tại Sài Gòn, một cố gắng đổi mới lý luận diễn ra, đi đầu trong tháo gỡ bế tắc. Để phục vụ yêu cầu trước mắt, ông Võ Văn Kiệt đã tập hợp những chuyên gia kinh tế làm việc cho chế độ trước 1975, không phải như lần tập hợp lần đầu tiên cải tạo tư tưởng ở trụ sở số 49 – Nguyễn Thị Minh Khai, mà lần này ở số 19 – Tú Xương, nhằm xây dựng một số đề án cải cách kinh tế đối với các lĩnh vực cần thiết.

Đứng đầu là nguyên Thống đốc Ngân hàng – Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh thuộc Nhà nước Việt Nam Cộng hòa trước đây, cùng các ông Nguyễn Văn Diệp, Hoàng Ngọc Nguyên… Những đề án cải cách kinh tế từng không được Bộ Chính trị ủng hộ, nhưng ngay tại Sài Gòn lại được ông Võ Văn Kiệt trân trọng. Nhóm nghiên cứu cảnh báo nghiêm trọng chính sách tài chính và tiền tệ hiện hành làm cho có nơi thì thiếu nguồn vốn và hỗ trợ cần thiết từ nhà nước, có nơi lại như cấp không dùng. Nhóm cũng đề cập việc sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, nâng cao vai trò giám sát tiền tệ. Những ý kiến đó được đích thân ông Võ Văn Kiệt trình bày, trong hoàn cảnh “chạm đáy” khủng hoảng, các lãnh đạo và chuyên viên nghiên cứu mới bắt đầu quan tâm.

Tình hình đã buộc Bộ Chính trị phải biểu dương cách làm bất chấp chủ trương do chính đảng và nhà nước đề ra! Cụ thể là phát biểu của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Để nắm lương thực, không phải dùng hình thức hành chính, kiểm soát, bắt buộc như cách làm vừa qua… Phải tính toán lại giá thu mua lương thực, để thật sự đảm bảo cho nông dân làm lương thực được mức lãi cao hơn các ngành khác”. Nhưng tại sao trước đó lại triển khai chủ trương “mua như cướp bán như cho” ? Mặt khác, nông dân mà chờ nhà nước mua lương thực để “được mức lãi cao hơn các ngành khác” thì quả là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực nếu chưa đoạn tuyệt với cơ chế trước đó. Không có “phá rào”, chưa hẳn có chủ trương mới, mà hình thức “bán tước đoạt” (đi liền sau “tước đoạt”) sẽ còn kéo dài. Những từ như: phá rào, bung ra, cởi trói, làm lén, khoán chui… ở giai đoạn này cho thấy trong suy nghĩ của người dân, không phải Đảng Cộng sản lãnh đạo, mà cai trị bóp nghẹt một cách độc đoán chuyên quyền, lợi ích và sự tồn tại của đảng cầm quyền còn cao hơn cả sự sống còn của nhân dân.

Đến Hội nghị lần thứ 6 tháng 9-1979, Bộ Chính trị không những tiếp tục “cho phép” bung ra, cởi trói sản xuất mà còn đổi mới cả tư duy, suy nghĩ. Khó hiểu là một đảng phái tiên phong mà đi sau dân, chủ trương vì dân mà lại có quyền cho phép dân! Đã vậy tại Hội nghị lần thứ 6, đổi mới vẫn được đánh giá là “một bước đột phá” về chủ trương! Gọi là đột phá chủ trương, nhưng chỉ vài năm sau Bộ Chính trị lại nhận xét là đã buông lỏng kỷ cương! Nguyễn Khải trong tùy bút chính trị cuối đời cho rằng lãnh đạo đất nước thường chỉ nghĩ tới mục tiêu và con đường ngắn nhất, nhanh nhất để đạt được mục tiêu, bất chấp nhân dân bằng lòng hay không bằng lòng. Và không chỉ dừng lại ở mục tiêu, việc tiến hành được thực hiện theo phương pháp: “…cứ ép là được, cứ đẩy tới bằng các phong trào cách mạng của quần chúng là được, trước lạ sau sẽ quen dần. Nhưng mỗi cá nhân con người với tư tưởng, ý chí, tình cảm không phải là máy móc. Vì thế mà ông kết luận: lòng người không thuận thì mọi chủ trương dẫu hay đến mấy sớm muộn cũng bị đào thải, chẳng để lại một dấu vết tích cực nào”.

Trên thực tế, quá trình đổi mới diễn ra rất nhiêu khê, chậm chạp, không dễ dũng cảm chấp nhận sai lầm. Về mặt lý luận, đảng và nhà nước đắn đo nếu để các thành phần kinh tế phá rào, cởi trói, bung ra… và thị trường tự do phát triển không kiểm soát, thì cuộc cách mạng cải tạo TBCN để xây dựng quan hệ sản xuất mới không những xem như sai lầm thất bại mà còn lộ rõ tội ác. Muốn ứng dụng lý luận khác cũng không có vì xưa nay các học giả và chuyên viên tham mưu chính sách kinh tế chỉ được đào tạo theo lý thuyết của Liên Xô. Nhưng những việc làm của nhân dân đã thắng khi Nghị quyết 32/NQ/TW tháng 11-1980 của Bộ Chính trị đã tự nhận một sai lầm rất lớn: “Bộ máy vừa tập trung, quan liêu, cồng kềnh, áp bức, vừa phân tán, chia cắt… Một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, tự do vô kỷ luật, vô trách nhiệm, tham ô, cửa quyền, không dân chủ, xu nịnh cấp trên, hống hách cấp dưới, ức hiếp quần chúng, trù dập người tốt, dao động trước khó khăn, giảm sút ý chí chiến đấu…”. Quả là bệnh này chỉ duy nhất có trong chế độ mà ngoài bị áp đặt, người dân không có bất cứ quyền chất vấn lựa chọn nào khác. Và tất cả chỉ dừng lại ở đảng và nhà nước nhận sai lầm, lại không ai cụ thể có danh tính chịu trách nhiệm những thiệt hại hay mạnh tay sửa sai.

Chính vì bị động đồng ý một số chủ trương trước khí thế “phá rào” của cả nước mà không có biện pháp giới hạn, đến 1982 “phá rào” diễn ra vô trật tự, nạn tranh mua giành bán hỗn loạn hoang dã. Tất cả chạy theo đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo cả đạo đức và tình cảm. Kế hoạch ưu tiên trước hết thực hiện theo chỉ tiêu của nhà nước bị các kế hoạch làm ăn riêng xếp ở vị trí thứ 2, thứ 3 làm cho phá sản. So với 1976, giá bán lẻ hàng hóa thị trường năm 1980 tăng 189,5%, đến 1981 tăng 313,7%. Ở giai đoạn trước, nhà nước ra sức bao vây, tập trung nắm giữ bao nhiêu, thì ở thời điểm này dường như bị cả xã hội tấn công lấy lại bấy nhiêu. Nhà nước còn bị thị trường làm cho tê liệt giữa giá cả tự do và khung giá bắt buộc. Sản xuất ngoài kế hoạch và thị trường mua bán tư nhân ngoài quản lý của nhà nước kiểu này một thời từng nuôi sống bao nhiêu người dân cả nước. Xét cho cùng, đây là hệ quả của quá trình cả xã hội bị tước đoạt phải tìm con đường khác. Nhà văn Nguyễn Khải đã ghi lại: “Thời bây giờ là một xã hội mạnh ai nấy lo, người người lấn chen nhau, tranh cướp nhau vì những tham vọng không được kìm nén, kỷ cương cũ bị xóa bỏ, kỷ cương mới chưa kịp hình thành, mọi sự đều phải làm lại từ đầu…”

Ông Trần Phương về sau còn nhận định quá trình cởi trói, bung ra, phá rào bằng một hình ảnh khác: “Phá rào cũng giống như khi nghẹt thở quá thì phải đục một lỗ nhỏ qua một bức tường. Khi đã được phép đục một lỗ nhỏ cho dễ thở thì người ta mở nó ra thành một ô cửa sổ. Đến khi được chấp nhận mở một ô cửa sổ thì người ta phá nó ra thành một cái cửa ra vào”. Trong diễn đạt này, có hai vấn đề cần lưu ý: cả xã hội bị nhốt vào một không gian bị giới hạn và cô lập còn kín hơn cả nhà tù, ngột ngạt không có không khí để thở; mặt khác cái cửa chính cho thấy nhân dân chính thức mở lối cho xã hội chứ không phải chính sách, chủ trương của Đảng. Nguy cơ không còn kiểm soát xã hội đã hiện rõ, trong Bộ Chính trị bắt đầu cảnh giác khả năng làm sụp đổ CNXH, thành phần bảo thủ lại trỗi dậy. Trong hoàn cảnh đó, chủ trương “xiết lại” ra đời.

Thời kỳ “xiết lại”

Bắt đầu từ Đại hội lần thứ V tháng 3-1982, Bộ Chính trị ban hành hàng loạt văn bản tái lập mô hình cũ: Chỉ thị 04-CT/TW tháng 5-1982 về tiến hành đợt giáo dục chính trị chấn chỉnh lại quan điểm và lập trường kinh tế, Nghị quyết 01-NQ/TW tháng 9-1982 phê phán Thành phố Hồ Chí Minh buông lỏng chuyên chính vô sản và chưa nhận thức rõ cuộc đấu tranh giữa CNXH với CNTB, Chỉ thị 11-CT/TW tháng 11-1982 đình chỉ mua bán theo giá thị trường và yêu cầu trở lại mua theo giá chỉ đạo của nhà nước (trong đó nhấn mạnh nếu nông dân không chịu bán lúa theo giá thấp cho nhà nước thì cấp huyện có quyền cưỡng chế trưng mua), Nghị quyết 03 tháng 12-1982 lập lại kỷ cương phân phối lưu thông và thu quyền quản lý ngoại hối, vận tải, xuất nhập khẩu… Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn, Đảng và Nhà nước Việt Nam lại ban hành hàng loạt văn bản chấn chỉnh tự đi ngược lại với chủ trương trước đó không lâu, tác động sâu rộng toàn xã hội như lúc này.

Tại Hội nghị lần thứ 4 tháng 6-1983, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chính thức phát biểu mở đường cho việc thực thi “xiết lại”: “Đảng và Nhà nước đã phạm sai lầm nặng nhất là không làm chủ thị trường, không làm chủ phân phối lưu thông…, đã buông lỏng cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương, để cho bọn tư sản cũ và mới phục hồi và phát triển, có thêm thế lực chống CNXH…”. Ông phê bình việc hợp tác hóa ở Nam bộ là tiến độ chậm và đề nghị tiếp tục thực hiện đến năm 1985 phải hoàn thành, chỉ đạo năm thành phần kinh tế không được quyền nắm hàng và tiền, nền kinh tế nhà nước không được nâng khung giá lên ngang với giá thị trường. Đối với thành phần tư thương thì Tổng Bí thư quán triệt với khẩu khí cần phải “khóa tay chúng nó lại”.

Báo cáo “Nắm vững quy luật, đổi mới quản lý kinh tế” dài 70 trang do Tổng Bí thư đọc tại Hội nghị lần 6 tháng 7-1984 vẫn tiếp tục duy trì mức độ bảo thủ ghê gớm của những tư tưởng làm chủ tập thể, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đưa nông nghiệp vào sản xuất lớn… Đến cả khi nhân dân đã “phá rào” khắp nơi, Đảng đã xử lý tình hình một cách lúng túng, rồi trở lại tiếp tục triệt tiêu động lực xã hội, mà sự kiên quyết ấy xuất phát ngay từ người đứng đầu Đảng, một lần nữa cho thấy chỉ đạo chỉ là bất lực và bảo thủ.

Chính là thời điểm này Đảng Cộng sản trên danh nghĩa lập ra nền dân chủ XHCN mà hành xử còn độc tài hơn cả những triều vua quân chủ tập quyền cao nhất. Tất cả bất chấp hiến pháp và pháp luật đề ra, bất chấp đưa dân tộc vào ngõ cụt, Đảng vẫn bảo vệ quyền lực cai trị của mình. Ông Phạm Văn Đồng trong Bộ Chính trị nhưng lại là người có lúc công bằng và thẳng thắn chỉ ra sai lầm: “Lấn quyền dân một cách nghiễm nhiên, làm thay dân một cách kém cỏi, nuôi bao dân một cách khốn khổ. Thực hiện lối quản lý ấy thì bản thân bị tê liệt và gây ra sự tê liệt, bản thân ăn bám và khiến cho người khác cũng ăn bám”.

Trong các chủ trương và văn bản ban hành kể trên, đáng chú ý là Nghị quyết 08-NQ/TW tháng 11-1983 tái lập kỷ cương kinh tế tại Hà Nội. Nghị quyết khi thực thi gợi chúng ta nhớ lại sự rùng rợn của cải tạo công thương ở miền Bắc sau 1954 và ở Sài Gòn sau 1975. Một cuộc tước đoạt mới diễn ra dưới chiến dịch có tên gọi là Z.30 (Nên nhớ rằng, hoạt động chính trị của Đảng Cộng sản có một cơ chế bí mật không phải chỉ để đối phó với “thực dân đế quốc”, mà khi đã công khai và toàn quyền, nếu cần tiêu diệt một bộ phận nhân dân, vẫn tiến hành bí mật).

Đứng đầu thực hiện chiến dịch này là Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Văn Lương. Ông lệnh khám xét hàng trăm ngôi nhà nghi vấn “làm ăn bất chính”, tịch thu nhà và tài sản. Những người bị tịch thu không phải là tay sai cho thực dân đế quốc và địa chủ tư sản như trước đây, mà là những công dân hoàn toàn trong chế độ mới. Họ đã giàu lên bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có cả lách luật, mua đi bán lại trong thị trường ngoài sự quản lý của nhà nước, khai thác các điều kiện khi đi công tác hay học tập ở nước ngoài… Họ trở thành đối tượng cho sự đố kỵ mà có người nhận xét chỉ là: “Trâu buộc ghét trâu ăn”. Những người khác thì cho rằng: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có giả chết là không chết!” Không ai tin nổi ngay tại thủ đô Hà Nội XHCN, vẫn ngang nhiên xảy ra tình trạng vi hiến đáng sợ!

Cùng với nhà cao tầng, kể cả nhà có ti vi, tủ lạnh, các phương tiện điện gia dụng có nguồn gốc từ nước ngoài…cũng bị lực lượng thừa hành chiến dịch gõ cửa kiểm tra. Kiểm tra và tịch thu còn tiến hành đến tận toilet lập biên bản vì tường và nền có lát gạch men đắt tiền! Ông Nguyễn Văn An, lúc đó là Bí thư Thành ủy Nam Định, khi vào Hà Nội tìm hiểu việc thực hiện Nghị quyết 08, trước cảnh tượng ngang nhiên không thể chấp nhận được, đã phản đối. Tiếp theo là Hải Phòng, Bắc Giang, Thành phố Hồ Chí Minh… đều phản đối kịch liệt Nghị quyết 08 và cách triển khai của Hà Nội.

Chiến dịch bí mật lúc khởi hành, cũng bí mật im lặng xem như kết thúc. Không một lời xin lỗi, không một báo cáo hay văn bản hủy bỏ Nghị quyết, chỉ thấy những tài sản tịch thu phải trả lại cho dân. Sau này, ông Nguyễn Văn An đã nêu chính kiến về vụ việc: “Các cơ quan công quyền tịch thu tài sản của người ta mà không cần tòa án và cũng không cần bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản bất minh… Có gia đình cả nhà thắt khăn tang khi bị tống lên xe, kêu khóc ầm ĩ… Ngày ấy tịch thu cả một gia sản của người ta mà chỉ thông qua kiểm tra hành chính!” Một lần nữa cũng không thừa để chúng ta nhớ lại câu ca dao từ thời phong kiến:

“Con ơi nhớ lấy câu này

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

 

CNCS sụp đổ

 

Tình hình ở Liên Xô

Mikhail Gorbachov là đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô, có năng lực, được Yuri Andropov tuyển chọn để đào tạo và bổ sung vào hàng ngũ lãnh đạo trong Bộ Chính trị. Ông tin tưởng Gorbachov sẽ làm một cuộc cải cách xã hội, loại bỏ thành phần tôn sùng Staline và lên án Nikita Khruschev những năm 1980. Điều này cho thấy Liên Xô đã rạn nứt và lung lay từ trong ra ngoài, từ cơ quan đầu não cấp cao trở xuống trong hệ thống đảng và chính quyền.

Tháng 3-1985, Tổng Bí thư Mikhail Sergeyevich Gorbachov đứng đầu tiến hành chính sách cải tổ (perestroica) và công khai hóa (glasnost). Cải tổ nhằm giải phóng tiềm năng xã hội, nới lỏng sự kiểm soát tập trung, mở rộng tự do ngôn luận, bầu cử cạnh tranh công bằng, loại bỏ cơ cấu Đảng Cộng sản bao trùm nền kinh tế và các lĩnh vực đời sống xã hội. Mục tiêu bước đầu là vậy, nhưng cải tổ của Gorbachov đã thất bại, càng phơi bày thêm nhiều rối ren xã hội vốn đã hình thành từ lâu.

Trước tình hình đó, Gorbachov nhờ Chính phủ Hoa Kỳ tìm kiếm giải pháp trợ giúp. Phía Hoa Kỳ mất nhiều tháng dò xét xem Gorbachov vẫn phải chịu ảnh hưởng của Andropov hay độc lập quyền lực. Các cố vấn của Gorbachov trong Bộ Chính trị và chỉ huy quân đội cũng nằm trong tình trạng “dò sóng”. Thời gian đó làm cho quá trình cải tổ trở nên không có người nắm cương, nhiều biến đổi nhanh chóng đã đưa Liên Xô trượt ra khỏi tầm kiểm soát, đồng thời Gorbachov đã từng bước phá vỡ toàn bộ “thành trì Xô viết”.

Năm 1988, Gorbachov càng đẩy mạnh cải tổ thay vì dừng lại. Khác với Trung Quốc và Hungary, Gorbachov xúc tiến dân chủ hóa và cải tổ chính trị, quyết định hợp pháp hóa các cuộc bầu cử. Đến Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô (1990) với tinh thần dân chủ công khai, Gorbachov đã chủ trì và thông qua quyết định hủy bỏ điều 6 Hiến pháp Liên Xô (cũ) về vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản hơn 70 năm. Đứng đầu cải tổ, ông đã phát biểu: “Đảng Cộng sản mà tôi phục vụ cả đời chỉ biết tuyên truyền, cán bộ đảng viên chỉ biết điêu ngoa, giả dối”. Ông cũng công khai nêu thẳng sự diệt vong tất yếu của những thể chế không muốn đi cùng với tiến trình lịch sử loài người: ”Cuộc đời sẽ trừng phạt những kẻ chậm chân”.

Sở dĩ có hiện tượng không kiểm soát được là do Liên Xô đã chất chứa trong lòng chế độ quá nhiều bất cập, như con đê trước áp lực nước đã dâng cao mà chỉ cần một tác động nhỏ là có thể đổ vỡ ngay. Cho nên không phải chỉ có hành động của Gorbachov mà có thể làm sụp đổ cả Liên Xô. Nhiều chủ trương của các nhà lãnh đạo độc tài các thời kỳ đã đi ngược lại với quy luật cuộc sống. Thể chế mất dân chủ, đảng toàn trị đã trở thành sức ì, vật cản, tội ác; do đó không thể nào tìm được sự đồng tình ủng hộ của quần chúng. Cũng cần nói thêm sự tác động gián tiếp từ bên ngoài vào khi Tổng thống Reagan và tiếp theo là Tổng thống Bush đã đáp lại yêu cầu của Gorbachov, đồng thời làm tan băng nhanh cuộc “Chiến tranh lạnh”.

Trong diễn văn nhậm chức tổng thống, ông Boris Eltsine đã lấy hình ảnh đoàn tàu so sánh với nước Nga, cũng cho thấy có nhiều yếu tố nội tại tiềm tàng dẫn đến sụp đổ. Ông cho rằng nước Nga trước khi bước vào thể chế cộng sản còn “ở chung một con tàu với thế giới”, không phải là đầu tàu nhưng cũng là những toa hạng nhất. Sau khi trở thành Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết, đường lối phát triển riêng biệt đã tự tách rời ra khỏi đoàn tàu, thế giới cứ tiến lên mà nước Nga đứng lại tại chỗ. Ông nhận xét đó là nguyên nhân mà “Nước Nga ngày hôm nay so với những nước tiên tiến trên thế giới bị tụt hậu hàng nửa thế kỷ”.

Một nhà nghiên cứu cho rằng các từ “Xô viết”“liên bang” chỉ nhằm thay thế hai từ tương ứng là “Nga”“đế quốc”. Trong hệ thống đó, các nước đều phải chịu ảnh hưởng và mệnh lệnh từ Liên Xô. Người dân Bulgaria từng châm biếm: “Ở Moskva mưa thì ở Sofia cũng che ô”. Vì thế, từ lâu các nước cộng hòa đã nung nấu ý chí ly khai. Sau khi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa dân tộc nổi dậy, nhiều quốc gia độc lập tách khỏi liên bang. Các nước còn lại do Nga đứng đầu lập ra không gian hậu Xô Viết. Tuy nhiên, không gian mới vẫn tiềm chứa nhiều khác biệt, bất đồng về quá khứ. Sức mạnh của Liên Xô với sự hợp sức của ba quốc gia không thể thiếu là Nga – Ukraine – Belarus cũng gặp nhiều sóng gió trong quan hệ ngoại giao.

Những năm sau này, trong một buổi lễ tưởng niệm các nạn nhân bị nhà lãnh đạo độc tài Staline sát hại ở Liên Xô, ông Vladimir Putin phát biểu: “Những người bị thảm sát là những người ưu tú nhất, có trí tuệ cao nhất và là những người can đảm nhất, nói lên tiếng nói bất đồng chính kiến mạnh mẽ nhất và tài giỏi nhất”. Cùng với phát biểu chính trị, nhiều nhà văn nhà báo cũng dũng cảm vạch trần những trang đen tối của chế độ cộng sản. Nhà văn Svetlana Alexievitch với tác phẩm “La Supplication” (dịch: Lời nguyện cầu) đề cập dấu ấn tai họa hậu Tchernobyl ở những người sống sót và ký sự “Những kẻ bị mê hoặc vào cõi chết” giải thích nguyên nhân số người tự vẫn tại Nga tăng vọt sau khi Liên Xô sụp đổ: họ tuyệt vọng khi nhận ra mình bị đánh lừa cả cuộc đời! Hàng loạt nhà văn khác cũng được kích thích mạnh mẽ không chỉ cảm hứng sáng tác mà sâu xa hơn là nói lên tiếng nói lương tri bị dồn nén, bênh vực nhân phẩm con người bị chà đạp.

 

Các nước Đông Âu

Tại Đức, nhân loại không bao giờ quên Bức tường Berlin. Sau Đại chiến thế giới thứ hai, theo Thỏa ước Potsdam, Berlin bị chia cắt. Ở Tây Đức, “Kế hoạch Marshall” của các nước TBCN đã dành 17 tỉ USD giúp phần lãnh thổ này phát triển rất nhanh. Đến năm 1950, thấy nguy cơ bị thua kém trong công cuộc tái thiết Đông Đức trong khi hơn 3,5 triệu người bỏ chạy sang bên kia, Staline phong tỏa mọi liên lạc Đông – Tây. Tháng 8-1961, Liên Xô phối hợp chính quyền cộng sản Đông Đức xây lên bức tường ngăn cản người dân chạy trốn chế độ.

Bức tường được khởi công vào ban đêm và hoàn thành không bao lâu sau đó: dài 150 km, cao 3,8 mét, hàng trăm trạm kiểm soát trên mặt đất và dưới lòng đất, một kênh đào rộng 3 mét và vùng cấm địa chạy dọc theo bờ tường bên Đông Đức. Nhưng dãy tường kiên cố này như thách thức tinh thần dũng cảm những con người yêu tự do. Hậu quả là gần 1.000 người vượt tường bị bắn chết. Về sau, hàng chục lính biên phòng Đông Đức tự sát chống lại lệnh từ nhà cầm quyền buộc họ cầm súng bắn vào dân tộc mình. Trong lòng Đông Đức, đời sống vật chất và tinh thần thiếu mọi thứ. Staline chủ trương thanh trừng nội bộ, giết hại những người bất đồng. Khi Staline chết, người Đông Đức nổi lên biểu tình. Xe tăng Liên Xô xuất hiện vào cuộc đàn áp đẫm máu. Đông Đức còn lập ra nhà tù Stasi giam giữ hàng chục ngàn người, trong đó khoảng 3.000 người bị chết vì tra tấn. Nhiều người được giải phóng nhờ Chính phủ Tây Đức nộp tiền chuộc tù nhân ra với giá từ 40.000 euro đến 100.000 euro/người.   

Tháng 6-1987, Tổng thống Ronald Reagan có chuyến thăm Tây Đức. Ông đến trước bức tường, gọi đó là “Bức tường ô nhục” và tuyên bố: “Chúng ta hãy phá đổ bức tường này”. Tháng 8-1989, cuộc bỏ chạy chế độ cộng sản qua cửa ngõ biên giới Hungary đã thôi thúc người dân Đông Đức. Ngày 9-11-1989, hàng ngàn người kéo nhau đến đập phá bức tường. Từng mảng lớn, rồi cả bức tường kéo dài bị sụp đổ sau 28 năm tồn tại. Nhiều người nhặt những mảnh vỡ từ vật liệu xây dựng giữ lại để tưởng nhớ những người thân đã hy sinh hay làm chứng tích nỗi nhục một thời. Ngày nay, trong các bài học lịch sử, học sinh được đưa đến thăm nhà tù Stasi nhằm lên án tội ác cộng sản. Thủ tướng Đức Angela Merkel nhận định: ”CNCS đã tạo nên những con người dối trá!… Đông Đức đã trở thành một hệ thống nhà tù kiểm soát chặt chẽ người dân nhất thế giới”.

Sự kiện Bức tường Berlin đánh dấu CNCS sụp đổ hoàn toàn, nhưng phong trào cộng sản thế giới đã biểu hiện tan rã đầu năm 1960 với mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc về chủ trương “Chung sống hòa bình”. Từ đó mà xảy ra cắt đứt quan hệ ngoại giao, chiến tranh cục bộ, thanh trừng đẫm máu… Giữa năm 1960, mâu thuẫn càng căng thẳng khi tại Đại hội Đảng Cộng sản Romania, Khrushchev và Bành Chân công khai phản đối nhau. Khrushchev gọi Mao là người “theo chủ nghĩa quốc gia, một kẻ cơ hội, và kẻ xa rời Đảng”. Bành Chân gọi Khrushchev là “người theo chủ nghĩa xét lại, gia trưởng, độc đoán và chuyên chế”. Chưa dừng lại, Khrushchev đọc một văn bản 80 trang trước đại hội lên án Trung Quốc. Cuối năm này, trong cuộc gặp mặt 81 Đảng Cộng sản tại Moskva, phái đoàn Trung Quốc bất đồng trực diện và quan điểm với Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước cộng sản khác. Quá khứ trên đã tiềm tàng nguyên nhân sâu xa báo hiệu sụp đổ Bức tường Berlin.

Bức tường Berlin sụp đổ tạo ra một lối rẽ mới về đường lối của Đảng Cộng sản các nước còn lại, trong đó có Việt Nam (Ảnh: Wikipedia)

Gần đây, Giải Nobel văn học 2009 được trao cho nữ văn sĩ người Đức Herta Müller. Trong sự nghiệp cầm bút, nhiều tác phẩm khác của bà đã bị chế độ cộng sản Romania cấm xuất bản. Tác phẩm được nhiều người quan tâm tìm đọc là tiểu thuyết “La Convocation” (tạm dịch: “Lời triệu mời lên thẩm vấn”), trong đó cơ quan Securitate thời Ceauşescu như cạm bẫy độc ác, cùng nhiều hồi tưởng cảnh những người bị chó săn cắn đến chết khi vượt biên trốn khỏi chế độ, nghiện rượu để quên cảnh mật vụ ngày đêm theo dõi, hay những người bị vào tù… Dịp bình chọn giải, bà cũng giới thiệu tiểu thuyết “Atemschaukel”. Dựa trên câu chuyện do nhà thơ Oscar Pastior kể lại, bà viết về thân phận một trẻ vị thành niên và mô tả bi kịch đáng sợ của người Đức tại Romania bị đày ải đến trại cải tạo của chính quyền cộng sản ở Ukraine. Một nhà phân tích nhận định ngòi bút của Herta Müller đã “phục hồi danh dự cho tất cả những người đã bị chế độ độc tài cộng sản cưỡng đoạt quyền sống và hạnh phúc”.

Ở Ba Lan tháng 10-1978, Hồng y Karol Wojtyla người Ba Lan được phong làm Giáo hoàng John Paul II tại Vatican. Tháng 6-1979, ông thực hiện chuyến hành hương. Trước biển người tại Quảng trường Chiến Thắng, ông tưởng nhớ những người lính hy sinh và đã có câu nói bất hủ: “Hãy để Chúa Thánh Thần hiện ra! Và làm mới lại diện mạo của đất – mảnh đất này!” Câu nói gợi chúng ta nhớ lại sự kiện lịch sử vào tháng 8-1939, Staline bí mật ký với Hitler hiệp ước phân chia châu Âu. Ngay sau đó, Hitler chiếm một phần Ba Lan, Liên Xô chiếm phần còn lại. Quân đội Liên Xô dưới lệnh của Staline đã thảm sát hơn 20.000 sĩ quan Ba Lan tại khu rừng Katyn năm 1940 và lưu đày biệt xứ hơn một triệu người khác tại phần lãnh thổ chiếm đóng.

Giáo hoàng đã đến nhiều nơi trong chuyến hành hương ở Ba Lan. Hàng triệu người từ đất nước hơn 90% Công giáo đổ về các buổi gặp mặt và cầu nguyện. Hàng chục triệu người khác theo dõi qua màn hình. CNCS không còn tồn tại trong họ như một nỗi sợ hãi ám ảnh khi Giáo hoàng động viên: “Các con đừng sợ hãi. Các con hãy cứng rắn lên bằng sức mạnh của đức tin!” Suốt mấy chục năm bị bưng bít trong chế độ cộng sản, cuộc gặp với Giáo hoàng đã làm cho họ đón nhận những tư tưởng tự do mới mẻ, tôn trọng nhân phẩm con người. Họ nhận ra rằng, một bộ phận nhỏ đang cai trị đất nước không đáp ứng nguyện vọng của người dân.

Từ chỗ không còn sợ, người dân đã hình thành một sức mạnh tinh thần đối đầu với nhà cầm quyền. Đến khi một liên minh dân tộc với tên gọi “Công đoàn đoàn kết” ra đời, tinh thần độc lập ấy đã đủ mạnh để cải biến xã hội cộng sản. Công đoàn đòi hỏi một hội nghị bàn tròn bình đẳng, dân chủ giữa họ và đại diện nhà cầm quyền, đã nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội. Từ đó, cuộc tổng tuyển cử tự do bầu Tổng thống năm 1990, rồi bầu Quốc hội Ba Lan năm 1991 trên tinh thần dân chủ công khai đã giúp đất nước này hoàn thành việc xóa bỏ chế độ cộng sản, xây dựng thể chế dân chủ tự do.

Tại Tiệp Khắc, giữa tháng 11-1989, hàng chục ngàn sinh viên tập trung ở Thủ đô Praha biểu tình đòi tự do dân chủ. Đây là cuộc cách mạng đã được nuôi dưỡng bằng lòng căm thù từ năm 1968 trong phong trào phản đối chế độ cộng sản, đã bị Liên Xô cấu kết với chính quyền trong nước đàn áp. Hàng chục ngàn người bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản, bị đuổi việc và bị tập trung cải tạo. Gần 1 triệu người bỏ nước ra đi. Vào khoảng năm 1975, ông Václav Havel sáng lập và làm phát ngôn viên cho phong trào mang tên “Charter 77” đấu tranh vì nhân quyền. Ông bị bắt và ở tù 5 năm. Năm 1989, ông lập ra Diễn đàn Dân sự (Civic Forum) liên minh của các lực lượng đối lập với Đảng Cộng sản, được đông đảo dân chúng ủng hộ. Liên minh đã thực hiện cuộc “Cách mạng Nhung” (Velvet Revolution). Hình ảnh chưa từng có trong bất kỳ cuộc cách mạng nào trên thế giới xưa nay: những sinh viên rất trẻ, nhất là nữ sinh viên, tay cầm hoa hồng tươi cười tiến lên tặng cho quân lính đang tạo thành những hàng rào với vũ khí ngăn cản biểu tình. Những cha mẹ địu con lên thật cao hát vang bài hát về tổ quốc: “Tổ quốc tôi cũng là tổ quốc của các anh, xin đừng đánh trẻ thơ, xin đừng đánh trẻ thơ vì chúng sẽ là những người nắm tương lai vận mệnh đất nước sau này”. Những người lính đối đầu đã thức tỉnh, rơi nước mắt, buông súng, hòa vào ủng hộ dòng người.

Cuối năm này, ông được bầu làm tổng thống lâm thời, năm sau đắc cử Tổng thống Tiệp Khắc chính thức. Tuân thủ nguyên tắc cách mạng ôn hòa, mặc dù chịu sức ép dư luận, ông không ký lệnh đưa Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật mặc dù ông từng bị miệt thị và bị bỏ tù bởi chế độ này, vì như vậy sẽ tất yếu có báo thù. Cũng trong đường lối hòa bình,  ông mời Đức Dalai Lama đến Tiệp Khắc mặc sức ép từ Trung Quốc. Cuộc cách mạng lật đổ cộng sản không dùng một viên đạn và không đổ xương máu vì trả thù do ông lãnh đạo ngày nay lại luôn là nỗi lo sợ và cảnh giác với các thể chế cộng sản còn lại.

Tại Hungary năm 1989, khoảng 500.000 người tưởng niệm cựu lãnh đạo Imre Nagy đứng đầu cuộc nổi dậy năm 1956 chống Liên Xô với khẩu hiệu: “Không cam chịu làm nô lệ”. Bằng chiến dịch “Bàn tay sắt”, xe tăng nghiền nát những người tham gia chính biến, cùng với máy bay ném bom xuống Budapest làm 2.500 người chết, 200.000 người bỏ đất nước. Từ đó, một hệ thống dày đặc những đồn bót và lực lượng lính biên phòng thường trực được dựng lên ở biên giới giữa Hungary – Áo, mệnh danh là “Bức màn sắt”. Cũng như Bức tường Berlin, nó ngăn cách giữa Đông – Tây, giữa tự do – mất tự do, giữa tôn trọng – chà đạp nhân phẩm… Đầu năm 1989, những người lính Hungary đã thả lỏng canh gác, giúp cho hàng chục ngàn người Đông Đức tràn sang Áo, góp phần thôi thúc cổ vũ người Đức thực hiện quyết tâm đập phá bức tường Berlin.

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, tại công viên Memento gần Thủ đô Budapest, một bức màn sắt tượng trưng được dựng lên ghi nhớ sự kiện, với câu nói nổi tiếng: “Hãy thành nô lệ – Hay người tự do?” Đối diện tác phẩm “Bức màn sắt” còn có Nhà bảo tàng khủng bố trưng bày những hiện vật và hình ảnh về thể chế độc tài. Ngoại ô Thủ đô có Bảo tàng công viên tượng: tượng đài “Tình hữu nghị Hungary – Liên Xô” cho thấy người Hungary trong thế bị trị, tượng đài “Giải phóng” ghi dấu cộng sản tràn sang Hungary, tượng Lenin, Kun Béla, Dimitrov với kích cỡ lớn lột tả tệ tôn sùng lãnh tụ…

Quần thể tượng này do chế độ cộng sản dựng lên, nhưng đáng nói là người Hungary không hề đập phá mà vẫn giữ nguyên khi Liên Xô sụp đổ, tôn tạo thành Bảo tàng công viên tượng ghi dấu tội ác. Bảo tàng còn độc đáo ở chỗ theo hình thức mở ngoài trời để có thể bổ sung thêm vào. Nhà điêu khắc Előd Ákos đã phát biểu: “Công viên này nhắc nhớ về sự độc tài… Chỉ có dân chủ mới có thể tạo điều kiện để chúng ta có thể tự do suy ngẫm về độc tài – hoặc về dân chủ, hay về bất cứ điều gì khác”. Người dân cũng thu thập những đồ lưu niệm: băng đĩa ca ngợi lãnh tụ, kêu gọi cách mạng; những huân huy chương, phù hiệu, áo phông in hình và câu nói của các lãnh tụ cộng sản, vật dụng thời bao cấp, vỏ đồ hộp chua thêm dòng chữ: “Hơi thở cuối cùng của CNCS”, những tấm ảnh về thời kỳ cộng sản…

Ghi dấu tội ác cộng sản

Tại Quốc hội châu Âu, Nghị quyết 1481 lên án tội ác chống nhân loại của các chế độ cộng sản trên toàn thế giới đuợc thông qua ngày 25-1-2006. Trong đó, điều 3 khẳng định: “Nhân danh chủ trương đấu tranh giai cấp và nguyên tắc chuyên chính vô sản mà các tội ác đuợc biện minh. Sự giải thích hai nguyên tắc này đã hợp thức hóa việc “thủ tiêu” những người bị cho là có hại cho sự xây dựng một xã hội mới, và do đó, bị xem là kẻ thù của các chế độ độc tài toàn trị cộng sản”. Điều 5 đặt vấn đề xét xử tội ác: “Sự sụp đổ của những chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Trung và Đông Âu không được quốc tế điều tra theo dõi các tội ác gây ra. Hơn nữa, tác giả những tội ác này chưa hề bị đưa ra xét xử truớc cộng đồng quốc tế, như truờng hợp những tội ác khủng khiếp do Đức Quốc xã gây ra trước đây”. Điều 9 nhắm đến các thể chế còn sót lại: “Các chế độ toàn trị cộng sản vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và vẫn tiếp tục gây tội ác. Quyền lợi quốc gia không thể là cái cớ nhằm phản bác những phê phán thích đáng các chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay”. Bắt đầu từ 1988, hàng năm Nghị viện chung châu Âu cũng trao Giải thưởng Sakharov (tên một nhà vật lý học Nga đấu tranh vì hòa bình) để tôn vinh những người đóng góp trong cuộc đấu tranh này diễn ra trên thế giới.

Tại Hoa Kỳ giữa tháng 6-2007, chính quyền ở Washington D.C. đã tổ chức buổi lễ khánh thành “Đài kỷ niệm nạn nhân của CNCS”. Tượng đài dựng hình một phụ nữ giương cao bó đuốc, phỏng lại bức tượng được các sinh viên điêu khắc thuộc Học viện Mỹ thuật Bắc Kinh dựng lên ở Quảng trường Thiên An Môn tháng 5-1989. Đó là vụ biểu tình lớn nhất của sinh viên, trí thức và các tầng lớp xã hội phản đối tham nhũng, bất công do cải cách kinh tế, đã bị nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc điều quân đội và xe tăng đến đàn áp đẫm máu. Theo số liệu của Hội chữ thập đỏ Trung Quốc, trên 2.000 người bị giết và bị dọn sạch thi thể. Một nguồn số liệu khác cho rằng từ 4.000 đến 8.000 người chết, khoảng 10.000 người bị thương).

Tượng đài nhằm ghi lại tội ác cộng sản trên khắp thế giới: những cuộc thanh trừng của Staline, những trại tập trung lưu đày biệt xứ ở Siberia; những cuộc tàn sát ở châu Âu như Ba Lan, Hungary, Đức, Ukraine, Belarus, Lithuania, Latvia, Estonia; những cuộc tàn sát ở châu Á trong cuộc cách mạng “Đại nhảy vọt”, cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa theo chủ trương Mao Trạch Đông; diệt chủng người Campuchia của Pol Pot – Iêngxary… Tội ác cộng sản từng gây ra trong lịch sử không thể giấu mãi loài người, chúng đã – đang và sẽ được ghi thêm vào đài kỷ niệm như những trang sử mở. Tổng thống Bush đến dự khánh thành tượng đài ghi dấu tội ác đã phát biểu: “Bọn khủng bố từng tấn công nước ta cũng giống như những tên cộng sản, chúng đều theo đuổi chiến lược giết người, chiến lược phủ nhận tự do, diệt trừ mọi người đối lập, với những tham vọng bành trướng và  những mục tiêu toàn trị”.

Hãy nhìn vào các quốc gia và khu vực bị cai trị trong thế kỷ trước. Tuy là thực dân nhưng người Anh để lại cho Ấn Độ, Hồng Kông các điều kiện phát triển kinh tế thịnh vượng, dân chủ mở rộng, nhiều giá trị tích cực phương Tây. Sau chiến tranh thế giới lần hai, Hoa Kỳ để lại cho Tây Đức, Nhật Bản, miền Nam Việt Nam, Nhật Bản để lại cho Hàn Quốc… đều là những điều kiện tiến tới xã hội văn minh hiện đại, hòa nhập vào xu thế phát triển của thế giới. Còn các chế độ cộng sản đã để lại ở các quốc gia những gì: tàn phá, chia rẽ và thù hận, đàn áp và bưng bít, tụt hậu và sức ỳ, thần thánh hóa lãnh tụ kéo dài lừa gạt, bế tắc sửa đổi lý luận, sai lầm mô hình, bất công và phân hóa giàu nghèo mới thay cho hình thức cũ, dân chủ giả tạo… Cho nên hình thức chế độ thường là màu đỏ hình thành sức sống giả tạo che giấu chỉ toàn xám tối và rệu rã bên trong.

Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã cổ vũ rất nhiều cho khí thế đổi mới, soi sáng các giá trị nhân quyền và Nhà nước pháp quyền đến Việt Nam. Các vị cách mạng lão thành, nhiều nhà văn, nhà báo và những người có lương tâm trách nhiệm với dân tộc đều có chung tiếng nói, viết những tác phẩm khẳng định xu thế tất yếu của nhân loại thoát ra khỏi ngõ cụt này. Nhà văn Nguyễn Khải viết về chế độ Xô Viết: “Người dân Nga được nhà nước chăm lo hoàn toàn từ khi sinh đến khi chết, nhưng họ vẫn không thích, vẫn thấy ngột ngạt vì đó là cuộc sống không phải lo nghĩ của một trại tập trung, con người bị đánh số, bị xếp theo khuôn, theo hàng, chỉ nhìn thấy đám đông chứ không thể nhìn ra từng con người riêng biệt, kể cả trong triết học và văn chương”. Nhà báo Huy Đức trong một bài viết dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ, đã nhận định sự hy sinh anh dũng và vĩ đại của hơn 20 triệu người Liên Xô, nhất là các tướng lĩnh, binh lính Hồng quân chống phát xít trong cuộc đại chiến lần thứ hai đã bị những người như Staline tước đoạt, sử dụng vào mục tiêu khác. Từ đó mà ý nghĩa hy sinh đã bị biến đổi: Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản”.

Rất nhiều sai lầm, tội ác Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra, đang bị che giấu đến nay chưa có tòa án nào xét xử. Nhà văn Dương Thu Hương cho rằng những nhà lãnh đạo tại Hà Nội là một tập đoàn triều đình quân chủ gắn thêm yếu tố cộng sản. Đó là sự tổng hợp những yếu hèn và tham lam trong một thể chế: “có cái đầu của loài chim sẻ, có con tim của chuột bọ, có bản lĩnh của lũ cừu nhưng có dạ dày của chó sói”. Chừng nào hiện trạng che giấu còn chưa được công khai giải tỏa thì tình hình chính trị xã hội Việt Nam còn chưa thể được cải thiện tiến bộ. Cũng từ đó mà việc Bộ Chính trị lo sợ “diễn biến hòa bình” hay “tự diễn biến trong nội bộ” là tất yếu. Đó còn là lo sợ, lúng túng trong trạng thái gần như “chân không hệ tư tưởng”.

Như đã đề cập, bất đồng và mâu thuẫn trong phong trào cộng sản quốc tế là một nguyên nhân dẫn đến Liên Xô – Đông Âu sụp đổ. Mỗi lần xảy ra mâu thuẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam trước tiên quan sát, giữ thăng bằng quan hệ nhằm lấy lòng cả hai, sau đó nghiêng theo bên nào thắng thế và có lợi cho chính đảng cầm quyền, chứ không phải cho dân tộc, thậm chí nếu phải hy sinh quyền lợi dân tộc. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong di chúc cuối đời năm 1969, Hồ Chí Minh lo lắng trước sự mất đoàn kết của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Với Việt Nam, Bức tường Berlin sụp đổ đánh dấu lần thứ tư Đảng Cộng sản đưa dân tộc vào lạc lối và trả giá (lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc gặp Luận cương Lenin đưa CNCS về Việt Nam, lần thứ hai lãnh đạo Lê Duẩn ngã về Trung Quốc tiến hành vụ án xét lại, lần thứ ba lại ngã về Liên Xô dẫn đến cuộc chiến hai đầu biên giới, lần thứ tư ngã về Trung Quốc đến hiện nay). Lối rẽ ấy sau này các nhà lý luận Việt Nam gọi là tư duy “Đi tắt đón đầu” mà thật ra chỉ là đánh đố cả dân tộc theo lối “gần nhà xa ngõ”: đi thật dài để hóa ra lại đến ngay trước cổng nhà của láng giềng Trung Hoa mà cha ông ta đã thấu hiểu và cảnh giác cả nghìn năm nay.

Biến cố Liên Xô và Đông Âu tác động trực diện vào Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy tư duy và đường lối của Đảng không độc lập, không xuất phát từ tình hình Việt Nam mà cũng không theo xu hướng tự do văn minh cả loài người. Mấy chục năm xây dựng XHCN ở Việt Nam chỉ là bản sao từ Liên Xô nhằm thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản. Và cũng chính vào giai đoạn này, những tư tưởng kiên quyết hơn cho đổi mới triệt để, cho tự do dân chủ đang tất yếu xuất hiện.

 

Đổi mới

Từng bước nới lỏng đến ra đời Cương lĩnh 1991

Đổi mới bắt đầu bằng tuyên bố xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tại Hội nghị lần thứ 8 vào tháng 6-1985 và chủ trương cải cách giá – lương – tiền. Khâu đột phá cho cải cách là tiền tệ, do nhà nước vẫn nhận định tiền mặt còn số lượng lớn trong nhân dân như lần đổi tiền trước đây. Vì thế đã diễn ra đổi tiền lần thứ ba vào tháng 9-1985: 10 đồng cũ lấy 1 đồng mới. Không bao lâu, tiền tệ bị trượt giá. Mới vừa đổi tiền mà ở đâu cũng thiếu tiền: xí nghiệp thiếu vốn tiền mặt, công nhân và giáo viên không có lương, có hàng nhưng không có tiền mua… Quan hệ kinh tế bằng hình thức trao đổi ngang giá sản phẩm và vật dụng đã cục bộ đưa xã hội trở về thời kỳ loài người chưa phát minh ra tiền tệ.

Hậu quả trên là do nhận định sai lầm. Ông Võ Văn Kiệt bấy giờ đã đánh giá: “Kết quả của việc đổi tiền cho thấy tiền nằm trong nhân dân tương đối ít, tiền nằm trong tay tư sản không đáng kể. Chúng ta đã đánh hụt. Phần lớn tiền lại nằm trong tay các công ty, xí nghiệp và các địa phương”. Từ đó, thị trường tự do gọi là “chợ đen” càng đẩy mạnh hoạt động ngầm. Để đối phó, một lượng tiền mới được in thêm bơm vào mạch máu kinh tế, gấp 1,38 lần so với trước đổi tiền, làm cho giá hàng hóa tăng tốc không thể kìm chế. Năm 1986, lạm phát tăng 774,7%! Trong ba năm tiếp theo, lạm phát vẫn giữ mức 3 con số. Mạch máu kinh tế bị co lại và tắc nghẽn, sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng đều chồng chất khó khăn.

Đánh giá trên chứa đựng hai vấn đề. Trước hết, để cứu nguy chế độ, chủ trương vẫn là tiếp tục vắt kiệt sức dự phòng trong nhân dân bằng một hình thức mới hợp pháp hơn, khác với vận động tự nguyện “Tuần lễ vàng” năm 1945 hay tước đoạt bạo lực qua cải tạo công thương. Mặt khác, Đảng đã duy trì các công ty xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước như “nuôi ong tay áo”, nắm giữ tiền và nhiều điều kiện sản xuất kinh doanh nhưng không biết sử dụng và phát huy hiệu quả, càng không dám giao về phía nhân dân, làm trì trệ và kiệt quệ xã hội. Đồng tiền nằm một chỗ, không tham gia vào lưu thông kinh tế và các hoạt động xã hội, chỉ là tờ giấy thường. Nhưng bấy giờ, nhiều cơ quan kinh tế nhà nước lại có khái niệm không theo nhận thức trên, mà là: tiền nghỉ ngơi, tiền nhàn rỗi. Đúng hơn phải gọi đây là khái niệm tê liệt. Hiện tượng này cũng đồng thời tạo tiền đề để một bộ phận chức quyền chiếm dụng các điều kiện kinh tế và trở thành “Tư bản đỏ” sau khi cổ phần hóa (mà thực chất là hợp thức hóa để chạy tội) nguồn tài sản do sức dân cả nước đóng góp.

Trước sai lầm đó, vào tháng 6-1986, ông Trường Chinh đã ký quyết định cách chức một loạt cán bộ thực hiện cải cách giá – lương – tiền. Cũng như các sai lầm trong quá khứ, những lãnh đạo duyệt chủ trương để thực hiện thì chẳng thấy ai bị liên đới trách nhiệm hay chịu kỷ luật. Bộ Chính trị cũng lập ra “Tiểu ban cơ chế mới” tháng 12-1985, trong đó có ông Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và lãnh đạo các tỉnh thành năng động tham gia. Các nhóm khác như: nhóm nghiên cứu sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị, nhóm nghiên cứu ở Bộ Ngoại giao, tiểu ban nghiên cứu giải pháp cấp bách về tài chính – tiền tệ – giá cả… cũng ra đời. Đến lúc không còn lý luận nào để bám vào, kể cả mô hình kinh tế NEP của Lenin dù được nhắc lại cũng không thể trở thành chiếc phao cứu sinh trong hoàn cảnh này, những lãnh đạo bảo thủ mới mới chịu nới tay cương “chuyên chính vô sản” trong việc đồng ý thành lập và giao quyền nghiên cứu các vấn đề đòi hỏi cần kíp của xã hội đến các nhóm độc lập mở rộng mà không chỉ đạo trực tiếp nữa. Tuy nhiên, các tiểu ban cho thấy: chồng chéo và sai chức năng, trong thời gian ngắn cùng lúc ra đời, vẫn chưa thật sự thoát ra khỏi hệ tưởng cũ hay mới chỉ vừa tiếp cận được rất ít ỏi những lý thuyết mới. Nhìn chung, lý luận vẫn cứ loay hoay tiến lùi theo dạng tư duy nước đôi: chủ trương cải cách đã có nhưng thực thi như thế nào, xóa nền kinh tế cũ đã từng tồn tại thì những đổi mới rối ren có phải là một mô hình có thể chấp nhận, cải cách giá – lương – tiền là sai lầm thì tìm đâu là những điểm sai trong chuỗi liên kết ấy…

Đi đầu hình thành những chủ trương mới áp dụng cho cả nước là những việc làm điển hình của giới lãnh đạo thông thoáng ở Thành phố Hồ Chí Minh: thu mua lương thực ngang giá thị trường dẫn đến Bộ Chính trị phải xóa bỏ chính sách hai giá vào tháng 4-1987, xây dựng khu chế xuất Tân Thuận thành công năm 1980 là tiền đề dẫn đến việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài vào tháng 12-1987, lập ra các nhóm nghiên cứu chính sách và đề ra những giải pháp cải tổ mà khi ông Võ văn Kiệt trình bày đã buộc Bộ Chính trị không còn có thể xem thường bỏ qua…

Đến tháng 4-1988, Bộ Chính trị cũng thêm “nới tay” khi chủ trương khoán 10 chấp nhận mô hình hộ nông dân làm nông nghiệp là cơ bản, các hợp tác xã và hình thức đội nhóm sản xuất tập trung không giải thể nhưng do nông dân tự nguyện lập ra và tự điều hành. Trước đó, nông dân không chịu vào hợp tác xã bị cô lập, thậm chí bị bắt giam và đánh đập. Chủ trương “xiết lại” vẫn còn kiên định chỉ đạo phải tái lập hình thức trại giam khổng lồ này bằng mọi giá. Nhưng đến Nghị quyết 10 thì: “Công nhận sự tồn tại lâu dài và tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình đi lên CNXH, thừa nhận tư cách pháp nhân, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật”. Vậy kinh tế tư nhân trước đó, trong đó có nông nghiệp, bị tước đoạt thì có “bình đẳng” hay dựa vào “pháp luật” nào? Không hơn không kém, đó sự dối trá chính trị, không phải với đối tượng cạnh tranh, mà đối với người dân đáng ra được hưởng các quyền lợi chính trị do nhà cầm quyền mang lại.

Để hiểu rõ nguồn gốc khoán 10, chúng ta cần trở về miền Bắc khoảng năm 1968. Lúc này ở Vĩnh Phú có Bí thư Tỉnh ủy tên là Kim Ngọc. Ông sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo, tham gia cách mạng từ năm 1939, đến 1954, là Chính ủy viên Quân khu Việt Bắc. Năm 1958, ông về quê, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú. Năm 1968, ông đã thực hiện việc khoán hộ đến nông dân: giao thẳng ruộng cho người lao động, hợp tác xã cung cấp các điều kiện canh tác, đến khi thu hoạch thì trả lại hợp tác xã một phần sản phẩm theo thỏa thuận.

Người nông dân gắn với mảnh ruộng đã ra sức chăm sóc để có năng suất cao, hưởng lợi nhiều hơn. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân Vĩnh Phú giai đoạn này có nhiều thay đổi. Vì sao vậy? Ông Kim Ngọc đã cho thấy cách làm ruộng theo chủ trương của Đảng: “Cày chay, cày gãi, bừa chui đang phổ biến hiện nay trong hợp tác xã là hết sức xa lạ với cung cách làm ăn của người nông dân thực thụ, xa lạ với truyền thống cần cù lao động của tổ tiên ta”. Ai phải chịu trách nhiệm về mô hình sản xuất “ngoại nhập” phá hoại này? Nó không những tạo ra nhiều giả dối trong làm ăn kinh tế, mà từ kinh tế và miếng ăn, còn tạo ra phản ứng dây chuyền với rất nhiều giả dối khác. “Khoán chui” đã góp phần triệt tiêu giả dối.

Việc làm này đến Trung ương Đảng, theo chỉ đạo của ông Trường Chinh, ông Kim Ngọc bị buộc phải nhận là đã “sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ”. Một số lãnh đạo bảo thủ còn lớn tiếng: “Khoán hộ là mất lập trường. Thà đói chứ không thể làm khoán hộ. Ruộng đất bị trả lại cho hợp tác xã, một số cánh đồng từ khoán hộ xanh tốt trở về xác xơ kém năng suất. Nhưng tại Đại hội Đảng bộ Vĩnh Phú bắt đầu nhiệm kỳ mới, hầu hết đại biểu vẫn bầu người đứng đầu bị kiểm điểm tiếp tục giữ chức vụ. Lệnh đình chỉ từ cấp trên đã buộc các quan chức dưới quyền của ông tại tỉnh không còn mạnh tay duy trì khoán hộ, nhưng cũng không ai lên tiếng cấm hẳn khoán hộ. Người dân vẫn im lặng và liên kết nhau sản xuất trên ruộng khoán theo cách của địa phương. Khi đã nghỉ việc, ông Kim Ngọc ra Hà Nội gặp ông Trường Chinh, vẫn khẳng định giá trị đúng của khoán hộ. Tính cương quyết bảo vệ chân lý đã làm cho ông Trường Chinh sau này hối hận về chủ trương chặn đứng khoán hộ và kiểm điểm ông trước đó.

Nhiều người tôn vinh gọi ông Kim Ngọc là “cha đẻ của khoán hộ”. Nhìn lại sự kiện này, Bộ Chính trị thời kỳ đổi mới mới từng bước đi sau một người đã “dò đá qua sông”, tiến tới chủ trương khoán 10. Một tập thể lãnh đạo lớn ở Trung ương Đảng đã không bằng một con người có tư duy đổi mới tích cực và luôn quan tâm đến quyền lợi nhân dân, dân tộc. Vĩnh Phú và cả nước ghi nhận cống hiến của ông. Năm 1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã đề nghị: “Công lao của anh Kim Ngọc thật lớn, cần phải dựng tượng để tỏ lòng biết ơn con người như anh”.

Trở lại thời kỳ đổi mới, khi không còn có thể chống lại thị trường tự do, vào tháng 11-1989 chế độ tem phiếu được chính thức xóa bỏ. Thêm một bước phá sản của chủ trương quản lý kinh tế thâu tóm quyền phân phân phối cơm ăn, áo mặc và vật dụng tiêu dùng cho toàn xã hội. Những cuộc điều tra toàn diện cho thấy nhiều con số giật mình: 60% xí nghiệp và nhà máy nhà nước quản lý thua lỗ, 500.000 người lao động không có việc làm. Vào những năm này, người lao động từ nông thôn quanh vùng kéo vào Hà Nội, ngồi các vỉa hè chờ ai cần sức lao động thì bán đổi – nhân dân gọi nôm na là “chợ người”. Họ làm bất cứ việc gì miễn được trả tiền. Người thuê thì có thể nhắm đối tượng bán sức lao động để lựa chọn. Tình trạng tự phát chuyển dịch cơ cấu lao động này cũng giống như thời thuộc Pháp nhiều người bỏ làng quê lên thành thị làm đủ việc kiếm sống. Đó là mặt trái của chế độ XHCN vốn được xem là ưu việt bị giấu kín lâu nay do bưng bít thông tin, là thực tế không lời tố cáo về cuộc sống tốt đẹp Đảng lo cho dân, hóa ra dân phải tự lo cứu mình! Đến Đại hội lần thứ IX, khi đã làm chủ đổi mới, Đảng mới công bố chấp nhận kinh tế thị trường, nhưng gắn thêm vào đó khái niệm XHCN: Nhà nước pháp quyền XHCN, nền dân chủ XHCN, cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, pháp chế XHCN… Những “cái đuôi” ấy còn gắn vào nhiều lĩnh vực để XHCN trên thế giới đã bị đào thải vứt bỏ, nhưng đối với Đảng Cộng sản vẫn thể hiện trung thành và kiên định với lý tưởng đã chọn!

Năm 1991, Đảng Cộng sản ban hành cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ mới (gọi tắt là Cương lĩnh 1991), vẫn tiếp tục xác định bỏ qua phát triển TBCN và tiến lên CNXH. Trong khi đó, thực tế cho thấy có hiện tượng tư bản hóa từ trong ra ngoài, tư bản hóa các lĩnh vực nhà nước độc quyền, để kinh tế TBCN nước ngoài xâm nhập toàn cõi Việt Nam. Cương lĩnh ba lần nhắc đến vấn đề dân tộc: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết” (trong 05 mục tiêu), “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ” (trong 08 đặc trưng), “thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc” (trong 08 phương hướng). Đảng quan tâm vấn đề này vì đang diễn ra ly khai dân tộc trong khối XHCN. Những cuộc nổi dậy của đồng bào Tây Bắc, Tây Nguyên…đến nay vẫn còn hàng trăm người đứng đầu phong trào nổi dậy bị giam và nhiều người mất tích.

Cương lĩnh cũng khẳng định: “…con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”. Thực tế từ 1991 đến nay với hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng khó san lấp, phân tầng xã hội càng thêm nhiều thang bậc là một biểu hiện đi ngược lại khẳng định nêu trên. Đảng đưa vào cương lĩnh việc “xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh”, nhưng đảng viên có chức quyền là đối tượng tham nhũng hàng đầu. Chủ trương cho đảng viên được thuê mướn nhân công và làm kinh tế tư nhân cũng chính thức mở cửa trong việc tư tư bản hóa đảng viên. Đọc cả cương lĩnh, hầu như ở phần nào cũng thấy nói về Đảng và vì Đảng Cộng sản, trong khi tiêu đề lại là xây dựng đất nước…

Những tiếng nói vì đổi mới

 

Trần Độ

Ông tên thật là Tạ Ngọc Phách, quê ở Thái Bình. Ông theo cách mạng năm 17 tuổi. Ông gia nhập Đảng Cộng sản năm 1940, năm sau bị Pháp bắt và kết án 15 năm tù. Năm 1943, trên đường giải tù từ Sơn La ra Côn Đảo, ông trốn thoát, tiếp tục hoạt động cách mạng. Qua nhiều cống hiến, đến 1958 ông được phong hàm tướng. Cuối 1964, ông là Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng miền Nam. Từ năm 1974 đến năm 1976, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội.

Trong thời gian này, ông có chuyến đi công tác đến Đông Đức, qua đó nhận ra rất nhiều bất ổn trong các nguyên lý cũng như thực tiễn xây dựng CNXH theo mô hình của Lenin và được tiếp nối bởi Staline. Ông viết một bức thư gửi Bộ Chính trị trình bày những dự báo về hậu quả xã hội, đề ra giải pháp cải cách với tinh thần dũng cảm chấp nhận gặp nguy hiểm. Theo ông, Đảng Cộng sản không nên tiếp tục phân biệt ý thức hệ, mà cần mời cả các chuyên gia TBCN hợp tác và đầu tư xây dựng đất nước. Năm 1981, ở cương vị Thứ trưởng Bộ Văn hóa, ông tham mưu Nghị quyết 05 về văn hóa thời kỳ đổi mới, nêu thẳng yêu cầu cần phải “cởi trói” cho văn nghệ: “Văn hóa mà không có tự do là văn hóa chết. Văn hóa mà chỉ còn có văn hóa tuyên truyền cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đạo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa bấy nhiêu, càng hiếm có những giá trị văn hóa và những nhà văn hóa cao đẹp”.

Ông chỉ rõ rằng trong xã hội cộng sản, ý thức hệ được đưa lên hàng đầu đã làm mất đi khả năng và phương pháp phát hiện tài năng, dẫn đến không biết sử dụng tài năng, nặng hơn nữa là chụp mũ những tài năng thật sự, bao vây và trù dập. Cuối cùng họ trở thành những người phạm tội một cách oan ức. Điều này đã được chứng minh quá rõ ràng qua vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Từ đó mà có hiện tượng lẫn lộn thật và giả trong văn nghệ: “Nó chỉ thích nghe những điều xuôi chiều và xu nịnh, nó không thể chịu được những cái độc đáo và không dung tha sự độc lập”.

Về lãnh đạo xã hội, ông không chủ trương thay đổi đảng khác, nhưng đề nghị Đảng Cộng sản phải đổi mới tận tâm, triệt để từ bỏ đảng trị, nắm bắt kịp xu hướng phát triển chung của đời sống chính trị trên toàn thế giới: “Đảng lãnh đạo không có nghĩa là đảng trị. Kinh nghiệm lịch sử trong nước và thế giới đã chứng minh rằng mọi sự độc quyền, độc tôn đều đưa tới thoái hóa, ruỗng nát, tắc tỵ không những của cơ thể xã hội mà cả cơ thể Đảng nữa”. Qua công khai phản biện với những quan điểm trên, Đảng Cộng sản khai trừ ông ra khỏi tổ chức đầu năm 1999.

Một đảng viên kiên trung, một vị tướng anh hùng từng vào Nam ra Bắc, vượt qua bao sinh tử, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng 4 khóa liền từ 1960 đến 1991, đứng đầu Ủy ban Văn hóa và Giáo dục Quốc hội từ 1989 đến 1992, một lãnh đạo cấp cao nói lên tiếng nói “cởi trói” cho văn hóa văn nghệ, bị khai trừ sau 58 năm theo Đảng! Những năm cuối đời, ông viết bốn câu thơ đầy trăn trở về chặng đường dài cả dân tộc phải đi vòng vo theo định hướng của Đảng Cộng sản:

“Những mơ xóa ác ở trên đời

Ta phó thân ta với đất trời

Ngỡ ác xóa rồi thay cực thiện

Ai hay biến đổi, ác luân hồi”.

 

Đào Xuân Sâm

Tháng 3-1986, giáo sư Đào Xuân Sâm có bài đăng trên báo Nhân Dân với những nhận định quyết liệt: “Lẩn trốn thị trường hay cưỡng lại thị trường thì nhất định không tránh khỏi trở lại cơ chế quan liêu bao cấp… Phải học Lenin: Đi với chó sói thì phải gào lên”. Việc Đảng chủ trương “xiết lại” là sự “trá hình bằng một hệ thống những luận đề cách mạng, những răn đe húy kỵ chứ không có lý luận khoa học”. Theo ông, ba chương trình kinh tế lớn trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VI (gồm sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu) thật ra không có gì mới cả, mà là trở lại thực hiện một số lĩnh vực đã bị cấm trong thời gian dài. Cùng chia sẻ nhận định này, đồng thời cũng để “chữa cháy” cho đường lối sai lầm, ông Hà Đăng là Tổng biên tập Báo Nhân Dân giải thích: “Đổi mới còn là trở lại cái cũ vốn đã đúng nhưng bị làm sai”.

Giáo sư Đào Xuân Sâm còn phê phán ý tưởng “thị trường có tổ chức” chỉ là giả tạo, biệt phái, cửa quyền theo cách mới! Đúng hơn, ông đã tiến sát gần đến với phản ánh một sự thật nhìn ở mặt khác: Đảng vẫn cố bám giữ quyền lực trong khi không có bất cứ một năng lực nào! Quan điểm của ông bị Chủ nhiệm Ủy ban vật giá Nhà nước xếp vào dạng “ngông cuồng”, nhiều ý kiến khác cho là chệch hướng, là chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh. Nhưng ông Trần Phương là người bảo vệ giáo sư Đào Xuân Sâm khi cho rằng trong hệ tư tưởng và mô hình kinh tế XHCN, duy nhất chỉ có “ta với ta” thì làm gì có những con sói nào khác để gào lên? Ý kiến bảo vệ này cho thấy dân chủ thật sự đã bị triệt tiêu do Đảng đã bao năm vây bọc, tạo ra niềm tin mù quáng và máy móc trong quần chúng rằng: Đảng là tiên phong, là bộ tham mưu, là ngọn cờ đầu, là luôn đúng, có sai cũng chỉ là hiện tượng nhỏ trong cơ bản và chủ yếu vẫn là đúng.

Từ đó, người dân mất hết tư duy và kỹ năng phản biện, không còn phát hiện hay đặt những giả thiết ngược lại. Cả xã hội bị điều hành bằng chỉ thị, nghị quyết. Trong một đoạn khác của loạt bài báo, giáo sư Đào Xuân Sâm cũng cho rằng: “Cơ chế cũ có đặc điểm là bao giờ cũng nhân danh cách mạng để cảnh cáo và kết tội mọi ý kiến đối lập”. Những số báo đăng bài viết của giáo sư gây ra phản ứng lớn: trí thức cả nước tìm đọc và bàn tán, những người cấp tiến ca ngợi, một số lãnh đạo phân vân, kẻ bảo thủ kết tội!

Trần Xuân Bách

Ông từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Giám đốc Công an rồi Chánh Văn phòng Liên khu III, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, Sơn Tây, Hà Nam, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội V năm 1982. Sau đó, ông tiếp giữ nhiều chức vụ quan trọng. Từ Đại hội VI năm 1986, ông được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và được giao nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận. Ông cũng là đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV và là ủy viên trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa III, IV. Tháng 8-1990, ông nghỉ hưu.

Ở Đại hội VI năm 1986, ông đứng đầu Ban đối ngoại Trung ương, phụ trách quan hệ với các nước XHCN, được giao nhiệm vụ tổng hợp nguyên nhân sụp đổ của CNCS thế giới. Ông đã dự thảo một báo cáo khá dài với tư duy thông thoáng, học tập tình hình bên ngoài. Ông đề nghị Việt Nam cần đổi mới toàn diện về kinh tế lẫn chính trị, phải cho công dân quyền tự do và thực hiện xã hội công bằng dân chủ. Theo ông, khó có thể kiểm soát thông tin một cách tuyệt đối, cần phải sử dụng thông tin rộng mở nhằm nâng cao năng suất lao động. Về dân chủ, ông từng cho rằng Đảng Cộng sản không phải lý luận vòng vo mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng cho xã hội. Dân chủ là “quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát – do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia”. Do đó, bản chất và chức năng của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đại”.

Năm 1988, một cuộc tranh luận trong Bộ Chính trị diễn ra dựa trên thực tế: theo cải tổ chính trị của Liên Xô thì thực tế bị thất bại, trong khi cải cách mở cửa của Trung Quốc lại phát triển kinh tế. Kết thúc tranh luận, chủ trương là chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị. Điều đó dẫn đến vào tháng 3-1990 tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, ông bị cô lập phê phán và bị xếp vào thành phần xét lại. Nhiều người lúc bấy giờ rất ngạc nhiên khi ông bị cách chức và ra khỏi Bộ Chính trị mà không có một vi phạm nào. Cùng số phận do tư tưởng cấp tiến như ông, còn có ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Cơ Thạch. Nhưng dù sao những nhân vật ở thời kỳ này vẫn còn may mắn, không phải ngồi tù gần hai mươi năm như ông Hoàng Minh Chính. Nhìn lại chủ trương giữ nguyên mô hình và đường lối chính trị hoặc thay đổi chậm chạp và hình thức nhằm đối phó là nguyên nhân làm khập khiễng tiến trình đổi mới ở Việt Nam cho đến nay. Đó còn là cách ngụy biện mới cho sự tồn tại độc quyền cai trị của Đảng Cộng sản.

Ông Trần Xuân Bách được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận làm chuyên viên. Nhưng ông không được đi nước ngoài, không được gặp gỡ hay tiếp xúc với người nước ngoài ở trong nước, không được tự do phát ngôn tư tưởng… Tất cả bị kiểm soát và ngăn chặn từ mọi hướng, chỉ còn là “hữu danh vô thực”. Công tác tổ chức cán bộ ở Việt Nam hiện nay vẫn có lối ứng xử: khi tiến hành cô lập một cá nhân, thường không thanh trừng ám sát hay bỏ tù như trước cách mạng mà “giam lỏng”, không phân công công tác quan trọng, không bố trí phát biểu đăng đàn tại những cuộc họp, hội nghị hay trước công chúng – một nghĩa khác, hoàn cảnh khác của khái niệm “ngồi chơi xơi nước”. Đây là lối bưng bít thông tin rất tinh vi để tránh bị chỉ trích. Nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp hàng chục năm liền cũng từng tình cảnh này.

Ngày nay, thông tin tự do đã làm lộ diện biện pháp bưng bít tiếng nói của một con người đổi mới như ông Trần Xuân Bách, đồng thời đang tiếp tục thực hiện triệt để việc đổi mới kinh tế, theo đó chính trị cũng phải phục tùng song song thay đổi mà ông đã nêu ra.

Hà Sĩ Phu

Ông từng bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tại Tiệp Khắc năm 1982, về nước làm Viện Phó Phân viện Đà Lạt thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nghỉ hưu 1993. Ông tham gia hoạt động văn học nghệ thuật, đi đầu ủng hộ cho mục tiêu đổi mới triệt để. Từ 1988 đến 1995, ông viết những tác phẩm đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền như: Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ, Ðôi điều suy nghĩ của một công dân, Chia tay ý thức hệ…

Năm 1995, trong chuyến ra Hà Nội, ông bị bắt, đồng thời nhà riêng ở Lâm Đồng bị lục soát và tịch thu nhiều tư liệu cá nhân. Sau gần một năm giam giữ điều tra, ông ra tòa và bị tuyên án tiếp một năm tù giam với tội danh “có hành vi tiết lộ bí mật nhà nước”. Ra tù năm 1998, ông được tổ chức Human Rights Watch bình chọn và trao tặng Giải thưởng Hellmann có đóng góp cho công cuộc đấu tranh vì nhân quyền. Tháng 4-2000, công an lại lục soát nhà riêng của ông, tịch thu máy vi tính và tài liệu, đồng thời cấm ông rời khỏi địa phương cư trú.

Theo ông, xã hội hiện nay trên danh nghĩa là ưu việt nhưng lại chứa đựng “quá nhiều nghịch lý”: dân chủ triệu lần lại vướng mắc chính về dân chủ; tiêu biểu cho sự thật thì phải cố chữa bệnh nói dối; tiêu biểu cho triết học duy vật lại là điển hình bệnh duy ý chí; tiêu biểu cho giải phóng con người thì luôn bị chỉ trích quyền con người; tiêu biểu đề cao giá trị tinh thần thì lại xuống cấp đạo đức, quan hệ xã hội và gia đình; tiêu biểu cho tính nhân loại và tập thể thì lại xuất hiện tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào một người và lấy một người thay cho tất cả; tiêu biểu cho sức sáng tạo của tri thức thì tri thức lại không được đặt đúng vào môi trường tự do; luôn nói về những thắng lợi to lớn nhưng năng suất lao động thì lại rất thấp; XHCN được mô tả đầy sức sống, còn CNTB giãy chết nhưng trong những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía giãy chết cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia…

Càng lộ rõ sự thật hơn khi Hà Sĩ Phu phân tích trong “Chia tay ý thức hệ”. Ông cho rằng đổi mới đã đặt Đảng Cộng sản vào tình thế “bất khả kháng”, buộc phải thực hiện, nhưng vẫn luôn tìm mọi cách đối phó nhằm tìm ra và chỉ công nhận “một phương án có lợi nhất cho mình”. Theo ông:Đảng ta “khởi xướng” là khởi xướng cái phương án riêng ấy của mình, rồi ép dân tộc phải lấy cái riêng ấy làm cái chung! Giữa cái riêng ấy và cái chung có rất nhiều điểm giống nhau, nhất là biểu hiện bên ngoài, nhưng lại có nhiều điểm khác nhau rất căn bản”.

Hàng loạt vấn đề khập khiễng, thậm chí tự mâu thuẫn và đi vào ngõ cụt được ông phát hiện và mổ xẻ. Ông chất vấn tại sao phải áp dụng CNXH vào Việt Nam, huy động tất cả “sinh lực”, ép cả dân tộc đi trên con đường rất lơ mơ, đầy bất trắc”? Theo ông, con đường mà cả dân tộc vừa đi qua là … con đường mà chính người dẫn đường cũng mới chỉ được đọc trong một cuốn tiểu thuyết giả tưởng! Con đường mà ngay người đạo gốc đi trước cũng đã phải quay về với thân hình tiều tụy? Con đường mà mới đi một quãng đã thấy lố nhố khuôn mặt “cường hào mới!” Con đường mà mới đi một quãng đã ngót mười triệu con người tàn phế, tử vong…”.

Nhận định quá trình đọc, hiểu, áp dụng lý luận Marx-Lenin vào thực tế, ông cho rằng đó chỉ là cố tình mở rộng lý luận một cách vô nguyên tắc nhằm duy trì ý chí cầm quyền. Cho nên tất cả những nguyên lý gốc và lý luận cơ bản bị giải thích tùy tiện và bóp méo, thêm vào và cắt đi bất kỳ chỗ nào khi cần một sự biện hộ: “Các nhà lý luận Mác-xít thường cứng nhắc, không cho ai cựa quậy ra ngoài khuôn mẫu, nhưng khi ở thế bị phê phán thì lại viện dẫn từ trong chủ nghĩa của mình tính linh động mềm đến mức có thể uốn được. Chúng ta sẵn sàng linh động, nên chỉ xoay quanh cái gốc nguyên lý thôi. Nếu cái nguyên lý cũng linh động nốt thì còn gì nữa mà lý luận”. Ông cho rằng học thuyết Marx-Lenin chỉ là một “hoài vọng đã bị vượt qua”. Những điều trình bày trong toàn bộ lý luận xây dựng CNXH và tiến tới thế giới cộng sản đại đồng là những “dự đoán lẩm cẩm không bao giờ có thực trên đời”.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn hô hào tính hai mặt của vấn đề nhưng thực tế lại giải quyết chỉ một mặt phiến diện bằng chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng và ý chí chủ quan từ lãnh tụ. Đó là lý luận về con người luôn cân bằng giữa thuộc tính cá nhân và thuộc tính xã hội, nhưng thực tế con người xã hội lại “nuốt chửng” con người cá nhân, thậm chí một vài cá nhân lãnh đạo có thể “nuốt chửng” cả một xã hội! Đó là lập luận tự che giấu khi cho rằng những đảng viên làm sai cũng như mọi con người có mặt phải mặt trái, không thể hoàn thiện như thánh thần. Nhưng khi không bị chỉ trích thì họ không bao giờ tự vấn mà luôn tốt đẹp, vĩ đại, đầy sức sống, đầy trí tuệ, sáng ngời đạo đức và phẩm chất, thậm chí khi qua đời lại được thần thánh hóa. Từ đó, tính ưu việt, tiên phong hào nhoáng hình thức của tổ chức Đảng Cộng sản hình thành, mặc cho bên trong chứa bao bất cập.

Đó là nhà nước bao giờ cũng có công ích và tư lợi, nhưng lý luận Marx-Lenin chỉ nhìn thấy bản chất tư lợi nên tìm cách tiêu diệt các nhà nước. Kết quả là nhà nước quá độ lên CNXH được tạo dựng ra lại quá nhiều tư lợi mà không ai làm tiêu vong được. Sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể cũng vậy, lý luận nhìn thấy mặt tiêu cực tư hữu và cả tích cực công hữu, nhưng trong quá trình phá tư hữu và lập công hữu lại tạo điều kiện cho một số người chiếm của công làm của tư, trở thành những nhà tư sản thực thụ.

Đó còn là khái niệm về giá trị thặng dư (giới tư bản gọi là lợi nhuận) vốn thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng cũng tạo nguy cơ mất công bằng. Và đúng là Marx chỉ nhìn thấy mặt bóc lột của giá trị thặng dư về lý thuyết, nhằm vào đó kết tội, không chấp nhận tồn tại tư bản, phát động cách mạng tước đoạt và xóa bỏ làm thuê. Marx đã không thấy rằng giá trị thặng dư sau khi bị tước đoạt ấy lại rơi vào một thiểu số quản lý trên thực tế. Đảng viên ngày nay vừa được khuyến khích làm giàu (thực chất là bóc lột giá trị thặng dư), lại “khéo lèo lái lý luận để khỏi làm tủi vong linh tác giả bộ sách luận về chế độ TBCN!” Từ những phân tích trên, Hà Sĩ Phu kết luận: “Toàn bộ cái gọi là CNXH khoa học chẳng qua là một Đại ngụy biện, nhằm biện minh cho một ảo ảnh. Học thuyết ấy đi vào xã hội và con người Việt Nam không qua vọng gác của Trí tuệ”.

Về quyền con người, ông chấp nhận phân theo quá trình tiến hóa của nhân loại với ba tầng bậc: quyền được sống – quyền được ấm no – quyền được tự do dân chủ. Sau giai đoạn thoát khỏi đói nghèo, người Việt Nam sẽ đòi hỏi quyền lợi đã bị mất từ lâu: tự do và dân chủ đúng nghĩa của nó, cho mỗi người và cho mọi người, chứ không thể lợi dụng gọi là cho toàn dân tộc mãi. Đó cũng là nhu cầu hưởng thụ văn hóa ở giai đoạn cao. Nhưng cuộc cách mạng của Đảng phát động giai cấp vô sản chỉ là đòi hỏi nhân quyền ở tầng bậc thứ nhất, hay như cách gọi của ông là “nhân quyền tối thiểu ở tầm văn hóa thấp”.

Qua phân tích bài “Quốc tế ca”, ông chỉ rõ đối tượng làm cách mạng là: “Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian. Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn…”. Mục tiêu của đấu tranh là: bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình”. Biện pháp đấu tranh là: “phá sạch tan tành”, “quyết phen này sống chết mà thôi”. Và ông kết luận với tinh thần tìm về những giá trị vốn có của dân tộc: “Cả đối tượng, mục tiêu lẫn biện pháp đều ở tầm văn hóa thấp… Nếu thấy cần làm lại bài ca, thì đáng lẽ phải làm lại bài “Quốc tế ca” này chứ không phải làm lại Quốc ca! Sản phẩm của phần Dân tộc nói chung là lành mạnh, sản phẩm của phần “cách mạng giai cấp” mới là cái cần được làm lại!” Không còn gì có thể thuyết phục hơn ngòi bút lý luận của Hà Sĩ Phu trong quá trình phân tích những sai lầm chủ trương và đường lối cộng sản.

 

Nguyễn Hộ

Năm 1990, ở miền Nam xuất hiện một nhà cách mạng lão thành đấu tranh cho sự nghiệp đổi mới. Đó là ông Nguyễn Hộ. Ông tham gia cách mạng năm 20 tuổi. Năm 1940, ông bị bắt giam 5 năm ở Côn Đảo, cùng xà lim với ông Lê Duẩn. Từ năm 1950 đến 1952, ông là Ủy viên thường trực Ban Thường vụ Ủy ban kháng chiến Sài Gòn – Chợ Lớn. Sau 1975, ông là Phó Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Thư ký Liên hiệp Công đoàn, rồi Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay sau khi đất nước thống nhất, ông đề xuất đường lối mới nên giữ nền kinh tế ở miền Nam làm động lực phát triển cả nước. Nhưng cuộc cải tạo đã diễn ra, đến khi khủng hoảng trầm trọng, Đảng Cộng sản mới bắt đầu phục hồi các thành phần kinh tế như đề nghị của ông từ đầu.

Năm 1987, nghỉ hưu ở tuổi 71, ông Nguyễn Hộ cùng những bạn chiến đấu tâm huyết lập ra “Câu lạc bộ kháng chiến” tại Sài Gòn. Câu lạc bộ chỉ trích đường lối, chính sách sai lầm của Đảng Cộng sản, đề nghị bầu cử tự do, Bộ Chính trị phải “kiểm điểm định kỳ”“trả quyền dân chủ cho nhân dân”. Ông công khai rằng ai không đủ tài đức thì rút lui để đưa người khác thay thế, không thể chấp nhận “sống lâu lên lão làng”, đồng thời các kỳ bầu cử nên có một số đại diện khác nhau ứng cử với chương trình hành động cụ thể của mình. Ông đề nghị quốc hội cách chức một số lãnh đạo cao cấp các bộ ngành không hoàn thành trách nhiệm. Không bao lâu, câu lạc bộ bị cấm hoạt động, tờ báo “Truyền thống kháng chiến” bị đình bản. Một câu lạc bộ khác thay vào nhằm xóa bỏ phong trào đấu tranh chống tiêu cực mà ông là người đi đầu.

Tháng 8-1990, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đến thăm và thuyết phục ông từ bỏ đối lập với Đảng Cộng sản, nhưng ông kiên quyết với tư tưởng đổi mới của mình. Tháng sau, ông bị bắt, được trả tự do nhưng bị cấm rời khỏi địa phương. Năm 1991, ông tuyên bố ly khai Đảng Cộng sản sau 54 năm tham gia, tập trung viết nhiều bài phê phán chế độ cộng sản. Năm 1994, ông lại bị bắt do công khai kêu gọi đi theo con đường TBCN, xóa bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Trong lời mở đầu tác phẩm “Quan điểm và cuộc sống”, ông viết về những hy sinh có thật của chính những người thân nhất của ông trong cuộc chiến, nhưng lại khẳng định: “Chúng tôi đã chọn sai lý tưởng: cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy, nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có ấm no và hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Ðó là điều sỉ nhục”.

Ông cho rằng quá trình phát triển của nhân loại đi đến tự do văn minh và lòng dân trong nước sẽ quyết định sự tồn vong của Đảng: “Rõ ràng, các Đảng Cộng sản tuy có vai trò lãnh đạo, nhưng lại không tiến kịp với đà phát triển của lịch sử và nghiễm nhiên trở thành chướng ngại đối với sự tiến hóa của xã hội. Do đó, đến lượt các Đảng Cộng sản không thể tránh khỏi quy luật đào thải – bị quần chúng gạt ra bên lề lịch sử”. Theo ông, ở Việt Nam một nhóm bảo thủ trong Bộ Chính trị vẫn còn bám chặt “CNXH đói nghèo, lạc hậu và đẫm máu”. Ông cũng cho rằng dân chủ tự do là thước đo chính xác về lòng trung thành của Đảng Cộng sản đối với dân tộc Việt Nam, đồng thời trên cơ sở dân chủ bình đẳng có thể thực hiện hòa giải hòa hợp dân tộc.

Khi đã ngoài tuổi 90, ông vẫn có nhiều suy tư về thực trạng đất nước. Quá khứ, hiện tại và tương lai được ông đặt thành nhiệm vụ với thế hệ trẻ và mọi công dân: “Đất nước như thế này là nhục! Làm công dân của Việt Nam, có lịch sử oai hùng, đến ngày nay mà không có tự do, đó là nhục nhã! Không thay đổi điều này, không xứng đáng làm người!”. Cuộc đấu tranh trên cho thấy ông xứng đáng là một tư tưởng tiến bộ, dũng cảm chịu hy sinh để từng bước báo hiệu nền dân chủ thật sự ra đời. Nhà văn Bùi Minh Quốc nhận định ông là người ngay thẳng, kiên quyết “không để thiết chế chính trị làm cho thoái hóa”.

 

Một số lĩnh vực và sự kiện xã hội

 

Văn hóa cộng sản

Toàn bộ các lễ hội truyền thống và văn hóa dân gian ở giai đoạn này hầu như không được khôi phục. Cùng với các đình chùa làm cơ sở hoạt động cho các cơ quan chính quyền, hợp tác xã nông nghiệp, nhiều cơ sở thờ tự cũng bị đập phá hoặc bỏ hoang. Cả xã hội chỉ có pano, appich, khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng kỷ niệm các ngày lễ, cuộc vận động, phát động phong trào cách mạng. Văn hóa nghệ thuật được huy động tối đa vào việc tuyên truyền cho Đảng: các đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động, đội văn nghệ, câu lạc bộ sáng tác, trại sáng tác, các trường đào tạo văn nghệ sĩ, lại còn có trường đào tạo viết văn Nguyễn Du lập theo mô hình trường viết văn Gorky ở Liên Xô, mà thực chất nhằm buộc các nhà văn nhà thơ sáng tác theo định hướng văn nghệ XHCN. Một số quan điểm xem hoạt động văn hóa thông tin là hoạt động chỉ tiêu tiền, có quan điểm nặng về kinh tế còn xem ngành văn hóa là “bánh xe thứ năm”. Hoạt động văn hóa sở dĩ bị rơi vào tình trạng này là do nó đã bị lạm dụng trong thời gian dài chỉ để phục vụ chính trị.

Về các bảo tàng, bảo tồn làm nơi giáo dục truyền thống cách mạng, một đại tá ở Quân khu VII đã cho rằng chúng không được “tôn trọng nguyên tắc sống còn về hiện vật gốc, cho sao chép và trưng bày giống nhau ở nhiều bảo tàng dẫn đến đi đâu cũng xem một thứ, nhàm chán”. Cũng theo ông, việc phục chế, trưng bày tràn lan các hiện vật và hình ảnh lịch sử truyền thống cách mạng do quan niệm sai lầm bảo tàng là một cuốn lịch sử viết bằng hiện vật, từ đó cố dựng lại lịch sử rồi đem hiện vật ra để chứng minh. Ông cho rằng đúng ra phải ngược lại: “Hiện vật tự thân nó làm hiện lên lịch sử, đưa người ta về với lịch sử. Còn người xem muốn biết rộng hơn thì lúc đó mới cần thuyết minh”.

Dễ nhận thấy là hàng loạt nhạc sĩ và sáng tác của họ ca ngợi lãnh tụ. Cứ lễ hội là thấy chương trình ca múa nhạc hay kịch bản sân khấu hóa truyền thống cách mạng, những vở kịch thông tin ca ngợi Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh, các anh hùng lao động XHCN… Ngày xưa có 18 vua Hùng dựng nước, đến lúc này Hồ Chí Minh sánh ngang hàng kêu gọi “bác cháu phải cùng nhau giữ nước”, trong khi sự thật của “giữ nước” là phải mất một phần đất đai biên giới phía Bắc và mất cả Hoàng Sa để nhận viện trợ từ Trung Quốc phục vụ cho cuộc tiến công xuống phía Nam. Sau 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam còn tự hào mở ra cho thế giới “Thời đại Hồ Chí Minh”! Đến nay thời đại đó ảnh hưởng ở tầm mức nào và còn hay không, chính Đảng Cộng sản cũng lặng lẽ bỏ rơi, không còn đề cập đến nữa. Trước đây, nhiều tác phẩm văn hóa nghệ thuật sáng tác theo quan điểm thần tượng hóa lãnh tụ, rồi chuyện sửa và làm sai di chúc, đến đổi mới mới công bố trở lại, cũng chỉ nhằm thần tượng hóa. Khi thông tin từ nhiều nguồn gây ra cuộc tranh cãi kéo dài đúng – sai, thật – giả về những sự kiện trong cuộc đời lãnh tụ, LHQ đã dừng lại việc công nhận Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Mặc dù vậy, xã hội Việt Nam vẫn bị bưng bít hơn chục năm sau khi các sách báo, bài giảng, buổi nói chuyện trong nước của tuyên giáo vẫn khẳng định Hồ Chí Minh đã được công nhận danh hiệu trên.

Trong lịch sử tư tưởng văn hóa ở Trung Quốc, để dọn sạch những giá trị “phi Tần”, bạo chúa Tần Thủy Hoàng từng “chôn Nho đốt sách”. Chính sách của Đảng ở Việt Nam thời kỳ này cũng theo xu hướng đó. Tất cả các sách phi Mác-xít đều bị cho là phản động đồi trụy. Những người có khả năng viết ra những loại sách báo không nằm trong đường lối của Đảng bị cô lập và giết chết dần, bắt đầu từ Nhân Văn – Giai Phẩm kéo dài mãi. Sau 1975, sách báo phong phú ở miền Nam cũng bị tận diệt. Hàng loạt thế hệ trẻ bị “nhồi sọ” dưới mái trường XHCN: đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thằng Thiệu, thằng Diệm hay vô danh tiểu tốt như thằng Xăm trong “Hòn Đất” của Anh Đức…, tất cả đều bị trẻ con người lớn gọi là thằng, do độc ác. Còn Liên Xô và Trung Quốc là vĩ đại, ca ngợi Đảng Cộng sản là phải “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt, Đảng ta đây da sắt xương đồng”, Tố Hữu là cánh chim đầu đàn của nền văn nghệ mới… Dưới sự trợ giúp của Liên Xô, loa phát thanh đầu làng cuối phố, thậm chí loa nhỏ còn mắc vào tận đầu giường trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên mặt trận tư tưởng.

Các đài phát thanh tiếng Việt ở các nước phương Tây đều bị phá sóng. Những người ôm chiếc radio “ấp chiến lược” cà tàng có biểu tượng cái bắt tay Việt – Mỹ lén nghe chương trình phát thanh tiếng Việt phát ra câu được câu mất, liền bị tịch thu “tang vật” và bị quy tội, bắt giam. Học sinh phải tham khảo chỉ sách của các NXB không vượt ra khỏi ý chí và tư tưởng cộng sản. Lịch sử dân tộc mấy nghìn năm bị xếp gọn lại, trong khi lịch sử Đảng và sách lý luận Marx-Lenin ở đâu cũng bung ra mà sau này tự rơi vào nghịch cảnh không ít nơi phải gom hàng đống sách đem bán giấy loại. Các tác phẩm dịch thuật, những giá trị nghệ thuật tinh hoa văn hóa nhân loại cũng được phổ biến trên quan điểm văn hóa vô sản. Thậm chí vấn đề nguyên tác không được tôn trọng, một số đoạn bị kiểm duyệt cắt bỏ. Tình hình cứ thế diễn ra, thế hệ trẻ lớn lên không còn biết những giá trị đa dạng văn hóa. Điều mà Đảng Cộng sản đạt được ở lĩnh vực tư tưởng văn hóa là rất quan trọng: cả xã hội nhiễm tính Đảng – đồng nghĩa với Đảng là duy nhất đại diện. Đến khi đổi mới, các đoàn văn công, đội thông tin lưu động, các buổi triển lãm và phim ảnh cách mạng lộ rõ nguy cơ không còn khán giả quan tâm. Công chúng chạy theo hàng loạt giá trị mới. Văn nghệ sĩ gặp nhiều khó khăn, quay ra cộng tác với môi trường văn hóa nghệ thuật tư nhân ở giai đoạn đầu bị xem là điều sỉ nhục, gần như phủ nhận và phản bội với ngành văn hóa của đảng và nhà nước.

Khi chủ trương đổi mới, nhà văn Anh Đức có buổi nói chuyện với học sinh sinh viên, mới cho biết nhân vật thằng Xăm trong “Hòn Đất” là hư cấu nhằm hình thành niềm tin mù quáng rằng miền Nam trong chế độ cũ là một ngục tù. Một sinh viên trẻ người miền Bắc tìm được hai tập trong bộ tiểu thuyết “Bên dòng Sông Trẹm” của tác giả Dương Hà trước 1975 ở miền Nam, đọc say mê và hiểu ra miền Nam ngục tù lại văn minh hơn nhiều lần. Cả nhạc mà các nhà nhạc sĩ cách mạng mỉa mai là “nhạc vàng ủy mị”, sau thời gian bị cấm ngặt, lại lan ra phía Bắc bởi trong chế độ XHCN người dân không biết nhạc gì khác ngoài “nhạc đỏ”. Văn nghệ giải phóng ban đầu còn hấp dẫn mới lạ, sau nhàm chán, sau nữa thực tế cuộc sống hoàn toàn ngược lại làm người thưởng thức không những không còn quan tâm mà chỉ thấy ở đó nhiều giả tạo. Có những tác phẩm viết theo đơn đặt hàng ghi rõ sách không bán, từ khi in ra đến khi loại bỏ đi chưa có người nào đọc. Không ít thư viện trở thành “mồ chôn tập thể” lần thứ nhất với những bút danh còn sống, lần thứ hai với những tác giả đã qua đời có loại tác phẩm này. Điều gì là chân lý, những giá trị gì là trường tồn hay ngược lại, sẽ là rượu quý hay rượu giả trước thử thách của thời gian.

 

Giáo dục và pháp luật

Chính sách giáo dục áp dụng lên cả nước sau ngày đất nước thống nhất cũng xuất phát từ lý luận Mác-xít. Đó là nền giáo dục nhằm đào tạo con người mới “vừa hồng vừa chuyên”. Trong đó, tiêu chuẩn “hồng” cụ thể là phải trung thành với đảng và phấn đấu vì lý tưởng cách mạng đặt lên hàng đầu, còn chuyên môn tốt là yếu tố đi sau. Quan niệm này là cơ sở sâu xa của nạn phân biệt lý lịch, là chỗ dựa cho không ít kẻ bất tài đã tìm cách gạt bỏ người có năng lực bằng một trích dẫn cắt xén làm vũ khí phê bình mà thật ra là hạ bệ tranh giành nhau trong các cuộc họp: “có tài mà không có đức thì cũng vô dụng”.

Bắt đầu mang chiếc khăn quàng, đội viên đã phải nhiễm tính Đảng. Lên các bậc học cao hơn, chủ nghĩa Marx-Lenin trở thành môn học chính thức bắt buộc. Biết bao chất xám Việt Nam đã phải bỏ quê hương đất nước ra đi, chấp nhận đóng góp cho nước ngoài để đổi lấy được định cư. Trong khi đó, hàng loạt giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên Marx-Lenin không những rao giảng ở khắp các hội nghị, buổi nói chuyện, lớp tập huấn hay cuộc họp ra dân, mà còn chiếm lĩnh và ngự trị ở vị trí quản lý và quyết định tốt nhất trong trường học và cơ quan quản lý giáo dục. Giáo sư Hồ Ngọc Đại từng nhận xét tình trạng náo loạn của ngành giáo dục: “Loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… là thực trạng buồn của giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu”.

Năm 1978, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 14 chủ trương cải cách giáo dục. Trong một cuộc gặp những nhà giáo ưu tú với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, giáo sư Hồ Ngọc Đại đã cảnh báo chủ trương cải cách ấy sẽ thất bại. Thực tế những năm sau diễn ra đúng như thế: cải cách giáo khoa thì giáo khoa chứa đầy lỗi sai, cải cách chữ viết thì chữ viết học sinh ngày càng xấu, cải cách phương pháp truyền đạt thì vẫn không thoát ra khỏi thầy cô đọc và học sinh chép, xây dựng trường điểm thì hàng loạt trường chẳng ra trường, chương trình học mở rộng thì trở nên quá tải và cặp sách học sinh mang trên vai ngày càng nặng lên, quan tâm giáo dục vùng sâu vùng xa thì nhiều trẻ em vẫn thất học và tái mù, thường xuyên bồi dưỡng chính trị cho giáo viên thì giáo viên vẫn không tâm huyết với trường lớp của chế độ chính trị ấy…

Năm 1987, nhà nước chủ trương xóa bỏ Tổng cục dạy nghề, sáp nhập vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Ngay sau đó xuất hiện tình trạng thiếu thợ và người lao động có tay nghề các lĩnh vực. Khi kinh tế khó khăn, hàng loạt giáo viên lương không đủ sống, bỏ dạy đi làm nhiều việc “thượng vàng hạ cám” khác nhau, lại thêm thiếu thầy. Giáo sư Hoàng Tụy từng kiến nghị nhiều lãnh đạo đứng đầu về tăng lương giáo viên. Các lãnh đạo đồng ý, nhưng rất nhiều năm vấn đề mới được bàn. Đến lúc thực hiện, giá thị trường tăng trước, lương cao lên lại cũng chỉ vừa đủ sống. Trong tình cảnh đó, một bộ phận giáo viên chỉ còn biết tạo thu nhập bằng dạy thêm. Năm 1996, khi tình hình dạy thêm tràn lan và học thêm chỉ để chạy điểm, Hội nghị lần thứ 2 của Đảng ra nghị quyết cấm chỉ. Nhưng tình hình đến nay vẫn không khác. Nghị quyết đã bị khai tử khi nền kinh tế thị trường tự do tràn vào giáo dục. Năm 1999, giáo sư Hoàng Tụy gặp trực tiếp Thủ tướng Phan Văn Khải kiến nghị ba vấn đề cần chấn chỉnh: thi cử, dạy thêm học thêm, sách giáo khoa. Thủ tướng chuyển kiến nghị cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tất cả lại rơi vào im lặng.

Một nhà giáo trong nước từng cho rằng giáo dục phổ thông ở Việt Nam như ngôi nhà 12 tầng nhưng lại không có thiết kế tổng thể và không có tổng công trình sư, mỗi tầng giao cho mỗi nhóm xây một kiểu. Nội dung giáo dục trước đó rất lạc hậu. Đến khi đổi mới, chương trình lại nặng nề lên mà vẫn không thoát khỏi tình trạng thầy đọc trò chép. Học cao hơn nữa thì sao chép luận văn tốt nghiệp và đề tài nghiên cứu. Hãy đến các tiệm photocopy sẽ thấy đủ các loại “phao” của các môn học các cấp. Sách tham khảo thì đủ dạng bộ đề và giải bộ đề. Các quan chức đi học thì nhờ viết giúp bài thu hoạch để qua “cửa ải mùa thi”, đem bằng cấp về xong là… trả chữ cho thầy!

Trong nhiều thay đổi diễn ra ngổn ngang, có một vấn đề nguyên tắc không đổi, đó là bồi dưỡng và củng cố ý thức hệ cộng sản. Đến 1998, nhà nước vẫn tiếp tục xác định: “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân… lấy chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. Khác với kinh tế, hậu quả của thực trạng giáo dục yếu kém không sớm được nhận thấy ngay mà thường bộc lộ hàng chục năm sau, khi tác động tiêu cực của nó thể hiện ra nhiều lĩnh vực xã hội. Đọc lại lời ghi trên văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám năm 1484 thuộc thời Lê: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp” để thấy “nguyên khí” lúc này đã bị hút cạn như thế nào!

Về pháp luật, trong thời gian diễn ra đổi mới, có một vụ án rất lớn nhưng nay vẫn còn nằm trong im lặng. Tổng cục 2 là cơ quan đặc trách tình báo của quân đội, từ 2004 trở thành cơ quan xuyên quyền lực dưới sự lãnh đạo của Lê Đức Anh. Cũng vào lúc này, Tổng cục 2 bắt đầu hé lộ những thông tin vu khống mà mục tiêu nhằm thâu tóm quyền lực, chia rẽ trong Bộ Chính trị. Vào Đại hội VII của Đảng năm 1991, Tổng cục 2 dưới sự chỉ đạo của các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Chí Vịnh… đã bố trí một số đảng viên lâu năm từ miền Nam ra tố cáo nhóm tướng quân đội mà đứng đầu là nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp bè phái tham quyền, chuẩn bị lật đổ Bộ Chính trị nhằm giành chức vụ Tổng Bí thư và đưa Thượng tướng Trần Văn Trà lên đứng đầu Bộ Quốc phòng. Chưa hết, Nguyễn Chí Vịnh lãnh đạo Tổng cục 2 lại đưa tin rằng có một tình báo cộng sản được cài vào CIA báo cáo về danh sách những lãnh đạo cộng tác với CIA: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Nguyễn Văn An, Võ Thị Thắng… Mục đích là nhóm bảo thủ bôi nhọ các lãnh đạo này, qua đó cấu kết nhờ Trung Quốc can thiệp dập tắt triệt để những tư tưởng thông thoáng cải cách, quay lại thủ cựu và đặt mối quan hệ phụ thuộc vào Bắc Kinh để tồn tại và bảo vệ riêng quyền lợi phe nhóm.

Nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã yêu cầu xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh vụ án mà ông gọi là “phá hoại Đảng một cách có hệ thống”. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, người được Bộ Chính trị phân công bảo vệ chính trị nội bộ, còn cho biết hàng loạt tội phạm khác của Tổng cục 2: thu thập tài liệu theo dõi và đưa lên mạng internet bôi nhọ lãnh đạo cao cấp với động cơ bè phái, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài, tự đặt parabol thu tiền bất hợp pháp, gian lận thuế giá trị gia tăng… Thiếu tin tưởng trầm trọng xuất phát từ việc Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng…”. Nhiều tướng lĩnh cấp cao trong quân đội như: Phạm Văn Xô, Chu Huy Mân, Lê Ngọc Hiền, Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp, Đồng Văn Cống, Nguyễn Hòa… cũng yêu cầu phải xem xét vụ án.

Trước Đại hội X, ông Nông Đức Mạnh được giao nhiệm vụ đứng đầu điều tra làm sáng tỏ mọi vấn đề. Nhằm tránh mất uy tín và đổ vỡ khi đại hội đã gần kề, vụ án tạm khép lại. Những đơn thư và đề nghị, nhất là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã không được trả lời, khác nào vua Trần Dụ Tông không thèm đếm xỉa đến “thất trảm sớ” Chu Văn An dâng lên đề nghị chém bảy tên gian thần xưa kia! Chỉ riêng sự kiện này cũng đã cho thấy mặt trái của việc cố tình giới hạn công cuộc đổi mới mà Đảng Cộng sản vẫn tự nhận là lực lượng tiên phong khởi xướng và thực hiện thành công.

Biểu tình từ Thái Bình đến Tây Nguyên

Vụ biểu tình ở Thái Bình diễn ra vào tháng 4-1997. Hàng ngàn nông dân Quỳnh Phụ đã tham gia cuộc đi bộ ôn hòa, có hàng ngũ và kỷ luật chặt chẽ, dưới sự hướng dẫn của những cán bộ, đảng viên về hưu. Họ đề nghị phải lập lại công bằng, xét xử các quan tham nhũng. Tháng sau, hơn 2.000 người dân tại đây tiếp tục tổ chức cuộc tuần hành bằng xe đạp về trung tâm tỉnh, giương cao khẩu hiệu chống tham nhũng và đòi trả tự do cho hai người trong đoàn biểu tình bị bắt. Cảnh sát được điều động chặn đường, dùng vòi rồng, dùi cui, lựu đạn cay đàn áp. Đoàn biểu tình đã tấn công lại lực lượng trấn áp, trở về kêu gọi chiếm đóng các cơ quan, trụ sở đảng và chính quyền tại các địa phương.

Sáng sớm 27-6, người dân xã An Ninh (Quỳnh Phụ) chiếm trụ sở xã. Cây cảnh, tranh ảnh, bàn ghế, tủ kính… thuộc loại đắt tiền trang bị trong trụ sở bị đập phá. Nhiều nhà riêng của lãnh đạo đảng, chính quyền, hợp tác xã… bị đốt cháy. Những người tham gia cho rằng tài sản ấy là do vơ vét tham nhũng mà có. Tại các xã Thái Thịnh, Thái Tân và Mỹ Lộc (Thái Thụy), hàng ngàn người kéo tới trụ sở ủy ban nhân dân xã chất vấn và kết tội lãnh đạo xã, đập phá trụ sở và nhà cửa, tịch thu tài sản. Những cán bộ đứng đầu bỏ trốn. Cuộc biểu tình lan rộng ra 5/7 huyện trong tỉnh: Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng, Thái Thụy. Ngay sau đó, hàng ngàn công an đặc nhiệm được điều đến xử lý các “điểm nóng”, hơn 100 người đứng đầu bị bắt. Bốn tháng sau, báo Nhân dân đưa tin 128 làng ở tỉnh Thái Bình phản đối việc chính quyền địa phương thu quá nhiều thuế, biển thủ công quỹ, thiếu trách nhiệm công khai và cho rằng sự việc sẽ không xảy ra đáng tiếc nếu biết cách thu xếp từ đầu.

Bức xúc của người dân Thái Bình xuất phát từ việc chính quyền gian lận, bưng bít trong phân chia ruộng, bắt nông dân đóng hàng chục loại thuế và lệ phí xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng thu – chi không những thiếu chủ trương mà còn không minh bạch sổ sách. Viện Xã hội học trong báo cáo năm 1997 xác định nguyên nhân cơ bản: sức dân bị khai thác quá mức, cơ chế quản lý tạo điều kiện cho tham nhũng và lạm quyền trầm trọng, dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng và kéo dài… Sự biến chất, tha hóa, phản bội lợi ích giai cấp của các cán bộ đảng viên ở đây đến mức tột cùng, tổ chức Đảng cơ sở đã trở thành đối tượng sống bám ký sinh mà nhân dân cần phải tiêu diệt.

Vụ biểu tình ở Tây Nguyên diễn ra sáng 10-4-2004. Hàng chục ngàn người dân tộc thiểu số ở 39 xã thuộc các vùng Đăk Lăc, Gia Lai, Đăk Nông… dùng hàng trăm xe máy cày và rất nhiều xe gắn máy hai bánh kéo đến các trung tâm huyện và tỉnh. Tại Đăk Lăc, hàng nghìn người Ê Đê từ các buôn làng tràn ra quốc lộ 14, quốc lộ 27, tỉnh lộ 8 rồi chia thành bốn đoàn kéo vào thành phố Buôn Mê Thuột. Khi còn cách thành phố 2 km, đoàn người bị lực lượng công an chặn lại và trấn áp. Tại Gia Lai, khối đông từ Ayun Pa, Chư Sê, Đăk Đoa, Đức Cơ, Chư P’rông và thành phố Pleiku… tập trung đến các trụ sở làm việc cấp xã và huyện.

Tại quốc lộ 27, hàng chục người dân tộc bị chết bởi lực lượng công an và quân đội mặc thường phục lẫn vào đám đông đã tàn sát. Nhiều nơi khác, cả hai phía đều có người bị trọng thương. Tiếng la hét, tiếng súng, hơi cay lựu đạn, còi hụ, xe công an, máy bay trực thăng, những kẻ nhân cơ hội hôi của… Một số thanh niên người Kinh thiếu hiểu biết cũng bị kích động, trở thành lực lượng bắt tay với công an trấn áp, dùng gậy, đá, tấn công người dân tộc. Những thanh niên này không hề nhận thức được rằng hành động vào cuộc mù quáng của mình có thể dẫn đến xung đột sắc tộc, gây bất ổn về tính cố kết dân tộc trong tổ quốc.

Cuộc biểu tình còn diễn ra một số nơi sau đó. Tháng 9-2007, hơn 1.000 giáo dân làng Kon Hdrom tham dự buổi lễ rước Ðức Mẹ, bị công an đàn áp giải tán. Sáu người bị bắt giam. Tháng 4-2008, hơn 300 người Giarai ở Lgia tô (Chư Sê) biểu tình đòi thả những người đồng bào bị bắt, trả lại đất đai tài sản bị tịch thu và tự do tôn giáo. Quân đội và công an tiếp tục đàn áp. Nhiều người bị thương, thêm 5 người bị bắt. Tính từ năm 2001 đến 2008, chính quyền cộng sản đã bắt giam khoảng 350 người dân tộc ở Tây Nguyên đứng đầu các vụ biểu tình, phần đông đến nay chưa được tự do. Vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên vẫn tiềm chứa nhiều bất ổn đối với thể chế cộng sản.

Ứng xử cơ bản từ phía chính quyền vẫn là điều động lực lượng vũ trang từ các tỉnh khác đến trấn áp, tìm diệt hay bắt giam những người dẫn đầu. Để đi đến kết thúc xung đột, không có một cơ quan trung gian đứng ra dàn xếp đàm phán. Khi sự việc xảy ra, nhiều hãng tin và phóng viên báo chí nước ngoài bị ngăn chặn từ xa, không cho vào Tây Nguyên với lý do chính quyền không thể đảm bảo an ninh. Trong khi đó, báo chí trong nước một thời gian sau mới cho đăng bài phê phán các hãng tin xuyên tạc và dựng chuyện, đổ tội do “lực lượng Fulro chưa hết gốc” cũng như “các thế lực phản động người Việt ở nước ngoài” kích động. Điều này lặp lại như vụ Thái Bình năm 1997. Một cư dân mạng đã đặt câu hỏi: phải chăng đây là tự do báo chí theo khái niệm của Chính phủ Việt Nam?

Người Tây Nguyên sản xuất theo lối du canh nhưng định cư. Họ phát rừng làm rẫy, khi đất hết màu mỡ thì sang rừng khác, chờ cho rẫy cũ tái sinh mới quay lại. Với họ, về kinh tế rừng rẫy quan trọng như người Kinh với ruộng lúa nước, về tâm linh còn có những khu rừng thiêng nơi chôn cất ông bà. Mặt khác, nếu bản làng của người Tây Nguyên cố định, thì nương rẫy sản xuất cách xa làng cũng là nơi dự trữ nông sản. Khi những nông trường quốc doanh ra đời, nương rẫy của người dân tộc bị lấn chiếm. Về sau, thêm chính sách kinh tế mới và cả di dân tự do từ các tỉnh thành phía Bắc vào Tây Nguyên đã sinh ra nhiều tệ nạn xã hội, không ít người do tham lam đã lợi dụng lừa dối người dân tộc. Trong cuộc biểu tình ở Thái Bình, nhiều quan tham bỏ chạy vào Tây Nguyên, tiếp tục mua cướp đất. Rừng núi Tây Nguyên còn là nơi đến của nhiều dạng tội phạm bị truy nã. Các chòi kho nông sản ở rẫy bị mất cắp. Cả những người Kinh chăm chỉ làm ăn và tôn trọng pháp luật cũng rơi vào thảm cảnh này. Trong khi đó, chính quyền không đủ sức quản lý và chấn chỉnh kịp thời, tệ nạn liên tiếp trong thời gian dài khiến người Tây Nguyên thêm phẫn uất.

Cho nên, nguyên nhân cơ bản và bao trùm vẫn là trong nhiều năm liền, chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số chỉ là chủ trương trên giấy. Trên thực tế, họ bị đẩy vào rừng sâu trong khi cha ông họ chính là chủ nhân của vùng cao nguyên rộng lớn từ ngàn đời. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt đã từng nhận rằng: “Đường lối, chủ trương, chính sách phát triển khu vực Tây Nguyên của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, tuy nhiên khi thực hiện vẫn còn không ít bất cập”.

Hai vụ biểu tình ở hai đầu đất nước, do hai đối tượng khác nhau thực hiện, nhưng cùng phản ánh chung quy luật muôn đời: tức nước vỡ bờ. Nếu vụ biểu tình ở Tây Nguyên bị quy chủ yếu do bên ngoài kích động thì vụ ở Thái Bình hoàn toàn do các cán bộ đảng viên liêm khiết vì dân đứng ra lãnh đạo. Cách giải quyết bằng bạo lực trấn áp trong cả hai vụ biểu tình đều sai lầm như nhau. Có người cho rằng sai lầm càng liên tiếp khi chính quyền tuyên bố “sửa sai” bằng cách tăng cường thực hiện quy chế dân chủ, lập ra thanh tra nhân dân để giám sát cơ sở. Tuy nhiên, tất cả đều là đảng viên và là tổ chức của Đảng, ngoài ra không có lực lượng nào khác thật sự là bộ tham mưu từ dân, do dân đề chọn. Hơn cả sai lầm liên tiếp, điều đó cho thấy một sửa sai hình thức và che đậy sai lầm, để tiếp tục mục tiêu độc quyền cai trị.

“Đảng cử – Dân bầu”

Có thể nói ở bất kỳ cuộc bầu cử lớn nhỏ từ khu phố xóm ấp đến nội bộ cơ quan đơn vị, từ bầu cử trong tổ chức đảng, nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội đến ban thanh tra nhân dân, đại diện tổ chức công đoàn… đều có chung cách bầu cử này. Ngay từ khi “phôi thai” chọn nhân sự, lãnh đạo tại các đơn vị cơ sở đã giới thiệu ứng cử viên, thông qua mặt trận và các đoàn thể công bố danh sách, tiểu sử và hiệp thương. Nhìn danh sách là biết ngay một trong hai hình thức diễn ra: “bầu tròn” (số ứng cử viên ngang bằng số lượng cần bình chọn, nghĩa là có bao nhiêu lấy bấy nhiêu) hay “bầu dài” (cơ cấu dư ứng cử viên theo hình thức có người tình nguyện hy sinh “lót đường” để gạch bỏ). Ở khâu đầu tiên quan trọng nhất, quần chúng đã không có sự lựa chọn và đề bạt nhân sự nào đại diện cho hội nhóm và quyền lợi chính đáng về phía mình.

Nhưng để che giấu vi phạm trầm trọng này, trong hội nghị hiệp thương, người điều khiển sau khi giới thiệu danh sách “Đảng cử”, bèn hỏi trước hội nghị: “Có ai đề cử ứng cử viên khác không?”, đồng thời đảo quanh chưa đầy năm phút đã kết luận: “Không có ai”. Người điều khiển hỏi tiếp: “Có ai tự ứng cử không?” Lại cũng kết luận sau chưa đầy năm phút. Thế là hội nghị “chốt” danh sách chính thức để bầu cử. Những người được triệu tập đến dự hội nghị hầu hết là cán bộ đảng viên, nếu bầu cử rộng rãi toàn dân thì người dân cũng đã bị “hẫng chân” ở đời sống dân chủ cơ sở, làm sao có đủ chuẩn bị để đề cử đại diện và đưa ra chương trình hành động? Tổng cộng lại, trong vòng chưa đầy mười phút hỏi và tự kết luận, hình thức dân chủ giả tạo được dựng lên thay vào chỗ dân chủ thật sự bị loại trừ trước đó.

Ở những vòng bầu cử hẹp hơn như bầu ra ban đại diện, ban thường vụ, bộ phận thường trực hay chức vụ đứng đầu… thường chỉ trong nội bộ “bầu tròn” bằng hình thức giơ tay, có sự tham gia chỉ đạo của đại diện cấp ủy Đảng đến dự chứng kiến mà thật ra cũng để “dằn mặt” những ý kiến khác. Do vậy, chức vụ chủ chốt càng không thể nằm ngoài cơ cấu dự kiến. Cũng có trường hợp “đấu đá” nội bộ, nhân sự chủ chốt “Đảng cử” bị “bật mí” trước nên một số phe nhóm khác ngầm vận động gạch cho “rơi” ngay từ vòng đầu. Lại có trường hợp nhân sự chủ chốt đạt tỉ lệ phiếu thấp nhất trong số những ứng cử viên ở vòng bầu cử mở rộng, nhưng vào vòng trong vẫn được đại diện của Đảng chỉ đạo phải “tín nhiệm” và do đó vẫn trở thành người đứng đầu.

Thế là bộ máy nhân sự ra đời, người cầm tờ phiếu thấy ứng cử viên mà mình tín nhiệm hoàn toàn xa lạ, càng không biết tài đức như thế nào. Chương trình hoạt động trong cả nhiệm kỳ thì đã theo sự chỉ đạo của Đảng. Về nhân sự Đảng đã nắm giữ thì cho dù hàng trăm khẩu hiệu và việc bàn luận “dân chủ tập trung – tập trung dân chủ” cũng chỉ còn là trò đánh đố đối với nhân dân. Trong suốt cả quy trình nêu trên, người ta chỉ có thể thấy được dân chủ ở hai câu hỏi mà kết quả chắc chắn biết trả lời là “không”, chỉ chưa đầy mười phút. Đảng Cộng sản đã luôn bằng mọi giá nắm lấy quyền lực điều hành cao nhất ở mọi cơ quan, công sở, tổ chức nhân dân và các đoàn thể… Dân làm chủ ở đâu và lúc nào chưa thấy, mà thấy ngay ở khâu đầu tiên của các cuộc bầu cử kiểu này, Đảng đã hoàn toàn giành quyền làm chủ.

Việc lựa chọn chủ yếu đảng viên đưa ra ứng cử các cấp đã tạo ra tập đoàn cai trị độc quyền, những người bên ngoài bộ phận thường trực và xã hội rộng lớn chịu sự quyết định của một nhóm chop bu. Về nguyên tắc, quyền lực từ lớn đến nhỏ xếp theo trình tự: ban chấp hành – ban thường vụ – bộ phận thường trực. Nhưng trên thực quyền thì hoàn toàn ngược lại, thậm chí bộ phận thường trực cuối cùng tập trung vào một cá nhân chuyên chế. Người có năng lực không được lãnh đạo biết đến hay ngay thẳng không luồn cúi sẽ không được chọn, người không đủ tài đức lại có thể được chọn do lãnh đạo duy tình và cảm tính khi đánh giá. Cũng lúc này, ứng cử viên phải mặc chiếc áo phẩm chất giả tạo trong mọi quan hệ và cư xử, thay vì đưa ra chương trình hành động và cam kết thực hiện như bầu cử tự do. Sau bầu cử, liên minh trao đổi lợi ích tay đôi giữa ban ơn và chịu ơn hình thành. Cũng từ cách bầu cử độc quyền trên mà xã hội có hiện tượng đi cửa sau, chạy chức chạy quyền, sức mạnh và uy tín tổ chức bị đánh mất trong niềm tin của toàn dân.

Trong Lenin toàn tập (tập 22), nhà lý luận cách mạng Nga đã chỉ ra: “Chỉ có thể gọi cuộc bầu cử là dân chủ khi nào nó là phổ thông, trực tiếp và bình đẳng. Chỉ có những ủy ban nào do toàn dân bầu ra trên cơ sở quyền phổ thông đầu phiếu mới là những ủy ban dân chủ”. Soi lý luận ấy vào cách bầu cử trên, chắc chắn không còn đảm bảo bình đẳng, phổ thông. Giữa lý luận và thực hiện quả là ngược nhau khó hiểu. Nếu Đảng thật sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì cần gì phải đánh tráo, khuynh loát, áp đặt “Đảng cử – Dân bầu” kéo dài không những trước đây, đến thời kỳ này, mà còn xuyên suốt các giai đoạn lãnh đạo về sau?

Rõ ràng quá trình đổi mới chưa đến toàn diện đã bị những tư tưởng bảo thủ chặn lại, thâu tóm thành quả, hạn chế mức độ nhằm tiếp tục củng cố vai trò và địa vị trên đỉnh cao quyền lực. Chỉ bằng cách đó, bảo thủ mới có thể còn đất đứng.

Tôn giáo trong chế độ XHCN

 

Trong quá trình lịch sử đất nước, mặc dù không có quốc giáo nhưng nhiều tôn giáo chung sống hòa bình, lcác nước đánh giá Việt Nam là “Bảo tàng của tôn giáo trên thế giới”. Tôn giáo có thể tham gia xây dựng đất nước hay đấu tranh chống cái ác bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng chưa từng xảy ra mâu thuẫn giữa các tôn giáo với nhau hay giữa những người theo đạo và không theo đạo. Giữ được hòa khí đó là cả quá trình hình thành đạo làm người bao hàm lên tất cả, rất nhân văn Việt Nam. Gần đây, còn có một số nhóm tôn giáo mới xuất hiện như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân hiếu nghĩa, Tịnh độ Cư sĩ Phật Hội, Tổ tiên chính thống giáo, Bà-la-môn, các hệ phái Tin Lành… Dưới đây là những nét cơ bản về các tôn giáo có nhiều liên quan và ảnh hưởng đến đời sống chính trị xã hội của đất nước.

Các tôn giáo đến giai đoạn này

Phật giáo

Đã trải qua bảy thời kỳ phát triển: thời Hậu Lý đến Tiền Lê đến năm 1009; thời Lý – Trần đến khoảng năm 1400 Phật giáo phát triển mạnh mẽ, có nhiều đóng góp trong lịch sử và văn hóa dân tộc; thời nhà Hồ – nhà Nguyễn đến 1920; thời kỳ “Chấn hưng Phật giáo” đến 1954; thời kỳ chia tách theo hai miền đến 1963; thời kỳ phong trào Phật giáo đấu tranh ở miền Nam chống lại chế độ Ngô Đình Diệm đến 1975; từ 1975 đến nay có sự sự kiện ra đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam nằm trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từng có mặt qua nhiều thời kỳ lịch sử lại bị chủ trương tôn giáo XHCN loại bỏ. Bất chấp bị giải tán và đàn áp, Giáo hội này đã tiến hành phục hoạt. Cả hai phái Giáo hội làm chính trị và Giáo hội tự do song song hành đạo. Phật giáo cả nước có khoảng 10 triệu tín đồ với gần 40.000 chức sắc và nhà tu hành.

Hồi giáo

Vào thế kỷ X, người Chămpa với tôn giáo bản địa là đạo Bà-la-môn. Đến thế kỷ XV, Nhà nước Chiêm Thành suy vong, một số lánh sang Campuchia, số còn lại tiếp xúc với đạo Hồi do người Mã Lai mang đến, do đó Bà-la-môn đã cải sang đạo Hồi. Ở Ninh Thuận và Bình Thuận, dòng đạo Hồi thuộc Chăm Bà-ni giữ được nhiều nét truyền thống Bà-la-môn do đây là vùng đất kinh đô Chămpa xưa. Càng vào Nam (Sài Gòn, Châu Đốc, Tây Ninh, Đồng Nai), dòng đạo Hồi thuộc Chăm Ixlam chịu xâm nhập đậm nét, ảnh hưởng mạnh hơn từ Mã Lai và còn giữ được nhiều giá trị chính thống. Quy định chung trong đạo Hồi là cầu kinh Koran, thờ linh vật, trang phục có khăn chít trên đầu, kiêng ăn thịt heo. Tín đồ Hồi giáo ở Việt Nam không tổ chức hành hương về Thánh địa Mec-ca hàng năm, chỉ đọc kinh 1 lần/tuần so với quy định 5 lần/ngày. Qua các cuộc chiến tranh, Hồi giáo ở Việt Nam có nhiều biến động mạnh. Hồi giáo có khoảng 70.000 tín đồ với gần 700 vị chức sắc.

Công giáo

Đây là tôn giáo có vị trí quan trọng trong các giá trị văn hóa tinh thần phương Tây. Cùng với các chuyến thám hiểm tìm vùng đất mới và mở rộng CNTB sang châu Á cuối thế kỷ XV, Giáo hội Công giáo Rôma cũng “Mở mang nước Chúa” đến Việt Nam. Trong giai đoạn này, Phật giáo và Nho giáo tuy vẫn giữ vai trò chính nhưng đã bị chi phối sức thu hút. Khi Công giáo xuất hiện, đồng thời ở giai đoạn đầu các giáo sĩ truyền đạo còn chưa bị nhà Nguyễn cấm đoán, rất nhiều người Việt cải sang đạo này. Cơ sở thờ tự đầu tiên xây dựng ở Hải Hậu (Nam Định). Sau 1954, Công giáo phía Bắc “Theo Chúa vào Nam”, được Chính phủ Ngô Đình Diệm ưu tiên nhiều điều kiện. Sau năm 1975, Công giáo ở miền Nam có nhiều biến động. Cũng như các tôn giáo khác, đến 1980 Hội đồng Giám mục do nhà nước thành lập đã đưa Công giáo vào quỹ đạo quản lý của chính trị. Công giáo có khoảng 6 triệu tín đồ ở 25 giáo phận và trên 2.000 giáo xứ, có trên 15.000 hồng y, giám mục, linh mục, có 6 đại chủng viện và trên 6.000 nhà thờ nhà nguyện.

Tin Lành

Vào năm 1911, Tổ chức Tin lành Liên hợp Phúc âm và Truyền giáo CMA do tiến sĩ Simpson sáng lập đã đưa đạo Tin Lành từ Trung Quốc vào Việt Nam, truyền đạo ở các vùng nhượng địa của Pháp. Năm 1920, Tin Lành được truyền đạo trong cả nước. Tin Lành có cùng giáo lý với Công giáo, nhưng chỉ thờ Chúa Giê-su như một Đấng cứu thế mà không thờ các hình tượng khác và hầu hết tập trung vào đức tin nhiều hơn là việc hành lễ. Cơ sở lớn nhất tại Đà Nẵng với đại hội đầu tiên tổ chức năm 1924. Năm 1927, Đại hội lần thứ IV cũng tại Đà Nẵng bầu ra Ban trị sự Tổng Liên hội do Mục sư Hoàng Trọng Thưa làm hội trưởng. Năm 1931, Tin lành phát triển thành ba hạt ở ba miền. Năm 1954, giáo dân Tin Lành phía Bắc cũng di cư vào Nam, lập ra nhiều hội phái khác nhau, được sự quan tâm của chính quyền. Sau 1975, Tin Lành gần như bị cấm hoạt động, đến sau thời kỳ đổi mới mới phục hoạt lại một số hệ phái trong sự cho phép và quản lý của nhà nước. Tin Lành có trên 1 triệu tín đồ với gần 500 mục sư ở 41 tỉnh thành.

Cao Đài

Ra đời chính thức vào đêm Noel năm 1924 qua một truyền thuyết do tiên ông mách bảo thành lập, có tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam kỳ phổ độ. Đạo Cao Đài tôn thờ ba đấng tối cao là Đức Phật, Đức Giê-su và Đức Cao Đài. Các ông Ngô Minh Chiêu, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung là những người có công đầu. Hai năm sau khi thành lập, Cao Đài có trên 10.000 tín đồ, đến 1930 đã tăng lên nửa triệu. Vào ngày 7-10-1926 tại chùa Từ Lâm (gần Tây Ninh), Cao Đài chính thức tuyên bố thành lập sau khi được Thống đốc Nam Kỳ phê chuẩn, ông Lê Văn Trung được tôn là Đức Giáo tông. Đạo Cao Đài chú trọng các giá trị biểu trưng truyền thống, trong đó hình tượng con mắt được tôn là hình thiêng “nhãn thị chủ tâm”. Cao Đài chủ trương dung nạp và tôn thờ tất cả những giá trị tốt đẹp ở con người, các đạo giáo, các nền chính trị, các vĩ nhân… Trong cuộc chiến tranh ở miền Nam, Cao Đài là tổ chức tôn giáo có nhiều biến động, tính đến trước 1975 đã có 20 tổ chức và hệ phái khác nhau. Cao Đài có 2,5 triệu tín đồ ở 37 tỉnh thành, gần 10.000 Cửu trùng Đài, Hiệp thiên Đài với phương châm hành đạo là “Nước vinh Đạo sáng”.

Hòa Hảo

Có nguồn gốc từ đạo Phật, do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo (Tân Châu, An Giang). Theo một truyền thuyết, ông được thọ mệnh các tiên phật xuống trần gian chấn hưng Phật giáo, được phong làm Giáo chủ. Tên của đạo là địa danh quê nhà người sáng lập, đồng thời cũng chủ tâm hướng đến giao hảo và hòa thuận. Phật giáo Hòa Hảo hướng đến từ bi, bác ái, đại đồng và tôn trọng thuyết nhân – quả và đề cao quan niệm “Phật tại tâm”. Hòa Hảo không dùng vàng bạc, giấy tiền, không phướng xá và tổ chức trai đàn, không sắm lễ linh đình mà chỉ cúng Phật bằng nước lạnh, nhang, hoa. Trước 1975, một bộ phận trong Hòa Hảo có quân đội và đảng phái, từng tham gia ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại và chống Ngô Đình Diệm. Sau 1975, Nhà nước cộng sản giải tán quân đội trong đạo, buộc nằm vào sự quản lý chung trong chính sách kiểm soát chặt chẽ tôn giáo. Hòa Hảo có 1,3 triệu tín đồ với trên 1.500 vị trong ban trị sự các cấp.

Các tôn giáo có nguồn gốc hình thành khác nhau, đến Việt Nam bằng nhiều ngả đường và thời điểm, được tiếp nhận với tinh thần ôn hòa xã hội. Từng có quan điểm bài xích, tiêu diệt tôn giáo một thời của triều Nguyễn đã thất bại, còn gây tội ác. Sau khi đất nước thống nhất, tất cả tôn giáo bị tập trung vào sự quản lý của Nhà nước Việt Nam, thực hiện chủ trương chung của đảng cầm quyền. Đó là bước chính trị hóa tôn giáo, tiến tới lâu dài cải tạo sâu rộng và triệt để toàn xã hội theo mục tiêu CNCS.

 

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Trước năm 1975 ở miền Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (dưới đây gọi tắt là Giáo hội) luôn chủ trương không tham gia chính trị, kêu gọi hòa bình cho dân tộc, phản đối chế độ Ngô Đình Diệm, đòi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam của cộng sản về lại phía Bắc hoạt động, phản đối tang thương Mậu Thân 1968. Giáo hội từng chịu nhiều đàn áp cuối thời Đệ nhất Cộng hòa, kéo dài cho đến khi Đệ nhị Cộng hòa chấm dứt (cũng thời gian này, Phật giáo chính thống vùng Bắc Trung bộ do Thượng tọa Thích Mật Thể, Tuệ Quang, Tuệ Chiếu… đứng đầu bị Nhà nước cộng sản phía Bắc tiêu diệt mất dấu).

Sau 1975, Nhà nước cộng sản thảm sát, bắt bớ, đày ải những giáo phẩm tại Viện Hóa đạo, tập trung cải tạo hàng trăm nghìn tăng tín đồ, trưng thu các cơ sở chùa chiền thiền viện. Phái Ấn Quang từng ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cũng bị loại bỏ. Cuối năm 1975, 12 phật tử và tăng ni tự thiêu tại chùa Dược Sư (Cần Thơ) phản đối những ràng buộc Phật giáo (tính cả sau này, có đến 22 ngọn đuốc sống tự thiêu của các tăng ni, cư sĩ Phật giáo thắp sáng cho niềm tin, chân lý tự do tôn giáo và nhân quyền).

Năm 1977, phật tử tăng ni Giáo hội đồng loạt xuống đường phản đối nhà nước trưng dụng Cô nhi viện Quách Thị Trang, lệnh đóng cửa Viện Đại học Vạn Hạnh và NXB Lá Bối. Khi Giáo hội gửi thư đến nhà nước đòi tự do thì nhiều vị sư như Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Thiện Minh bị bắt giam, các vị còn lại của Ban lãnh đạo Giáo hội bị quản thúc, trụ sở chính là chùa Ấn Quang bị đóng cửa, Giáo hội bị giải tán. Tháng 11-1981, Giáo hội Phật giáo do nhà nước lập ra và duy nhất được công nhận hợp pháp, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ (Hà Nội). Đây cũng là thành viên trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phương châm của Giáo hội Phật giáo này là: “Đạo pháp, Dân tộc, CNXH”. Ở đây, chúng ta lại thấy thêm một cái đuôi XHCN gắn vào tôn giáo, thể hiện rất rõ tôn giáo là tổ chức chính trị, làm chính trị cho Đảng. Trước thực tế Phật giáo bị lạm dụng, vào tháng 5-1993, một cuộc biểu tình rầm rộ của hàng chục ngàn phật tử Huế đòi hỏi tự do tôn giáo diễn ra. Giữa năm 1994, gần 400 tăng ni phật tử Giáo hội trong đợt tổ chức chuyến đi cứu trợ đồng bào bị lũ lụt ở miền Tây Nam bộ bị chính quyền lệnh bắt giam, vì hoạt động này không do Giáo hội nhà nước khởi xướng. Những hội phái tôn giáo chính thống và trung lập đều từng bước bị bóp chết. Quan điểm của Đảng đối với Giáo hội là do đã có đại diện tham gia vào Giáo hội Phật giáo do nhà nước lập ra nên không được phép tồn tại riêng. Nhưng Giáo hội đã có mặt ở miền Nam từ trước 1975, những đại diện không đồng ý tham gia vào tổ chức chính trị và làm chính trị, hiển nhiên có quyền tiếp tục duy trì tổ chức của mình trong khuôn khổ pháp luật. Việc bắt giam những vị tu hành cao niên đứng đầu đạo giáo là điều chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, không thể chấp nhận về mặt luật pháp lẫn lương tri con người trong thời đại ngày nay. Đảng và Nhà nước Việt Nam nghĩ gì trước những nhà tu hành đã biến thân thể mình thành ngọn lửa để phản đối chế độ cầm quyền?

Mặc dù bị đàn áp, Giáo hội vẫn kiên trì cho công cuộc đấu tranh vì tự do tôn giáo và dân tộc. Năm 2001, trong thông điệp đầu xuân, Giáo hội đã nêu ra ba nhận định, ba phương pháp đối trị và tám sách lược cứu nguy xã hội. Tám sách lược chỉ ra quá đầy đủ những yếu kém, khuất tất, phản tiến bộ trong kiến thiết và quản lý xã hội của thể chế cộng sản. Đáng ra, nội dung thông điệp phải được đưa vào cương lĩnh, văn kiện đại hội, chương trình hành động của chính phủ nhằm thể hiện tiếng nói, nguyện vọng và trách nhiệm của Phật giáo đối với xã hội. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Tóm lược nội dung thông điệp như sau:

Ba nhận định nêu rõ nguyên nhân thảm họa từ chính quyền: bất chấp ý kiến của người khác dẫn đến độc đảng chuyên quyền; ly khai dân, bỏ qua đòi hỏi nhân quyền và dân quyền dẫn đến độ độc tài ác liệt; lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn, đẩy dân tộc vào tròng ách nô lệ tinh thần và vật chất, làm suy thoái đạo đức và suy liệt quốc gia.

Ba phương pháp đối trị nêu rõ nội dung cần điều chỉnh: cần hình thành liên minh dân tộc gồm mọi khuynh hướng chính trị và tôn giáo làm nền tảng cho một chính quyền dân chủ đa nguyên; cần thực thi toàn vẹn những công ước quốc tế về nhân quyền, quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết, người dân được lập hội không qua Mặt trận Tổ quốc; cần tự do ngôn luận không thông qua lý luận hay tư duy toàn thống Marx-Lenin, tự do báo chí do tư nhân điều hành độc lập, tư do nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi người lao động.

Tám điểm sách lược cứu nguy đáng quan tâm như: xây dựng xã hội khoan dung, an lạc, đa nguyên, bình đẳng, không chủ chiến gây thù; xóa bỏ nạn lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực; bầu cử tự do chọn ra quốc hội thực sự đại diện quốc dân và hình thành nhà nuớc tam quyền phân lập; đóng cửa vĩnh viễn các trại tập trung cải tạo, trả tự do cho tất cả tù nhân, thỉnh mời nhân tài, chuyên viên, trí thức, học giả… bị cầm tù hoặc đang ở hải ngoại trở về kiến thiết đất nước; hủy bỏ quy định khống chế tôn giáo và quản chế hành chính; bảo đảm quyền tư hữu, tự do kinh doanh, tự do nghiệp đoàn, công nghiệp hóa canh tác và nâng cao đời sống nông dân, chấm dứt nền kinh tế chỉ huy theo định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế thị trường phù hợp với xã hội Việt Nam; xóa bỏ hố ngăn cách giàu nghèo tha hóa con người và phân liệt xã hội; tách rời chính trị khỏi quân đội, công an, mật vụ; đào tạo nhân tài phục hưng xứ sở và đào luyện thế hệ trẻ với tư duy mới, giải quyết nạn thiếu nhi suy dinh dưỡng và phòng bệnh ở nông thôn; phát huy nền văn hóa truyền thống với tinh thần khai phóng, sáng tạo và dung hóa cùng văn minh nhân loại, đề cao ba giá trị tinh thần Nhân – Trí – Dũng của tổ tiên; thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng tôn giáo, tôn trọng quyền tự trị và văn hóa dân tộc ít người; tôn trọng lãnh thổ láng giềng, hòa thân đối thoại và cộng tác bình đẳng các nước về kinh tế, văn hóa, tôn giáo, xã hội; phát huy tính nhân văn Ðông phương nhằm ngăn chặn thị trường biến người lao động thành nô công, hàng hóa; tạo điều kiện phát triển kinh tế, công nghiệp, thăng tiến xã hội theo kịp các quốc gia văn minh, tiên tiến, cường thịnh và dân chủ.

Nhà nước cần trung thực trả lời có hay không việc tịch thu tài sản của Giáo hội và khi bị đòi lại thì quy tội cho chủ sở hữu tài sản, quy tội Phật giáo lợi dụng tự do tôn giáo gây mất an ninh trật tự, chống phá chính quyền? Có hay không việc kết tội mà không cho công khai ý kiến của những hòa thượng bị bắt giam và bị hủy hoại sức khỏe đến chết, càng không có ý kiến của phật tử tăng ni hội được thông tin rộng rãi hay được đối thoại trực tiếp trước một diễn đàn? Đã có thì cho dù che giấu trở thành không cũng chỉ giai đoạn, đã không mà biến thành có cũng chỉ tạm thời. Quả của vấn đề phải là tồn tại có thật từ nhân của nó. Trong triết lý Phật giáo từng có một quan niệm và thái độ ứng xử rất đáng để suy ngẫm về sự trung thực của con người giữa có và không:

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Kìa xem bóng nguyệt dòng sông

Ai hay không – có, có – không làm gì…”

(Những nét Văn hóa của Đạo Phật – Thích Phụng Sơn)

Cũng trong giai đoạn này, nhiều vị sư đứng đầu Giáo hội đã dũng cảm hy sinh vì sự khẳng định chân lý. Hòa thượng Thích Quảng Độ tên thật là Đặng Phúc Tuệ, sinh năm 1928 tại Thái Bình. Năm 1954, ông di cư vào Nam. Năm 1965, ông được bầu làm Tổng thư ký Viện Hóa đạo. Tháng 4-1975, một nhà báo cho biết theo đề nghị từ Giáo hội, cơ quan phụ trách di tản của Hoa Kỳ yêu cầu lập danh sách các hòa thượng, chư tăng muốn ra đi. Nhưng vào giờ cuối, ông và đồng môn quyết định ở lại hướng dẫn phật tử bảo vệ Giáo hội cho dù đàn áp xảy ra. Ông đã lên tháp chuông chùa Ấn Quang, thỉnh nguyện và đốt danh sách di tản.

Không chấp nhận Giáo hội Phật giáo bị lợi dụng làm chính trị, ông đã kêu gọi phật tử biểu tình chống đối, và bị bắt giam từ năm 1977 đến 1982. Mười năm tiếp theo, ông bị đưa về quản thúc tại quê nhà Thái Bình. Năm 1992, ông vào miền Nam hoạt động công khai đòi tự do cho Phật giáo. Năm 1995, ông lại bị bắt giam với tội danh phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước. Ông ra tòa, bị phạt 5 năm tù giam kèm 5 năm quản chế. Dịp Quốc khánh 2-9-1998, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho ông. Tổng cộng, ông đã trải qua 25 năm tù vì kêu gọi tự do tôn giáo. Năm 1999, ông được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo do Giáo hội tự đứng ra phục hoạt, nhưng chính quyền không thừa nhận và cấm hoạt động.

Tháng 2-2001, ông công bố “Lời kêu gọi dân chủ cho Việt Nam” với chương trình tám điểm và chủ trương hình thành liên minh dân tộc. Lời kêu gọi có đoạn: “Đạo Phật cứu khổ muôn loài, giải phóng Con Người khỏi vô minh, khỏi sự sợ hãi và nô lệ, đưa Con Người vào vị thế trung tâm giữa trời đất để giải thoát khỏi tự thân và giải phóng tha nhân”. Ủy ban bảo vệ nhân quyền Việt Nam ở nước ngoài đã phát động hưởng ứng lời kêu gọi, trong ba tuần tiếp nhận hàng trăm ngàn chữ ký của người Việt trong và ngoài nước, các nhân sĩ trí thức, thượng nghị sĩ, dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu…

Tháng 4-2005, Hòa thượng đã gửi một thông điệp đến Ủy hội nhân quyền LHQ nhân dịp tổ chức khóa họp lần thứ 61 tại Genève. Trong đó, ông khẳng định quyết tâm theo đuổi cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, chấp nhận hy sinh vì công cuộc phục sinh công lý cho đạo và đời. Ông cho rằng đàn áp, bạo động và tù đày của nhà cầm quyền không thể dập tắt được tiếng nói của nhân dân, bởi vì “Ý dân là ý Trời. Từ đó, ông và toàn thể Giáo hội khẳng định quyết tâm: Chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh bất bạo động. Chúng tôi không ngừng đấu tranh cho đến ngày các ngưỡng vọng dân chủ được hình thành trên mảnh đất Việt Nam”.

Tháng 4-2006, Đại hội lần thứ IV Phong trào dân chủ thế giới họp tại Thổ Nhĩ Kỳ với hơn 600 đại biểu từ 125 quốc gia đã thống nhất trao giải thưởng mang tên “Dũng khí dân chủ” cho Hòa thượng Thích Quảng Độ và ông Hoàng Minh Chính. Qua vinh danh gương đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, đại hội tuyên bố: “Hai vị là đại biểu cho hai vị thế khác nhau trong phong trào dân chủ Việt Nam: một vị ngoài thế gian, một vị là tăng sĩ Phật giáo; một vị ở miền Bắc, một vị ở miền Nam; một vị là cựu cán bộ cao cấp của chế độ, một vị là giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đang bị cấm hoạt động”. Cuối năm này, Hòa thượng Thích Quảng Độ còn được bình chọn nhận Giải thưởng Thorolf Rafto tại Na Uy với nhận định: “Đoạt giải này, vì suốt ba mươi năm qua Hòa thượng dũng cảm và kiên trì chống đối ôn hòa chế độ cộng sản Việt Nam, và trở thành biểu tượng cho phong trào dân chủ đang bùng lên trên toàn quốc”. Để đề phòng bị nhà nuớc Việt Nam buộc không chấp nhận quay sau khi đi nhận giải, ông ủy thác cho đại diện Giáo hội ở hải ngoại nhận thay. Dịp này, người Việt khắp nơi cùng nhiều cá nhân và tổ chức nước ngoài rất kính nể ông và ủng hộ phong trào tự do dân chủ của Giáo hội như một lực lượng kiên trì trong nhiều năm liền.

Tháng 4-2008, trong điều kiện bị theo dõi nghiêm ngặt tại Thanh Minh Thiền viện, điện thoại và mọi liên lạc ra ngoài bị cắt, Hòa thượng vẫn gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế và Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam lời thu âm thông điệp kêu gọi đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền. Ông khẳng định Việt Nam ngày nay không có tự do, đạo hữu bị tù ngay tại quê hương, trong chùa viện và ngay cả trong nhà của mình. Chính quyền đang toàn quyền quyết định đối tượng nào được nói và không nói, được tự do và không tự do. Đó là chế độ mà ba mươi năm chiến tranh đã qua, lại phát động cuộc chiến mới ngăn cản hòa hợp dân tộc và nhân quyền. Hòa thượng khẳng định vì không chấp nhận chủ trương sai lầm đó nên Giáo hội đã “bị đàn áp một cách có hệ thống, bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, hàng giáo phẩm bị bắt bớ, Phật giáo đồ bị sách nhiễu”.

Cùng với Hòa thượng Quảng Độ, còn có Đức đệ tam Tăng thống Thích Đôn Hậu. Tháng 11-1978, ông yêu cầu quốc hội trả tự do cho tất cả các giáo phẩm bị bắt giam và kết tội, đồng thời đòi tòa án phải xét xử công an đã tra tấn làm chết cố Hòa thượng Thiện Minh. Năm 1982, ông khước từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam do ông chưa đồng ý tham gia mà họ tên đã thấy trong danh sách với cơ cấu chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám luật. Ông cũng viết thư gửi Hòa thượng Thích Trí Thủ, Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo nhà nước, phản đối việc chiếm đoạt trụ sở của Giáo hội tại chùa Ấn Quang. Bức thư có đoạn: “Ngay cả những vị lãnh đạo hữu danh trên đất nước này, trong đó có Hòa thượng, đều đã xuất thân từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mà được hiển đạt như hôm nay. Do đó dù bất cứ ai, có sự xúc phạm đến sự tồn vong của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thiết tưởng Hòa thượng cũng phải trực tiếp chịu phần trách nhiệm đối với Lịch sử, Dân tộc và Đạo pháp”. Trong những năm 1990, nhân danh Tăng thống trụ trì chùa Thiên Mụ, ông đã kêu gọi phật tử người Việt trên trong và ngoài nước phục hoạt Giáo hội dù không được công nhận.

Thượng tọa Thích Thiện Minh là tấm gương kiên trì đấu tranh. Năm 1979, lúc 26 tuổi ông đã nhận án chung thân do phản đối chính quyền thu hồi đất và san phẳng ngôi chùa ông đang trụ trì tại Bạc Liêu. Lấy lý do thu đất làm công viên, Nhà nước cộng sản đã bắt giam người tu hành và triệt phá cơ sở thờ tự của Giáo hội. Bản án kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền” đã tự tố cáo điều đó. Năm 1986, ông lãnh án chung thân thứ hai do vượt ngục. Năm 1995, ông vận động 200 tù nhân cùng bị giam tại Xuân Lộc ký bản thỉnh nguyện dân chủ nhân quyền, gửi Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam ở nước ngoài. Lập tức, sự kiện được công bố trước Ủy ban Nhân quyền LHQ ở Genève, buộc nhà nước phải thay quản lý trại và cải thiện chế độ giam cầm. Cuối năm 1997, Ủy ban Nhân quyền LHQ biểu dương ông là tấm gương đấu tranh vì tự do dân chủ. Năm 2005, ở tuổi 52, ông được trả tự do, là vị sư bị giam cầm dài nhất: 26 năm liền. Dù vậy, ông vẫn không mệt mỏi, cùng một số cựu tù lập ra Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam hoạt động từ năm 2006 đến nay.

Hòa thượng Thích Huyền Quang tiếp nhiệm Đức đệ tam Tăng thống Thích Đôn Hậu năm 1991. Tháng 11-1993, ông công bố “Tuyên cáo giải trừ quốc nạn và pháp nạn” với nội dung 12 điểm đề cập tình hình cả nước và 9 biện pháp trị liệu, trong đó đề nghị bỏ điều 4 Hiến pháp 1992, mọi thành phần dân tộc có quyền tự do ứng cử và bầu cử dưới quyền giám sát của LHQ để hình thành quốc hội thật sự đại diện toàn dân. Vào năm 2000, ông viết thư đề nghị Đảng và nhà nước Việt Nam lấy ngày 30-4 làm “Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc”. Tháng 4-2003, Thủ tướng Phan Văn Khải gặp Hòa thượng Thích Huyền Quang tại Hà Nội, tiếp nhận yêu cầu phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý và trả lại tài sản của Giáo hội Phật giáo bị cưỡng đoạt, trong đó có Đại học Vạn Hạnh. Nhà nước cộng sản đã đón nghe, nhưng hãy nhìn điều họ làm gần cuối năm đó: Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ và chín vị giáo phẩm trên đường trở về Sài Gòn sau khi tham dự Đại hội Phật giáo tại Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), đã bị công an chặn đường bắt giam! Những năm cuối đời trụ trì tại tu viện Nguyên Thiều, ông vẫn kêu gọi tự do tôn giáo. Ông tự đánh giá cuộc đời của mình trong chế độ cộng sản: “Tôi là người sống không nhà, đi không đường, chết không mồ, tù không tội”.

Tất cả những sự kiện và diễn biến trên là hoàn toàn sự thật, bị màn tối của đố kỵ che giấu và vu khống dối trá nhằm triệt diệt những tôn giáo miễn nhiễm chính trị liên tiếp trong thời gian dài. Nhưng cũng từ bóng tối tội ác, những “Trái tim của Bụt” vẫn sáng rực soi cho con người hướng tới chân lý bất diệt của tự do và thánh thiện.

Phản ánh xã hội qua văn học nghệ thuật

Từ tiếng nói của nhân dân đến các văn nghệ sĩ

Trước đổi mới, sách báo trong nước bị tuyên giáo các cấp kiểm duyệt gắt gao, không một tác phẩm nào phản ánh thực trạng xã hội. Các phương tiện thông tin đại chúng chỉ đăng tải phát biểu của lãnh đạo, chủ trương của Đảng Cộng sản, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đề cao lãnh tụ… Ở đâu và lúc nào cũng thấy khí thế và tính chất ưu việt của chế độ XHCN. Sau khi vượt qua giai đoạn khủng hoảng, những biếm họa và nhiều bài phản ánh hiện thực, những phát biểu nhìn nhận sai lầm từ chính lãnh đạo… bắt đầu được đăng công khai, nhưng vẫn trong tình trạng có kiểm soát.

Mặt khác, việc đăng tải lại các ý kiến phê phán như chuyện đã rồi, chủ yếu vẫn tập trung ca ngợi nhằm làm nổi bật vai trò và khả năng lãnh đạo của Đảng đưa đất nước và dân tộc vượt qua cơn khoảng hoảng trầm trọng, khẳng định một cách gian lận tranh công tính đúng đắn của đường lối đổi mới. Nhưng đó là cách nghĩ của Đảng, còn nhân dân và nhiều người yêu nước chân chính đã nghĩ gì qua những tác phẩm của mình?

Cũng như suốt thời kỳ phong kiến ngàn năm, nhân dân rất thông minh và trực diện phản ánh bằng ca dao, châm ngôn truyền khẩu. Nhiều câu rất chua cay, xót xa, mỉa mai tài phá hoại và nói một đường làm một nẻo của Đảng. Dưới cách nhìn của nhân dân, Đảng hô hào mỗi người làm việc bằng hai bằng ba không phải cho chế độ XHCN mà chỉ để cho cán bộ đảng viên giàu có riêng mình. XHCN được dịch là: xếp hàng cả ngày, đúng với cơ chế ban ơn, xin cho từ hợp tác xã nông nghiệp đến các cửa hàng bách hóa. Khi mất mùa thì đổ tại thiên tai, nhưng được mùa lại giành công do Đảng lãnh đạo. Có những câu ca dao nêu nghịch lý giữa cán bộ là đầy tớ nhưng cái gì cũng có và nhân dân làm chủ nhưng cái gì cũng thiếu, phải đi trình đơn thì đầy tớ mới nghiên cứu cấp cho. Những đại tá, trung tá quân đội oanh liệt chiến trường một thời ngực đỏ huy chương, bấy giờ phải ra vỉa hè vá xe bán nước kiếm sống. Đến như nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà cũng bị chuyển sang phụ trách công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình – nghịch lý không còn chỗ nói! Những dạng thơ như Bút Tre cũng có nhiều câu châm biếm chua chát.

Không ít nhà văn nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động xã hội là đảng viên cộng sản đã dũng cảm nói lên sự thật. Nguyễn Hộ viết “Quan điểm và cuộc sống”, Trần Quang Cơ với “Hồi ức và suy nghĩ”. Có những tác phẩm đã viết xong nhưng không được xuất bản trong nước, phải tìm cách xuất bản ở nước ngoài như “Hoa xuyên tuyết” của Bùi Tín, “Giọt nước mắt trong biển cả” của Hoàng Văn Hoan, “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, “Mạt lộ” “Lạc đường” của Đào Hiếu. Nguyễn Khải với tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” là tiếng nói tâm huyết, vỡ òa những phát hiện bị che giấu và lừa dối, nhận chân sự thật thông qua những quy luật muôn đời. Dương Thu Hương là tác giả của hàng loạt tác phẩm đề cập những mảng tối lẩn khuất trong xã hội cộng sản: Những thiên đường mù, Bên kia bờ ảo vọng, Khải hoàn môn, Chốn vắng…. Bà cũng từng bị giam giữ và bị đe dọa sẽ “nghiền nát như tương” nếu tiếp tục nói lên sự thật.

Năm 1989, nhà văn Trần Mạnh Hảo bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản do viết tác phẩm “Ly thân” đoạn tuyệt lý tưởng mà ông đã chọn. Ông gặp lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng sản chất vấn vì sao lý luận Marx-Lenin bị áp dụng sai lệch trên thực tế, nhưng không nhận được trả lời. Ông còn cho rằng dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội X thiếu trung thực, không phản ánh hiện thực đất nước mà giống như báo cáo của các Đảng Cộng sản khác. Ông Nguyễn Minh Cần sau vụ án “Xét lại chống Đảng” đã xin tị nạn chính trị tại Liên Xô. Năm 1989, ông tham gia tích cực “Phong trào nước Nga Dân chủ” và luôn quan tâm đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Ông viết tác phẩm “Vươn lên trong bão táp”, là nhân chứng sống kể lại nhiều sự kiện lịch sử dân tộc, viết nhiều bài báo và trả lời phỏng vấn báo chí tự do nêu rõ quan điểm xây dựng nền dân chủ đích thực cho Việt Nam.

Những người cầm bút nổi tiếng còn có Chế Lan Viên với những câu thơ chất vấn ai chịu trách nhiệm về hàng ngàn cái chết trong vụ Mậu Thân 1968. Trong “Hồi ký của một thằng Hèn”, nhạc sĩ Tô Hải đã phản ứng mạnh mẽ đối với những tác phẩm một thời ông phải viết ca ngợi lãnh đạo và xã hội của Đảng bằng tuyên bố: “Vứt, vứt, và vứt hết!”. Xuân Sách trong “Chân dung nhà văn” đã tổng kết:

“Vị nghệ thuật” nửa cuộc đời,

Nửa đời sau lại “vị” người ngồi trên!

Đó chính là suy nghĩ và tâm tư nung nấu qua nhiều thời kỳ mà ngòi bút văn nghệ sĩ đã bị kiểm soát chặt chẽ bởi cơ quan tư tưởng của Đảng Cộng sản. Thậm chí có người đến cuối đời mới “ngộ ra” sự thật.

Lớp nhà văn trẻ cũng có những phản ánh táo bạo. Những bài đăng trên các báo kể tỉ mỉ nhiều thảm cảnh và tội ác cầm quyền. Báo Văn Nghệ còn mãi trong bạn đọc bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc. Trong tình trạng người dân ở một miền quê Thanh Hóa đói ăn mà chính quyền địa phương vẫn săn lùng mua thóc giá thấp. Đáng sợ hơn là lãnh đạo tỉnh che giấu sự thật, vẫn báo cáo lên trung ương về một đời sống no đủ. Đọc bài ký chiếm hơn một trang lớn trên báo thời ấy, người ta có cảm giác tái hiện cái cảnh rợn người trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. Bài “Đêm trắng” của Võ Văn Trực chỉ ra bất công và tham nhũng của hợp tác xã nông nghiệp. Những bài khác ca ngợi các đơn vị và cá nhân“phá rào”  như là “điển hình vượt khó”, khác nào cho rằng Đảng và chính quyền các cấp là rào cản gây ra muôn khó khăn.

Về viết kịch, một Lưu Quang Vũ xuất chúng sáng chói, vỡ òa ra bao trăn trở và suy tư dồn nén cả quá trình dài. Những vở kịch cũng giàu lòng yêu thương thiết tha những người công nhân, nông dân, quân nhân đã phải sống khó khăn, nghèo đói và bị bưng bít trong cơ chế độc tài dốt nát. Trong nhiều vở, ông đã đưa ra những cuộc đấu khẩu công khai. Nhân dân khắp các miền cả nước kéo nhau đi xem kịch Lưu Quang Vũ khi có đoàn kịch về mỗi địa phương, như đi tìm gặp người nói hộ mình tất cả những uất ức cam chịu. Đó là các vở kịch: Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lời thề thứ chín, Nguồn sáng trong đời, Cô gái mũ nồi xanh, Người tốt nhà số 5…

Trong “Tôi và chúng ta”, tác giả đã để các nhân vật tuyến chính diện lập một phiên tòa công khai tố cáo và kết tội một nhóm lãnh đạo ở một xí nghiệp mang tên là Thắng Lợi. Cộng đồng nhỏ những công nhân lao khổ ấy từng chịu đựng và nương tựa vào nhau qua cơn khốn khó nhất. Còn một bộ phận lãnh đạo của nhà máy lại là những tay cơ hội, đầu óc đầy mưu đồ trù dập người tốt, xun xoe nịnh bợ cấp trên… Lưu Quang Vũ cho một nhân vật tố cáo sự bất công trong xã hội XHCN: “người chăm và kẻ lười được đối xử như nhau, người tài năng và kẻ dốt nát đều hưởng chung một quyền lợi, thậm chí có những kẻ không làm gì cả, chỉ ngồi phán thôi lại được vì nể hơn những người đã vất vả cống hiến. Nhân vật của ông chất vấn và đưa ra phương án mới cho Xí nghiệp Thành Công, cũng là cả xã hội:XHCN gì mà lạ thế? Không, từ nay ai càng làm được nhiều sản phẩm sẽ phải được hưởng lương cao, ai làm tồi sẽ bị phạt bằng tiền, đó sẽ là nguyên tắc của xí nghiệp chúng ta!”

Tuyến nhân vật chính diện đứng ra làm một cuộc đổi mới toàn diện cũng chính là hoàn cảnh Lưu Quang Vũ một mình trên chiến trường kịch nói vẫn là chiến sĩ trong việc bênh vực người dân nghèo và khẳng định chân lý. Một vị bộ trưởng trong vở kịch khẳng định với nhân vật đang thực hiện công cuộc đổi mới: “CNXH của họ là một thứ chủ nghĩa hình thức, về thực chất là giả dối, khô cằn, tàn héo. Nhưng cũng chính nhân vật bộ trưởng này đưa ra một cảnh báo, điều mà chính người cầm bút viết kịch đã lường trước hậu quả khi nói lên sự thật: Bài học nào cũng có cái giá phải trả. Cái giá cậu phải trả ấy là việc người ta chống lại cậu. Không phải chỉ những kẻ xấu chống lại cậu đâu, cả những người tốt, những người có tâm huyết chống lại cậu!”

Cảnh báo trên sân khấu ấy đã trở thành hiện thực ngoài đời khi ngôi sao sáng Lưu Quang Vũ trong niềm yêu mến của nhiều tầng lớp xã hội, vụt tắt với một tai nạn giao thông, theo báo chí là ngẫu nhiên, nhưng theo dư luận là “bịt miệng” một tiếng nói phản kháng, nhằm chặn đứng nguy cơ tác động làm cho đổi mới thêm diễn ra triệt để. Đúng như nhân loại đã tổng kết: những nhân tài đến sáng chói thường ra đi rất nhanh…

Về biếm họa, nhiều bức gửi đăng lên các báo như một lời tố cáo bằng hình ảnh đơn giản mà sắc bén. Có bức tả làm người ta suy nghĩ về một bà mập mạp không biết chữ chỉ bán cháo lòng nhưng luôn no, cùng một giáo viên “bán cháo phổi” mà đói dài vì lương một tháng chỉ đủ ăn mươi ngày và thậm chí nhiều tháng liền không có lương khiến hàng loạt giáo viên nghỉ việc. Có bức tả cảnh một người dân cắm điện nấu cám lợn trong khi điện dùng chung cho khu chung cư và rộng hơn là cả nước thiếu triền miên. Điều này cho thấy đến lúc đói một số người đã bất cần lợi ích cộng đồng. Lại có bức đặc tả một cán bộ cấp cao đi công tác cơ sở về vai xách nách mang đầy quà biếu, nên cứ muốn được phân đi công tác dài dài. Khắc sâu vào trí nhớ của người xem là bức vẽ hình những chồng bát ăn cơm xếp từng hàng vơi dần từ quá khứ đến hiện tại: năm 1960 có 11 bát, năm 1965 – 1970 – 1975 giảm dần mỗi giai đoạn 5 bát, đến 1980 chỉ còn 1 bát/ngày. Trên dãy chồng bát xếp vơi dần ấy là hình một con người dài thõng thượt hai tay hươ hùa ôm lấy bát cơm cuối cùng duy nhất ở thời điểm 1980, trong tư thế phần chân ở quá khứ còn cao mà phần đầu ở hiện tại chúi xuống gần đến mặt đất! Bức biếm họa ấy chú thích: “Bát cơm trên đường tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH!”

Một bức khác nói về việc lãnh đạo đến thăm hợp tác xã chăn nuôi lợn. Ban chủ nhiệm hợp tác xã đã tráo những con lợn ốm gầy do chăm sóc kém bằng cách bắt chúng ra khỏi chuồng giấu đi, rồi đến từng nhà dân mượn những con béo tốt đưa về thả vào, vừa lừa được cấp trên, còn được tuyên dương khen ngợi thành tích. Bức biếm họa ấy chú thích: “Lợn cũng được làm nhiệm vụ chính trị!” Biếm họa vận động gửi “tiền nhàn rỗi” vào tiết kiệm: có hai ô cửa, bên ngoài gửi vào một con gà ở ô thứ nhất, sau đó khi cần lấy lại thì bên trong gửi trả một quả trứng ở ô thứ hai, con gà đẻ trứng nằm lại trong quầy tiết kiệm!

Không còn gì có thể lột trần sự thật và tố cáo ghê gớm hơn những bức tranh châm biếm ấy!

 

Nhìn lại nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Ở thời kỳ này, đời sống văn học nghệ thuật còn chứng kiến sự kiện phục sinh các tác giả và tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, một thời bị chủ trương văn nghệ vô sản loại trừ, nay lại được nhà nước công nhận. Cụ thể, nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ phải chịu hy sinh uy tín và danh dự của mình để Đảng Cộng sản sửa sai. Việc làm tiếp theo là vào năm 2006, Bộ Văn Hóa – Thông Tin có văn bản đề nghị tỉnh Hải Dương sưu tập tư liệu hình ảnh, gia phả, bản gốc tác phẩm của những nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn để thành lập trung tâm lưu niệm.

Trở lại lịch sử, năm 1932 nhóm Tự Lực Văn Đoàn ra đời sau khi phát hành tờ báo Phong Hóa bộ mới. Lớp nhà văn ban đầu có Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Trần Tiêu, Xuân Diệu. Sau này có thêm Huy Cận, Trọng Lang, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân… Đây là hội đoàn văn học hiện đại, độc lập, hoạt động với ba mục tiêu: làm cho văn học đất nước hưng thịnh; xây dựng nền văn chương tiếng Việt đại chúng; tiếp thu phương pháp sáng tác hiện đại. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn thể hiện tinh thần dân chủ qua nề nếp và nguyên tắc sinh hoạt hay thảo luận công khai, qua các tác phẩm tôn trọng tự do cá nhân và phản ánh vẻ tâm hồn sâu kín của các tầng lớp bình dân, đả kích tàn dư Nho giáo và nền giáo dục cũ, gây tiếng cười trào phúng và thâm thúy về các hiện tượng xã hội.

Tiêu biểu cho lớp nhà văn đầu tiên thành lập nhóm là Nguyễn Tường Tam, bút danh Nhất Linh. Ông sinh năm 1905 ở Hải Dương. Năm 1924, ông từng học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1927, ông du học sang Pháp, tốt nghiệp cử nhân sinh hóa và ngành báo chí. Năm 1930, ông về nước, làm chủ bút báo Phong Hóa (1932), lập nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1933), chủ bút báo Ngày Nay (1935). Năm 1938, Nguyễn Tường Tam cùng thân hữu thành lập Đảng Đại Việt Dân chính. Năm 1941, ông chạy sang Trung Quốc tránh chính quyền Pháp bố ráp. Cuối năm 1945, ông về Hà Nội và tham gia vào tổ chức đối lập với Việt Minh, công khai ba chương trình: chống cộng, bài phong, đả thực. Năm 1946, ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Khi Việt Minh loại trừ các đảng phái trong Chính phủ, ông lại sang Trung Quốc. Cũng vào lúc này, Khái Hưng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn bị Việt Minh bắt giam tại Liên khu III và bị thủ tiêu mất tích. Sau này, Nguyễn Tường Tam di cư vào Nam sinh sống và tiếp tục viết văn.

Về sự nghiệp sáng tác, từ năm 1934 đến 1939 Nhất Linh liên tục ra mắt các tác phẩm: Nắng thu, Người quay tơ, Nho phong, Hai buổi chiều vàng, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng… Ông còn viết chung với Khái Hưng: Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Anh phải sống. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông viết từ khoảng năm 1950 đến 1961 là trường thiên Xóm cầu mớiGiòng sông Thanh Thủy. Ông còn viết tiểu luận và dịch tác phẩm Đồi gió hú của Emily Bronte. Văn Nhất Linh trong sáng, phát hiện những nét đẹp đơn sơ trong sâu thẳm tâm hồn. Đó là thứ tình cảm rất tự nhiên mộc mạc, từ trái tim yêu thương những mảnh đời bình dị chảy thẳng qua ngòi bút, đọng lại trên trang giấy. Ông viết rất đều và luôn trung thành với văn chương tự do, nhẹ nhàng, thanh khiết, yêu đời như chủ xướng ban đầu khi lập ra Tự Lực Văn Đoàn. Ngày nay, nhiều tác phẩm của ông được tái bản trân trọng, vẫn nguyên giá trị và sức hấp dẫn. Đó là những quyển có thể giúp chúng ta nhận biết tình người, tìm được giây phút yên bình giữa bao bon chen vật chất và cạm bẫy đời thường.

Tiêu biểu cho lớp cầm bút thứ hai tham gia nhóm là nhà thơ Huy Cận, tác giả của tập thơ “Lửa thiêng” với bài “Tràng Giang” nổi tiếng. Ông sinh năm 1919 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1939, sau khi tốt nghiệp trung học Huế, ông ra Hà Nội học và bốn năm sau tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Thời trẻ, ông say mê phong trào Thơ mới. Ông tham gia phong trào Việt Minh năm 1942. Năm 1945, ông được dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào. Ngày Bảo Đại thoái vị, ông có mặt trong đoàn cán bộ Việt Minh tại Ngọ môn Huế. Khi Chính phủ lâm thời ra đời, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế. Từ 1949 đến 1955, ông là Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ. Từ năm 1955 đến 1984, ông là Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II và VII

Huy Cận là một trong những nhà thơ cuối cùng khép lại phong trào Thơ mới. Sự nghiệp cầm bút gắn liền hoạt động chính trị đã giúp ông không bị rơi vào thảm họa Văn Nhân – Giai Phẩm. Nhưng cũng khác với văn nghệ sĩ chỉ biết phục vụ chính trị, ông độc lập trong tư duy và ngòi bút của mình, không sa vào sùng bái lãnh tụ và chính trị hóa văn học. Trong sự nghiệp sáng tác để lại, cũng tương tự như “Điêu tàn” của Chế Lan Viên, “Lửa Thiêng” ông viết năm 20 tuổi còn cháy mãi. Quả đúng đó là thứ lửa thiêng từ trái tim luôn thao thức vì cuộc đời. Thơ Huy Cận say đắm say cùng đất trời vũ trụ:

“Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng

Từng cặp nhân vàng trong trái đêm…”

đồng thời cũng luôn đề cao vẻ đẹp của con người, rất sâu xa với triết lý nhân sinh:

“Mỗi cuộc đời mang thầm bao nhiêu chuyện

Chạm nổi chạm chìm trong thịt trong xương…”.

Nhìn chung về Tự Lực Văn Đoàn, bên cạnh nhiều điểm tích cực, các tác phẩm cũng nghiêng về lãng mạn và tưởng tượng, như một nhà văn nhận định: “Tiểu thuyết chỉ là tiểu thuyết”. Các tác phẩm thiếu tính hiện thực, thoát ly khỏi hiện thực và đôi khi bị chính quyền Pháp lợi dụng. Dĩ nhiên dòng văn học nào cũng có những ưu điểm và hạn chế của nó, nhưng hạn chế này đã bị quan điểm “văn học vị nhân sinh” nhân đó “chụp mũ” kết tội chính trị, phê phán là thiếu tính chiến đấu trực diện với kẻ thù dân tộc, chỉ chủ yếu chống lại lễ giáo phong kiến mà chưa phản ánh mâu thuẫn do quyền lợi của đa số nhân dân bị bóp nghẹt và chưa kêu gọi dân chúng đi làm cách mạng.

Trở lại các diễn biến văn học, năm 1948 Tổng Bí thư Trường Chinh lên án nhóm Tự Lực Văn Đoàn, cho rằng khủng bố trắng nhằm vào phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh làm cho ngòi bút tiểu tư sản trốn bỏ đấu tranh. Năm sau, Trường Chinh tiếp tục phê phán: “Tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn càng ngày càng xuống dốc. Thế giới quan, nhân sinh quan ngày càng lạc hậu suy đồi thì tác phẩm cũng không tránh khỏi đi vào con dường bế tắc của nghệ thuật tư sản”. Năm 1953, Thế Lữ, một thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn tham gia cách mạng vô sản cũng lên án Tự Lực Văn Đoàn là “phản tiến bộ”“có tội với nhân dân”. Phản ánh của Thế Lữ cho thấy việc phán xét công – tội rất tùy tiện chủ quan, vì thế mới lôi kéo “nhân dân” về phía mình nhằm cô lập người khác. Năm 1978, Phan Cự Đệ cũng lên án tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng gây tác hại với học sinh sinh viên, đồng thời cho rằng: “Tự Lực Văn Đoàn là một món nợ tinh thần cần phải được thanh toán và là một vấn đề văn học sử chưa được giải quyết triệt để”.

Nhưng đến năm 1990, khi đổi mới diễn ra trên cả nước, trong đó có ông Trần Độ đòi phải “cởi trói” cho văn nghệ, Phan Cự Đệ có nhận định hoàn toàn ngược lại. Ông cho rằng việc phê phán trước đây là “khắt khe” do “điều kiện lịch sử”. Theo ông, Tự Lực Văn Đoàn đã góp phần nói lên khát vọng dân chủ của đông đảo quần chúng, tuy không trực tiếp kêu gọi giải phóng xã hội nhưng đã giải phóng bản ngã và quyền sống của con người. Tự Lực Văn Đoàn mang hoài bão lớn phục hưng văn học dân tộc, là lý tưởng sống thiêng liêng cao đẹp của một lớp người không làm được cách mạng thì qua sáng tác gửi gắm tâm sự yêu quê hương đất nước, say mê và tâm huyết góp phần cho tiếng Việt giàu đẹp và trong sáng. Ông kết luận: “Tự Lực Văn Đoàn đã góp phần rất quan trọng vào việc canh tân văn học, xây dựng văn học Việt Nam hiện đại”.

Đảng Cộng sản đánh giá như thế nào về lý tưởng và đóng góp của Nguyễn Tường Tam cũng như các tác giả không muốn sáng tác theo chỉ đạo? Những nhận xét một thời trên cơ sở văn học phục vụ chính trị của Trường Chinh, Thế Lữ, Tố Hữu yếu kém về nhận thức chân lý, lộ rõ chủ trương tiêu diệt tất cả các quan điểm đối lập với Đảng Cộng sản, loại bỏ thiên chức độc lập của nhà văn và văn chương. Tự Lực Văn Đoàn “phản tiến bộ” “có tội” gì với nhân dân? Phải chăng như Phan Cự Đệ đã phê phán, nay Tự Lực Văn Đoàn còn đó một “món nợ” mà Đảng Cộng sản phải trả lại sự thật và công bằng? Những giá trị thật sự cho dù bị chủ quan con người chôn lấp thì nhất định một ngày nó phải được phục sinh.

 

Nhìn lại nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm

Cũng như Tự Lực Văn Đoàn, vào những năm 1990, Đảng Cộng sản chủ trương xoa dịu và phục hồi danh dự cho các văn nghệ sĩ đã chịu oan trong vụ Nhân Văn – Giai phẩm, bằng cách trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và một số giải thưởng khác. Hoàng Cầm được Chủ tịch nước ký quyết định riêng tặng giải thưởng về văn học nghệ thuật. Những trí thức trước đây bị kết tội, nay còn sống hoặc đã qua đời cũng được tặng thưởng như: Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Cao Xuân Huy, Nguyễn Văn Tý, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… Thông qua Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, hình thức xin lỗi và giải tỏa uẩn khúc lịch sử một cách muộn màng ấy không thể nào bù đắp thiệt hại của một thế hệ tài hoa bị trù dập, cô lập. Họ bị mất danh dự, tác phẩm tâm đắc bị chà đạp. Tiếng nói của họ đòi hỏi tự do sáng tác, phản ánh đúng thực trạng xã hội bị bưng bít, bởi dưới quan điểm Đảng Cộng sản tất cả họ là phản động, tội phạm. Mặt khác, văn nghệ phục vụ chính trị qua thử thách thời gian cho thấy chỉ có giá trị thời điểm.

Tên của lãnh tụ gắn vào tên của một giải thưởng đi liền với một sự kiện đáng buồn. Làm sai, kiểm điểm rút kinh nghiệm và sửa sai chỉ trên giấy tờ – cứ như vừa đấm vừa xoa. Phải chăng việc trao huy chương cho những người bị oan đồng nghĩa với thừa nhận sai lầm của các ông Trường Chinh, Tố Hữu? Những người bị quy tội trước đó phải chịu nhiều hy sinh thiệt hại, nay công lý được lập lại, người gây tội ác phải chịu xử lý như thế nào? Vì sao những huy chương, giải thưởng đã trao cho Trường Chinh, Tố Hữu công nhận những “thành tích” trung thành bảo vệ Đảng Cộng sản, nay không bị truy thu? Bước đầu, Đảng Cộng sản chiêu dụ trí thức đứng vào tổ chức Việt Minh, lập ra Đảng Dân Chủ Việt Nam tranh thủ lực lượng, chất xám cho cách mạng. Khi đã vào tổ chức, trí thức bị lợi dụng phục vụ kháng chiến đắc lực. Khi kháng chiến thành công, họ bị thanh trừng, giết chết tất cả chỉ vì đó là những tư tưởng tiến bộ và có khả năng dự báo những xu hướng sai lầm. Qua giới hạn quyền tự do sáng tác, có thể nói hiện thực từ chỗ như những khu rừng nguyên sinh đa dạng, phong phú, nhiều tầng bậc đã bị phá sạch; thay vào đó là dạng rừng do hệ tư tưởng cộng sản “ươm mầm”, trồng mỗi loại cây, khai thác chỉ mỗi sản phẩm tư tưởng phục vụ độc quyền cai trị.

 

Những nhà lãnh đạo của đổi mới

 

Trường Chinh

Ông là nhà lãnh đạo mà nhiều người cho là đã “phản tỉnh”, “lột xác” từ bảo thủ sang cấp tiến. Ông từng đứng đầu cải cách ruộng đất, chống Nhân Văn – Giai Phẩm, phê phán kịch liệt “khoán hộ” của ông Kim Ngọc… Trước đổi mới, cả Bộ Chính trị lúng túng, ông cũng “tiến thoái lưỡng nan” nhưng im lặng vì chống đối lại sẽ bị cô lập và kỷ luật như bao nhân vật mà ông từng chứng kiến qua các thời kỳ. Đến khi công cuộc đổi mới diễn ra rầm rộ, ông mới mạnh tay.

Việc làm này vừa đáp ứng xu thế và đòi hỏi của tình hình thực tế, lại vừa xem như lập công giải tỏa phần nào mặc cảm sai lầm của mình. Còn có một sự kiện khác làm đổi thay tư duy của ông. Đó là trong chuyến về thăm quê hương ở Nam Định, ông nghe nhiều phản ứng từ nhân dân về chủ trương “xiết lại” của Đảng. Một trong những họ hàng thân tín gia tộc của ông thẳng thừng chỉ ra rằng nếu không khoán hộ trong nông nghiệp thì: nông dân chết – đất nước chết – Đảng cũng sẽ chết!

Là một lãnh đạo trong Bộ Chính trị nhưng trong thời gian dài ông không hiểu nhiều về thực tế, bởi lẽ ông chỉ phần lớn tiếp cận với thông tin “làm láo mà báo cáo thì hay” từ cấp dưới xu nịnh gửi lên, ít khi vi hành vào tận từng tấm lòng, nghe những tiếng nói thật. Cho nên cảnh báo từ thân tín họ hàng về tình cảnh người dân bị dồn đến tận chân tường, có thể đã là một gáo nước lạnh dội thẳng vào cơn mê tư tưởng. Thay đổi nhận thức ở ông là từng bước thừa nhận nền sản xuất hàng hóa tư nhân, phê phán sự giả tạo của chế độ bao cấp cũng như tình trạng “trên quan liêu, dưới phá rào”, thừa nhận thị trường tự do và sự chi phối tự nhiên của quy luật giá trị…

Khi chuẩn bị Đại hội VI, ông nêu phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự thật”. Ông cho những sai lầm này là xuất phát từ “tả khuynh, ấu trĩ, duy ý chí, trái quy luật khách quan. Khi đã mắc sai lầm lại bảo thủ, trì trệ, không dũng cảm sửa chữa”. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng như ông thừa nhận là đã “thông qua một số quyết định sai, đã bố trí cán bộ sai mà không kịp thời sửa, đã không thẳng thắn nói hết được ý kiến để cùng nhau thảo luận…”.

Ông còn nhận định trong một cuộc họp vào tháng 4-1986: “Sai lầm đó là thuộc loại sai lầm chỉ đạo chiến lược. Nguyên nhân của sai lầm đó chính là tư tưởng tả khuynh. Nguồn gốc của sai lầm đó là tư tưởng tiểu tư sản tả khuynh”. Với nhận định này, không ai giải thích được vì sao những lãnh tụ cách mạng mang trong mình dòng máu cộng sản qua nhiều thời kỳ và rèn luyện qua nhiều thử thách, vẫn còn xu hướng “tiểu tư sản tả khuynh”. Và nếu đúng vậy thì tại sao ông lại cách chức những cán bộ dưới quyền làm sai, cụ thể như trong cải cách giá – lương – tiền? Phải chăng điều đó cũng như ông từng bị kỷ luật ở thời kỳ cải cách ruộng đất mà lãnh đạo trên ông thì không còn ai cao hơn để ra quyết định kỷ luật?

Ông cho rằng vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng đã biểu hiện xuống cấp, mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng và bỏ qua nhiều cơ hội quý báu: “… nhận thức, quan niệm, tư duy đã lỗi thời đang kìm hãm việc sử dụng, phát huy các tiềm lực. Lực tuy có, nhưng do bố trí chiến lược về cơ cấu kinh tế và về quản lý kinh tế đều mắc sai lầm nên chúng ta đã tự bó tay mình”. Ở Đại hội VI, sau khi đánh giá quá trình lãnh đạo xã hội các chặng đường trước, ông đã đưa ra một khẳng định dứt khoát: “Bỏ qua chế độ TBCN mà muốn tiến thẳng lên CNXH là điều không thể thực hiện được”.

Đến Cương lĩnh 1991 và các kỳ đại hội sau, Bộ Chính trị hầu như không muốn lặp lại khẳng định mang tính quy luật này, vẫn tiếp tục giương cao ngọn cờ CNXH, trong khi không xác định được chặng đường quá độ sẽ diễn ra như thế nào và khi nào hoàn thành. Với ông Trường Chinh, đúng như nhận định của nhà văn Macxim Gorky: “Con người là một công trình kiến trúc lâu dài”. Nhưng ở giai đoạn “kiến trúc” thời đổi mới, ông đã là thế hệ cách mạng cao niên, ngoài chỉ đạo và đồng thuận chủ trương, việc đóng góp thiết thực hiệu quả không thể nhiều hơn. Chậm mà có, dù sao vẫn hơn một số lãnh đạo khác cuối đời còn không có một “phản tỉnh” nào.

Nguyễn Văn Linh

Ông là nhà lãnh đạo trung tâm của thời kỳ đổi mới sau khi chuyển công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội, trở thành Tổng Bí thư tại Đại hội VI. Thời còn là lãnh đạo phía Nam, ông thấu hiểu và thận trọng với quá trình cải tạo công thương, từng phản đối chiến dịch Z.30 của Hà Nội. Theo ông, thành tựu có được của phía Nam với sức mạnh đầu tàu kinh tế và nhiều lĩnh vực khác tiếp sức cho cả nước là do lãnh đạo và nhân dân thành phố “có tư duy độc lập, sáng tạo, không đi theo vết mòn của những nếp suy nghĩ cũ”. 

Ở cương vị cao nhất trong Đảng, ông đã phê phán triệt để CNCS hình thức: “chỉ biết huênh hoang nói những điều cao xa, lý thuyết trừu tượng về cách mạng, về lý tưởng CSCN, nhưng không thể bắt tay giải quyết được một công việc thực tế cụ thể nào cho ra hồn”. Toàn bộ mô hình CNXH đến lúc này ở Việt Nam có thể nói đã xem như chấm dứt qua tuyên bố của ông: “Kinh nghiệm đã chứng tỏ, sa lầy vào vũng bùn tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta càng bị nó nhấn chìm. Phải tìm một con đường khác”. Nhưng như chúng ta đã biết, việc đi theo “con đường khác” ấy đã không diễn ra.

Tại Hội nghị lần thứ 6 vào tháng 3-1989, ông đã tuyên chiến với những cách làm còn rơi rớt lại của mô hình cũ, đồng thời chỉ đạo dỡ bỏ tất cả những rào cản: “Cơ chế thị trường vận động trong môi trường tự do sản xuất, lưu thông hàng hóa theo luật pháp. Giá cả trong nước cũng không tách khỏi giá cả trên thị trường quốc tế. Nhà nước không dùng mệnh lệnh hành chính áp đặt giá mà sử dụng các chính sách, biện pháp kinh tế và lực lượng dự trữ để tác động đến cung cầu. Chuyển toàn bộ các đơn vị kinh tế sang cơ chế kinh doanh”.

So với phát biểu “xiết lại” của Tổng Bí thư Lê Duẩn trước đó chưa lâu thì chủ trương này ngược lại hoàn toàn. Để tìm đến chân lý và sự thật, lần đầu tiên một Tổng Bí thư dám khuyến khích đối thoại và trao đổi trực tiếp mọi vấn đề mà không kèm bất cứ một hình thức quy chụp kết tội nào như từng diễn ra rất nhiều lần trong Bộ Chính trị trước đó: “Hết sức tránh tình trạng một mình độc quyền chân lý, còn mọi người thì chỉ có quyền chấp hành thụ động, không dám tranh luận. Chúng ta phải tạo ra thói quen biết thảo luận và tranh luận”. Ông cũng chỉ đạo các đoàn chuyên viên đi khảo sát các nước ngoài khối XHCN như đến Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc…

Ở Thái Lan, đoàn Việt Nam mới bừng tỉnh trước một sự thật mà báo chí nước ngoài lúc bấy giờ đã nhận xét: trước năm 1975, “Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông” bỏ xa Băng-cốc về mức độ giàu có và hiện đại. Nhưng đến bấy giờ, Băng-cốc đã dẫn trước Sài Gòn khoảng 30 năm. Khi tiếp quản Sài Gòn, Ủy ban quân quản cách mạng đã đón nhận một thành phố không những nguyên vẹn, mà còn có sẵn những khởi điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại gắn liền với kinh tế thế giới. Nhưng thành phố bị đổi tên, cải tạo mọi mặt diễn ra, đời sống xuất hiện nhiều bất ổn. Tinh thần đổi mới của ông Nguyễn Văn Linh đã xuất phát trong hoàn cảnh đó. Ông từng bị quy vào dạng hữu khuynh, bị cách chức Bí thư Thành ủy 1978, đưa ra khỏi Bộ Chính trị và điều chuyển từ Ban cải tạo công thương sang Ban Dân vận. Ra Hà Nội 1986, khi đang khởi động công cuộc đổi mới, dự định lớn của ông một lần nữa cũng bị chặn lại và chịu điều động trở về phía Nam.

Võ Văn Kiệt 

Lãnh đạo mạnh mẽ và táo bạo nhất của đổi mới là ông Võ Văn Kiệt. Năm 1980, ông từng lập ra “Câu lạc bộ giám đốc” với nhiều giám đốc, bí thư… các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh. Đó là cơ hội để các nhà quản lý trình bày cách nghĩ cách làm mới, cùng tham khảo trao đổi và học tập kinh nghiệm. Có cả lãnh đạo các bộ ngành trung ương đóng ở phía Nam đến dự các buổi sinh hoạt. Năm 1985, một số quan chức cao cấp thuộc chính quyền cũ cũng được ông khuyến khích lập nhóm nghiên cứu nhiều công trình, đề tài có giá trị nhằm cứu nguy nền kinh tế trong nước, cũng như tạo mối quan hệ thông ra nền kinh tế thị trường rộng lớn trên thế giới.

Tiêu biểu có đề án cải cách và hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp với việc thành lập hội đồng quản trị, tham mưu soạn thảo và ban hành Pháp lệnh Ngân hàng. Nhờ đó, giá trị, chức năng tiền tệ trong lưu thông hàng hóa đã được tái lập và được quản lý chặt chẽ hơn. Cũng thời gian này, ông Vũ Quang Việt, một Việt kiều, chuyên gia kinh tế làm việc ở LHQ, được mời về nước. Ông có nhiều đóng góp xuất sắc giải quyết vấn đề tiền tệ, xây dựng lại tính đồng bộ và hiệu quả của hệ thống thống kê cung cấp thông tin chuẩn xác và kịp thời, làm căn cứ xây dựng đường lối kinh tế đối nội và đối ngoại.

Cùng với duyệt chủ trương triển khai các công trình và đề tài, ông Võ Văn Kiệt còn ký lệnh bãi bỏ hạn mức Việt kiều ở nước ngoài gửi tiền và hàng về cho thân nhân, giải thể tất cả các trạm kiểm soát từng nhiều năm gây tắc nghẽn mạch máu kinh tế, giao quyền tự chủ cho các công ty xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ kế hoạch chỉ huy từ Trung ương. Tháng 3-1987, ở cương vị là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông chủ trì cuộc họp dỡ bỏ vĩnh viễn chính sách mua bán nông sản chèn ép nông dân: “Chính sách cửa quyền, mọi khó khăn đều đổ hết lên đầu người nông dân… Từ nay phải thật sự thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng với nông dân, mua của họ phải trả bằng tiền chứ không trả bằng hiện vật”. Ông còn mạnh dạn triển khai nhiều công trình trọng điểm quốc gia, mà ấn tượng nhất là công trình đường điện 500 kv xuyên suốt Bắc – Nam. Nhờ đó, tình trạng thừa – thiếu điện nhiều vùng được khắc phục, đồng thời Việt Nam tiến tới xuất khẩu điện sang các nước lân cận.

Sau này, khi không còn công tác, ông vẫn thiết tha với sự nghiệp đổi mới mà theo ông phải tiến hành thường xuyên liên tục, bởi vì nếu không tự khắc phục lực cản, không phát huy nguồn lực bên trong và cả bên ngoài để có mức tăng trưởng hai con số thì không thể nào thu hẹp được khoảng cách tụt hậu so với khu vực và thế giới. Ông đưa ra lời khuyên mang tính cảnh tỉnh: Thế giới đa đi rất xa, chúng ta phải nhanh chân chứ đừng tự ru ngủ mình để rồi sẽ còn bị bỏ xa hơn nữa”. Nhìn lại xuyên suốt quá trình lịch sử, quả là đất nước ta đã bỏ qua không biết bao cơ hội có thể mở cửa và tìm chọn đồng minh ổn định, tạo ra các điều kiện phát triển kinh tế và hội nhập sâu rộng. Nếu được sớm như ông nói, đất nước đã có thể tránh khỏi nhiều tai họa đổ máu hy sinh, bị cô lập, nghèo đói tụt hậu.

Giữa năm 2005, ông viết một bức thư gửi Bộ Chính trị đề nghị sửa đổi điều lệ Đảng Cộng sản ban hành năm 2002, bởi vì thực tế hoạt động của Ban chấp hành đã vi phạm vào điều 3 chương I khi “không trả lời những kiến nghị của đảng viên, trong đó có nhiều đồng chí đảng viên lão thành đã có 60, 70 tuổi Ðảng, từng giữ các trách nhiệm là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương…”. Sự vi phạm này có nguyên nhân từ việc Ban chấp hành được quy định trong điều lệ là cơ quan đại diện và có quyền quyết định cao nhất các vấn đề giữa hai nhiệm kỳ, đã bị tiếm quyền bởi Bộ Chính trị. Những ý kiến, kiến nghị của đảng viên gửi đến đã không được Bộ Chính trị phổ biến và không ai hay biết. Ông nhận xét: “Hệ quả là Ban chấp hành Trung ương không phát huy được hết khả năng và trách nhiệm là cơ quan cao nhất của Ðảng”. Và không chỉ ở trung ương, trong ban chấp hành và ban thường vụ cấp tỉnh, huyện và xã phường đều đúng một tình trạng như vậy. Ở ngay cơ quan đề ra chủ trương dân chủ mà lại bưng bít thông tin, thử hỏi cả xã hội làm sao có được dân chủ?

Nguyên Thủ tướng đã suy nghĩ rất sâu xa về đoàn kết và hòa hợp dân tộc. Đó cũng là tinh thần chung của dòng máu Lạc Hồng trong tất cả người Việt mà không phân biệt thành phần, chế độ hay chính kiến khác nhau: “Kẻ thù của Việt Nam là Pháp trước đây, kẻ thù Việt Nam là Mỹ sau này, kẻ thù Việt Nam là Trung Quốc đánh biên giới phía Bắc, chúng ta cũng khép lại quá khứ được, thì tại sao chính chúng ta không khép lại quá khứ ấy mà lại cứ đố kỵ lẫn nhau”. Đáng tiếc, trong Bộ Chính trị quá hiếm người có tư tưởng thông thoáng, thức thời và đứng giữa lòng dân tộc như ông. Ông cho rằng tổ quốc là mái nhà chung, yêu nước là tình cảm thiêng liêng và nghĩa vụ của mỗi công dân, cho dù là nam nữ, già trẻ, là đảng viên hay ngoài Đảng, trong nước hay ở nước ngoài, tôn giáo hay không tôn giáo: “Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”. Ông là một lãnh đạo để lại nhiều niềm tin yêu, kính mến trong nhân dân cả nước kể từ sự nghiệp đổi mới đến nay.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức trách nhiệm vụ, ông cũng biểu hiện một số hạn chế. Điều này có thể do từ chủ quan cá nhân, cũng có thể ông phải chịu áp lực từ Bộ Chính trị. Ông từng đắn đo sau 10 tháng rồi ký ban hành văn bản cho phép Tổng Cục 2 trở thành cơ quan xuyên quyền lực, dẫn đến bất trị và lũng đoạn. Nghị định số 31 cũng do ông ký áp dụng vào giữa tháng 4-1997 cho phép công an bắt giam điều tra mà không cần xét xử từ 6 tháng đến 2 năm đối với những trường hợp bị tình nghi tội phạm. Đây là chủ trương vi phạm luật pháp quốc tế, bị phản đối mạnh mẽ. Sau đó, Nhà nước Việt Nam còn sử dụng Nghị định này mặc cả với phía Hoa Kỳ đổi lấy việc đánh giá nhẹ tay về vi phạm nhân quyền và tạo điều kiện gia nhập WTO, Nghị định mới bị bãi bỏ!

Nhà báo Bùi Tín nhận định ông Võ Văn Kiệt là người “có nhiều điểm tiến bộ hơn cả” so với các vị còn lại, nhưng cũng cho rằng Thủ tướng vẫn chậm bởi hầu hết chỉ nhìn rõ vấn đề và mạnh dạn công khai sau khi nghỉ hưu. Điển hình như việc ký các văn bản trên, đến khi về hưu ông mới tự nhận đó là những sai lầm và tuyên bố: “Không thể làm bậy, rồi được hạ cánh an toàn”. Ông từng bênh vực cho nông thôn bị đặt ra ngoài lề đổi mới, đời sống đầy khó khăn nhưng ông không đề cập đến vấn đề cơ bản nhất là sở hữu ruộng đất bị vi phạm thì nông dân vẫn tiếp tục chịu thiệt thòi một cách nặng nề và lâu dài. Ông chủ trương báo chí phải có quyền điều tra và phát ngôn, các nhà văn phải có tư duy và tình cảm độc lập nhưng không giải phóng nổi Hội Nhà báo và Hội Nhà văn ra khỏi tình trạng là tổ chức duy nhất phụ thuộc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Ông cũng đề cập đến việc cần tạo cơ chế và phát động phong trào toàn dân chống tham nhũng nhưng tham nhũng vẫn leo cao, chui sâu và lan rộng trong hệ thống chính trị. Ông đề nghị thay đổi cụm từ “tập trung dân chủ” thành “dân chủ tập trung” cũng chỉ là sự thay đổi vị trí từ ngữ, việc thực thi vẫn cho thấy dân chủ bị bao vây bởi tập trung, hay nói cách khác dân chủ thật sự vẫn bị cầm tù. Tư tưởng được toàn xã hội hoan nghênh nhất ở ông là hòa hợp dân tộc, nhưng chẳng thấy lời nói hay hành động biết lỗi và giải hòa; ngược lại vẫn tiếp tục duy trì xét lý lịch, thành phần xuất thân tham gia vào các thể chế hay tôn giáo… mà sự phân biệt ấy chỉ nhằm bảo vệ độc quyền lãnh đạo. Nhìn lại, ông vẫn không thoát khỏi bị bao vây bởi những lớp rào của bảo thủ và độc đảng toàn trị.

 

Hiến pháp 1980 và 1992

Trong Hiến pháp 1980, lời nói đầu khẳng định xây dựng đất nước theo chế độ XHCN: “đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga”, đứng vào “cộng đồng XHCN thế giới”. Việc chọn đường lối phát triển đất nước đã từ năm 1976, đến lúc này mới xuất hiện trong văn bản luật cao nhất. Với Hiến pháp 1980, Đảng Cộng sản không những loại trừ CNTB mà còn đối đầu với “bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Campuchia”, in rõ dấu ấn giai đoạn và nhất thời sự việc, thiếu chuẩn mực trong văn phong của một văn bản tối quan trọng. Cách nghĩ và viết như thế xuất phát từ lối tư duy cơ hội, nghiêng ngả ngoại giao, thiếu tầm chiến lược ổn định.

Điều 4 khẳng định Đảng Cộng sản “là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” mà sau này Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từng phát biểu khẳng định đó là sự sống còn của chế độ mà bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải duy trì: “Bỏ điều 4 là đồng nghĩa với tự sát”. Điều 4 cho thấy Đảng Cộng sản đã “gồng mình” lên trước diễn biến bất lợi của cuộc cách mạng dân chủ và tự do trên thế giới, tự nâng tầm và ban cho mình quyền độc trị “duy nhất”. Các hiến pháp trước đó và Hiến pháp 1992 về sau không có từ này.

Về vai trò của Tổng Công đoàn Việt Nam, hiến pháp ban cho nhiều chức năng bao trùm nhưng lại chung chung, chẳng rõ ràng đại diện và bảo vệ quyền lợi cụ thể gì cho người lao động. Đó là “tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, là trường học CNXH, trường học quản lý kinh tế, quản lý nhà nước”. (Điều 10) Tại sao Tổng Công đoàn là “trường học” tạo ra những người quản lý kinh tế và nhà nước, đồng thời sự quản lý ấy đạt đến chính quy hiệu quả gì? Sự kiện Công đoàn đoàn kết Ba Lan đã tác động rộng rãi, khiến lãnh đạo Việt Nam phải đưa ra đối sách cấm thành lập nghiệp đoàn tự do trên mọi hình thức. Nắm lấy và bao biện mở rộng tổ chức công đoàn đã có một cách toàn diện và triệt để cũng đồng nghĩa với việc làm cho nghiệp đoàn tự do không còn đối tượng, không có đất đứng. Điều 10 thể hiện tâm lý phòng thủ lo sợ, là nguồn gốc làm xuất hiện kẻ thù ảo và phát sinh cảnh giác “diễn biến hòa bình” trên mọi phương diện xã hội.

Những nội dung về chế độ kinh tế chỉ mang tính giai đoạn, chưa được hiểu đúng và đủ, chưa được kiểm chứng mức độ tích cực và tính quy luật của nó: từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN (điều 15), ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ (điều 16), cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần (điều 18), người buôn bán nhỏ được hướng dẫn và giúp đỡ chuyển dần sang sản xuất hoặc làm nghề thích hợp khác (điều 24).

Về điều 25, thật ra Đảng Cộng sản đã chỉ đạo thực hiện triệt để ngay sau 1975 ở miền Nam và cả nước bằng các văn bản dưới luật hoặc mệnh lệnh trực tiếp tại các hội nghị và kỳ họp. Đến 1980, việc đã làm mới được hợp thức hóa vào hiến pháp: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản đều bị quốc hữu hóa không bồi thường”. Một số nội dung khác chịu sự điều chỉnh của đạo đức, truyền thống và chỉ có thể định tính cũng đưa vào hiến pháp: cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành công dân có ích cho xã hội, con cái có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ… mà không hiểu nghĩa vụ gồm có những yêu cầu gì, ở mức nào, có cơ chế gì để kiểm tra nghĩa vụ ấy ở tùng gia đình. Có trường hợp dùng những khái niệm không thể định chuẩn và giới hạn nhằm tạo quyền hạn vô biên để công cụ pháp luật trấn áp chính kiến phi Mác-xít: công dân phải trung thành với tổ quốc, phản bội tổ quốc là tội nặng nhất đối với dân tộc. Nhưng như thế nào là trung thành, phản bội hay khái niệm tổ quốc nội hàm bao gồm những yếu tố gì?

Hiến pháp 1980 phản ánh ý chí chủ quan, đi ngược lại quy luật mà không có lập luận thuyết phục, cũng chẳng cần trưng cầu dân ý. Đây chính là nguyên nhân lý giải vì sao Việt Nam phải thay đổi hiến pháp từng giai đoạn. Dưới hiến pháp là luật. Nhưng sau 1945 trường luật bị giải tán, học phần luật pháp chỉ được xem là một khoa nghiên cứu ở các trường. Tháng 10-1979, Đại học Luật Hà Nội tái lập, giáo trình giảng dạy phần lớn theo quan điểm chính trị và gián tiếp mở rộng quyền lực của nhà nước qua quy định các tội danh và chế tài xử phạt. Từ đó, luật sư biện hộ cũng không nằm ngoài ràng buộc của luật nên cũng chỉ “hữu danh vô thực”, nói gì đến dân oan. Mãi về sau, chức năng của Quốc Hội trong việc soạn thảo và ban hành các luật mới từng bước được xác định. Các văn bản và chỉ đạo chính trị đã trở thành tiếng nói chủ quan duy nhất và cao nhất. Từ hiến pháp đến luật đều là công cụ chuyên chính vô sản.

Năm 1992, xã hội Việt Nam lại có hiến pháp mới. Lần đầu tiên, hiến pháp xuất hiện thêm khái niệm ghép: “Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh…”. Nhìn lại lịch sử từ khi Đảng nắm quyền đến nay, ai cũng thấy biên giới và hải đảo bị mất dần trong khi điều 1 vẫn thản nhiên như không có sự kiện gì xảy ra khi khẳng định: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam… bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Hãy nhớ rằng sự kiện Trung Quốc gây chiến với Việt Nam được phản ánh trong Hiến pháp 1980. Qua phản ứng của dư luận thế giới, đồng thời Đảng Cộng sản thấy đã tự chính thức công nhận xã hội độc đảng một cách vô lý, nên điều 4 Hiến pháp 1992 bỏ từ “duy nhất” có trong Hiến pháp 1980. Trong khi không có bất cứ một điều luật nào khác ở hiến pháp cấm các đảng phái và tổ chức khác hoạt động, nhưng thực tế Đảng Cộng sản lại không công nhận bất cứ đảng phái nào khác. Nghịch lý này gây ra tranh cãi chính trị chưa chấm dứt, nhất là trong tình hình một số đảng đã có mặt trong lịch sử nay tuyên bố phục hoạt.

Điều 7 quy định bầu cử được tiến hành theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” nhưng không quy định việc ứng cử và đề cử từ những tổ chức nào và đối tượng được đề cử thuộc những thành thành phần nào, nên vẫn cứ diễn ra hình thức “Đảng cử – Dân bầu”. Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, lập hội, bày tỏ chính kiến… Nhưng ở điều 88 của Bộ luật hình sự lại kết tội những cá nhân có chính kiến riêng. Điều 71 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”, trong khi thực tế đã và đang xảy ra việc Công an nhân dân đàn áp các vụ nhân dân biểu tình đòi quyền lợi. Điều 74: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước…”, trong khi các nhà đấu tranh cho công bằng dân chủ xã hội mới vừa lên tiếng đã bị bắt. Điều 75 khẳng định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam…”, thực chất vẫn bị phân biệt, cô lập. Điều 77: “Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”; thực tế các hoạt động phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo và chính sách ngoại giao lập lờ, cũng bị đàn áp.

Toàn bộ chương VI nói về hoạt động độc lập của quốc hội, nhưng thực tế các kỳ họp quốc hội kéo dài chỉ nhằm hợp thức chỉ đạo của Đảng, vừa gây tốn kém lại vừa xa rời thực tế và cuộc sống của người dân. Chương VIII quy định hoạt động của Chính phủ, nhưng Chính phủ cũng không minh bạch hóa việc khai thác tài nguyên, sử dụng ngân sách, vốn vay hay xử lý tham nhũng… Cũng như những hiến pháp trước, nội dung thì đề cập đủ, nhưng thực hiện thì không có một cơ chế đốc lập hay đối lập nào giám sát, cho nên tính công minh của nó bị thay bằng “Đảng trị”.

Một trí thức người Việt ở Tokyo có bài viết với nhiều nhận định sâu sát về các hiến pháp đã ban hành trong xã hội Việt Nam. Theo tác giả, từ Hiến pháp 1946 có 70 điều đến Hiến pháp 1992 có 147 điều là cả một bước đi dài của lịch sử Nhà nước pháp quyền XHCN. Trong đó, tác giả cho biết Hiến pháp 1959 khi quy định quyền công dân đã cam kết “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó” (Điều 25). Đến Hiến pháp 1992, sau khi quy định các quyền công dân, cam kết trên không còn, mà thay vào đó là ràng buộc công dân phải thực hiện “theo quy định của pháp luật”. Chỉ riêng điều này đã thấy hiến pháp phải tuân theo “quy định của pháp luật”, trong khi hiến pháp đứng trên tất cả các đạo luật.

Khẳng định này còn được chứng minh ở điều 61 Hiến pháp 1946: “Nhân viên Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính có thể bị bãi miễn. Cách thức bãi miễn sẽ do luật định”, trong đó tác giả phát hiện “cách thức bãi miễn sẽ do luật định” chính là luật phải tuân theo hiến pháp. Nhưng điều 69 Hiến pháp 1992 lại viết: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, biểu tình theo quy định của pháp luật”, thì “theo quy định của pháp luật” lại thêm lần nữa cho thấy hiến pháp phải tuân theo luật và các văn bản dưới luật. Điều này đã diễn ra trên thực tế trong thời gian dài.

Tác giả bài viết còn nêu quan điểm cho một hiến pháp hoàn chỉnh trong tương lai. Đó là phải xem lại những điểm tiến bộ trong Hiến pháp 1946 đã bị bỏ qua, cần có kế thừa và vận dụng trở lại. Trong sự nghiệp đổi mới tiến tới hội nhập toàn diện thì một bản Hiến pháp dân chủ và tiến bộ được trưng cầu dân ý là nền móng ổn định kiến thiết, trên cơ sở đó mới phát triển xã hội bền vững. Những bất cập của Hiến pháp 1992 không bao lâu nữa sẽ phải được thay thế bằng một hiến pháp tiến bộ hơn.

Thực trạng Việt Nam và bài học ở các nước

Các nước cùng khu vực châu Á

Như đã đề cập hơn một thế kỷ trước ở Nhật Bản, Mutsuhito lật đổ chế độ Mạc Phủ, lấy hiệu Thiên Hoàng. Ông vẫn sử dụng lực lượng quý tộc bị đánh đổ sau cách mạng vào chính quyền mới với quan niệm chỉ thay thế mô hình quản lý chứ không loại bỏ con người. Trong khi việc tập trung cải tạo của chính quyền cách mạng đối với quân nhân chế độ Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn ngược lại. Thiên Hoàng nước Nhật ban hành chính sách “Tứ dân bình đẳng”, trong khi ở miền Nam nạn phân biệt “lý lịch xấu” kéo dài hàng chục năm. Ở Nhật, quyền tự do buôn bán và sản xuất tư nhân được khuyến khích. Ở Việt Nam năm 1976, khi Tổng Bí thư Lê Duẩn và các vị trong Bộ Chính trị đến thăm Khu công nghiệp Biên Hòa, lần đầu nhìn thấy cơ sở hạ tầng và máy móc công nghiệp hiện đại, đã cao hứng cho rằng Việt Nam sẽ đuổi kịp Nhật Bản trong vòng 15 năm nữa. Nhưng 15 năm sau toàn bộ xã hội Việt Nam bị khủng hoảng trầm trọng. Về kinh tế, cơ sở công nghiệp và công thương nói chung bị mô hình “Pháo đài kinh tế cấp huyện” ngăn sông cấm chợ trói chặt.

Vào thời ấy, Thiên Hoàng chủ trương cấp học bổng cho hàng loạt sinh viên ưu tú sang phương Tây du học, thay đổi ngay việc đánh giá con người từ dòng dõi sang năng lực và học vấn. Trong khi ở Việt Nam, lúc này trí thức cũ bị loại bỏ, đánh giá cao nhất dành cho đối tượng có “lý lịch tốt”. Ở Nhật, sau khi bị Hoa Kỳ ép buộc phải mở cửa các thương cảng, nhận thấy đây là cơ hội, Nhật hoàng tiếp tục mời gọi tàu buôn nhiều nước khác đến. Ở Việt Nam, mọi cánh cửa được mở sẵn thông ra thế giới đa phương rộng lớn, nhưng bị khép lại. Nên nhớ rằng so với sau 1975 ở Việt Nam, nhận thức canh tân đất nước của Nhật đã đi trước gần một thế kỷ! Vài chục năm đầu Nhật Bản diễn ra canh tân, Phan Bội Châu đã ý thức học theo. Đến tận thời kỳ đổi mới, Nhà nước của Đảng Cộng sản sang Nhật vẫn không nhận thấy ở Nhật một bài học nào ngoài chủ yếu tạo quan hệ vay vốn.

Quá trình đổi mới bằng cách thay đổi kinh tế mà không cải cách chính trị thật ra không phải là một thắng lợi mà chỉ nhằm kéo dài bảo thủ. Hãy nhớ lại bài học hạn chế thời Thiên Hoàng Minh Trị ở Nhật Bản như đã đề cập. Chính vì vẫn còn rơi rớt lại trong tư duy hạn chế của tôn sùng vua chúa tập quyền (sau này biến tướng thành đề cao lãnh tụ) nên Nhật hoàng đã bị Đảng Ái quốc, Đảng Tự do và nhân dân Nhật nổi dậy đấu tranh, tiếp tục mở rộng lộ trình đi đến dân chủ, cải cách hoạt động nghị viện trở nên thông thoáng, ngăn cản được sự xâm nhập của CNCS. Tất yếu thực tế sẽ đặt ra vấn đề đổi mới toàn diện một lần nữa mà không còn cách nào cưỡng chế đối với Việt Nam.

Ở thời điểm Nhật bại trận, 3 triệu người chết và mất tích, 13 triệu người thất nghiệp, 40% đô thị, 80% tàu bè, 34% nhà máy công nghiệp bị tàn phá. Ngay sau đó, lực lượng Đồng minh đã giúp cải cách kinh tế, đối ngoại, hành chính và hoạt động đảng phái chính trị… Người Nhật cũng bỏ qua hận thù chiến tranh, bắt tay với chính Hoa Kỳ, vươn lên từ tro tàn đổ nát. Đến năm 1952, tăng trưởng bình phục bằng mức trước chiến tranh. Từ 1960 đến 1973 đánh dấu “bước phát triển thần kỳ” của Nhật Bản, xếp lên hàng thứ nhì thế giới cho đến nay. Còn ở Việt Nam, mấy chục năm sau có vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị còn đổ lỗi nghèo đói do chiến tranh. Quả là sáng suốt và táo bạo không hẳn chỉ ở thế hệ cao tuổi. Chính sách của Đảng Cộng sản sau 1975 để lại tác động xấu đến hàng chục năm, cho nên Việt Nam ngày nay muốn phát triển phải tốn thêm hàng chục năm sau nữa chưa bằng Nhật Bản bây giờ!

Những thập niên đầu của thế kỷ 19, Thái Lan thoát khỏi thân phận thuộc địa Anh và tránh được xung đột với Pháp nhờ khôn khéo ngoại giao, ký kết các hiệp ước tạm thời. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Thái Lan lại ký hiệp ước với Nhật nên cũng tránh nhiều bom đạn. Vào tháng 8-1944, khi Nhật thua Pháp, lập tức đảo chính xảy ra, phe nắm chính quyền chọn đồng minh lâu dài và ổn định là Hoa Kỳ. Những năm 1960, mặc dù lực lượng du kích cộng sản trong nước lớn mạnh, nhưng nhìn chung chính phủ vẫn kiểm soát tình hình. Năm 1987, theo đà sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, du kích cộng sản ở nước này suy yếu hẳn đến nay.

Về kinh tế, ngay sau khi trở thành đồng minh với Hoa Kỳ, Thái Lan đã xây dựng thị trường tự do trong nước, mở ngay cánh cửa bước vào thị trường xuất khẩu hàng cao cấp sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu: gạo, hàng dệt may, giày dép, hải sản, cao su, nữ trang, xe hơi, máy tính, thiết bị điện, sản phẩm gỗ… Nông nghiệp được cải tạo triệt để từ đất đai, giống vật nuôi cây trồng đến khâu chế biến sản phẩm. Thái Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, mỗi năm xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo tinh chế từ những giống lúa lai tạo có nhiều ưu điểm nổi bật. Du lịch Thái Lan cũng là điểm đến thu hút rất nhiều người trên thế giới, đem lại thu nhập lớn, được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói”. Thành công lớn nhất về ngoại giao của Thái Lan các thời kỳ lịch sử là tránh cho dân tộc bị máu đổ xương rơi và chọn được đồng minh có đầy đủ điều kiện giúp nền kinh tế phát triển.

Hàn Quốc cũng có con đường riêng. Năm 1945, lãnh thổ và dân tộc bị chia cắt thành hai miền. Liên Xô chiếm đóng phía Bắc và Hoa Kỳ chiếm đóng phía Nam. Tổng tuyển cử là giải pháp do LHQ đưa ra cuối năm 1947 nhưng Liên Xô bác bỏ. Năm 1948, Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời theo chế độ ủy trị bởi Hoa Kỳ phía Nam và Liên Xô phía Bắc. Tháng 6-1950, Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn Bắc Triều Tiên tấn công xuống phía Nam, chiếm đến 95% diện tích. Tháng 9-1950, quân đội LHQ do Hoa Kỳ đứng đầu đánh chiếm ngược lên phía Bắc đến sông Áp Lục sát với Trung Quốc. Tháng sau, chí nguyện quân Trung Quốc vào cuộc với khẩu hiệu “kháng Mỹ viện Triều” đánh chiếm lại miền Bắc đến vĩ tuyến 38. Cuộc chiến kéo dài với nhiều tổn thất, hơn ba triệu người chết, nhiều gia đình ly tán chia lìa. Tháng 7-1953, tuy đại diện hai miền thoả thuận đình chiến và lập ra vùng đệm phi quân sự nhưng Chính phủ phía Bắc không công nhận Chính phủ phía Nam, và ngược lại.

Xuất phát điểm của Hàn Quốc không hơn gì Việt Nam, thậm chí nhiều mặt còn kém may mắn, nhất là tài nguyên và khí hậu. Nhưng năm 1970, Hàn Quốc đã trở thành nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Country-NIC) và là một trong bốn “Con rồng Châu Á”. Nhiều công ty lớn như Samsung, Huyndai, GM Daewoo… vươn ra thị trường thế giới. Năm 1987, hiến pháp sửa đổi quy định nhân dân được quyền trực tiếp bầu Tổng thống, tạo cơ hội cho xã hội dân sự hình thành. Năm 1990, Hàn Quốc mở đợt viện trợ lương thực cho Bắc Triều Tiên trong nạn đói làm chết hai triệu người ở phía Bắc.

Vinh dự đến với Hàn Quốc vào năm 1997, Tổng thống Kim Đại Trung (Kim Dae-jung) được trao Giải Nobel hòa bình do có đóng góp lớn xúc tiến bình thường hóa quan hệ với Bắc Triều Tiên. Cùng thời gian này, Hàn Quốc mạnh tay vay 57 tỉ USD Quỹ tiền tệ quốc tế, quyết vượt qua khủng khoảng kinh tế thế giới. Đến năm 2000, Hàn Quốc trả hết nợ vay, năm 2003 dự trữ ngoại tệ đạt 133 tỷ USD, năm 2004 GDP đạt 680 tỉ USD xếp thứ 12 trên thế giới, năm 2005 GDP đạt 789 tỉ USD với thu nhập bình quân 22.620 USD/người. Thành công kinh tế Hàn Quốc được thế giới ngưỡng mộ bằng tên gọi “Kỳ tích sông Hàn”.

Nhìn lại Thái Lan để thấy không biết bao nhiêu lần máu đổ và nghèo nàn kiệt quệ ở Việt Nam chỉ vì Bộ Chính trị “kiên định với chủ nghĩa Marx-Lenin”, đặt giá trị và nhiệm vụ giai cấp lên hàng đầu. Nhìn lại Hàn Quốc để càng hiểu hơn ở Việt Nam với công cuộc “giải phóng miền Nam” cùng bao nhiêu hậu quả liên tiếp mấy chục năm sau cả nước phải gánh chịu chính là một trang tội ác được ngụy trang bởi từ ngữ nghe rất nhân nghĩa, tốt đẹp! Thái Lan và Hàn Quốc không hô hào đổi mới và không tự ca ngợi rầm rộ nhưng họ bắt tay vào những việc làm thiết thực nên kết quả tiến xa. Với các nước này, các đảng phái cạnh tranh và kềm chế lẫn nhau trong khuôn khổ pháp luật, cho nên hoạt động chính quyền khó đi ngược với quyền lợi dân tộc. Còn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam: nghĩ một đường nói một nẻo, làm ít kể thì nhiều, không làm cũng tranh công hay báo cáo gian, lấy chỉ đạo thay cho cả pháp luật.

Sách lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam có dẫn trích một quan điểm của Lenin, trong đó nhà cách mạng nước Nga cho rằng khoa học chính trị biểu hiện ở hai mặt: phải chú ý đến kinh nghiệm của các nước khác, nhất là những nước có hoàn cảnh tương tự; mặt khác khi hoạch định chính sách cần phải tính đến tất cả những lực lượng, những nhóm, những đảng, những giai cấp và quần chúng hoạt động trong nước, chứ không thể căn cứ theo nguyện vọng của một nhóm hay một đảng duy nhất. Lý luận là như vậy, nhưng thực hiện hầu như hoàn toàn ngược lại: áp dụng mô hình tận Liên Xô để rồi cuối cùng phải quay về khối ASEAN, văn kiện các nhiệm kỳ chỉ là ý chí chủ quan của Bộ Chính trị để rồi nhiều chương trình kế hoạch bị thực tế đào thải từ đầu. Thế nhưng, trong toàn Đảng lại tiếp tục không có ai đứng ra chịu trách nhiệm này!

 

Những bài học ngoài châu Á

Đó là bài học hòa giải từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Nam Phi. Nelson Mandela sinh năm 1918 ở vùng Transkei thuộc miền Đông – Nam Nam Phi. Ông kiên trì học tập và tốt nghiệp luật sư, tham gia cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc. Năm 1962, ông bị bắt và bị giam 28 năm ở nhà lao trên đảo Robben cách ly đất liền. Năm 1990, ông được phóng thích với cảm giác “thấy cuộc đời trở lại”. Đây cũng là lúc tình hình Nam Phi biến đổi, tiến tới việc hủy bỏ chế độ Apartheid kỳ thị chủng tộc của nhóm thiểu số 20% da trắng cai trị gần 80% da đen. Năm 1993, ông được trao Giải thưởng Nobel hòa bình thế giới. Năm 1994, ông đắc cử và trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên ở Nam Phi.

Có kết quả đắc cử này cũng nhờ vào tinh thần quân tử của Tổng thống De Klerk, thủ lĩnh Đảng Quốc gia cầm quyền của người da trắng, sẵn sàng biết dừng lại theo quy luật, trả tự do cho Nelson Mandela, mời Đảng ANC tham gia tranh cử dân chủ và chúc mừng ông Mandela thắng cử. Vì vậy, người thua cuộc được đánh giá đã góp phần giải phóng Nam Phi khỏi chế độ Apartheid và cũng xứng đáng nhận Giải thưởng Nobel hòa bình vào năm 1995. Đáp lại, phía thắng cuộc rất giàu tinh thần cao thượng. Ở cương vị nguyên thủ quốc gia, ông Mandela và Đảng ANC đã không quay lại đàn áp đẫm máu mà tiến hành một cuộc hòa hợp với những nhân vật đối đầu thù địch từng bắt giam ông.

Trong bốn năm sau khi nắm chính quyền, Chính phủ của Đảng ANC tìm mọi cách ổn định tình hình đất nước, công an và quân đội vẫn giữ nguyên, tất cả các cơ sở kinh tế của người da trắng vẫn tiếp tục hoạt động, các đảng phái chính trị không bị giải tán mà còn được bầu cử tự do. Ủy ban tìm hiểu sự thật và hòa giải được thành lập, do Tổng giám mục Desmond Tutu đứng đầu cùng sự tham gia của đại diện các đảng phái có trách nhiệm trả lại công bằng cho lịch sử: bất kể da trắng hay da đen đã từng vi phạm tội ác trong chế độ Apartheid đều bị xét xử công khai, được quyền có luật sư bào chữa. Người được minh oan trở thành công dân tự do. Đây là một sự kiện giàu bản lĩnh và tính nhân văn cao đẹp hiếm thấy trong lịch sử hoạt động chính trị các thời kỳ và khu vực trên thế giới. Vì vậy, ông Nelson Mandela không những là anh hùng của dân tộc Nam Phi, mà còn trở thành biểu tượng hướng đến tự do của những người bị tù đày áp bức.

Dân chủ và kiên trì ôn hòa đã đem lại chiến thắng vinh quang cho Mandela và Đảng ANC, đồng thời Nam Phi không hề đổ máu. Trong khi đó, súng đạn và bội ước Hiệp định Paris đã làm nên chiến thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc bắt giam cải tạo các quân nhân quan chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cải tạo nông nghiệp, cải tạo công thương, phân biệt lý lịch khiến đất nước thống nhất nhưng không bao giờ có hòa hợp. Sau khi thất bại, Hoa Kỳ đã quay lại bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, cũng như thế lực của Tổng thống De Klerk ở Nam Phi. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam không những không cao thượng như Nelson Mandela, còn phá nát toàn bộ nền tảng đời sống vật chất và tinh thần ở miền Nam cũng như cả nước.

Đó còn là bài học từ sự kiện tái thống nhất nước Đức. Sau khi Bức tường Berlin bị sụp đổ, tháng 10-1990 Đông Đức và Tây Đức chính thức thống nhất, trở thành nước Cộng hòa Liên Bang Đức. Chính quyền đã huy động tất cả điều kiện nhằm điều chỉnh sự chênh lệch giữa hai miền. Toàn bộ việc xây mới cơ sở hạ tầng được ưu tiên cho Đông Đức để tiến kịp mức độ giàu có ở Tây Đức mà không hề có phân biệt ý thức hệ. Thủ tướng Angela Merkel từng là một người trong chế độ Đông Đức cộng sản. Nhờ vậy, chưa đầy mười năm sau, nước Đức thống nhất đã trở thành quốc gia thứ hai về xuất nhập khẩu và là cường quốc kinh tế thứ ba trên thế giới.

Sự kiện này thêm lần nữa để người Việt trong và ngoài nước nhìn lại chính sách của Đảng Cộng sản vẫn còn phân biệt nặng nề sau 35 năm đất nước thống nhất. Vì chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm lụi tàn chất xám đất nước, phá vỡ các điều kiện đáng ra tiếp tục được vận hành để đưa xã hội đi đến phồn thịnh mà đất nước đã chìm vào nghèo nàn tụt hậu. Khi nhận thức ra sai lầm thì đã trắng tay. Lại thêm chủ trương cho các nhà tư bản nước ngoài vào đầu tư xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, người lao động biến thành kẻ làm thuê cho nước ngoài ngay tại Việt Nam. Chính sách của Đảng Cộng sản đã biến hàng triệu người trở thành bị bóc lột.

****

Con đường dân tộc Việt Nam đến chặng này diễn ra như thế nào? Đối với hệ tư tưởng cộng sản, hầu hết trí thức đều khó gần. Nông dân chỉ nôm na hiểu là không thiết thực và làm theo cách tự bảo vệ mình. Khi lý luận về xây dựng CNXH trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường, học sinh sinh viên tiếp thu cũng chẳng bao nhiêu. Như đã đề cập người Việt với đời sống tâm linh và tín ngưỡng đa thần mà không phải là chủ nghĩa vô thần, hầu hết các tầng lớp xã hội chưa hề tự giác tiếp cận chủ nghĩa Marx-Lenin, đừng nói là tiếp nhận hay tiếp biến. Thử làm một cuộc khảo sát ý kiến, sẽ thấy ngay trả lời đây là hệ tư tưởng từ chỗ ban đầu bị áp đặt đi đến áp đảo toàn xã hội.

Đến chặng đường này, dường như lịch sử có sự lặp lại kỳ lạ. Nhờ vào công cuộc “chinh Nam phạt Bắc” của Quang Trung, triều Nguyễn có thêm thuận lợi tiến tới thống nhất đất nước. Nhờ đóng góp của các phong trào đấu tranh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam trên tuyến đầu, Đảng Cộng sản phía Bắc cũng đạt được mục tiêu thống nhất cả nước. Sau khi nắm quyền từ Bắc đến Nam, triều Nguyễn thực hiện những cuộc trả thù tàn nhẫn đối với ba anh em nhà Tây Sơn và những người thân thích, bế môn tỏa cảng, sát hại giáo dân. Sau năm 1975, Đảng Cộng sản cũng bỏ tù hầu hết nhân lực trong hệ thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chia rẽ dân tộc gây thảm cảnh biển Đông thành mồ chôn thủy táng hàng ngàn người, lại cũng bế môn tỏa cảng, tịch thu tài sản và chính trị hóa tất cả các tôn giáo. Nhà Nguyễn cầu cứu Trung Quốc nhằm chống Pháp nhưng cuối cùng thất bại, trong khi Trung Quốc dựa vào đó mưu toan chiếm lấy một phần Bắc Kỳ, về sau vận mệnh dân tộc còn nằm vào tay nhóm người Minh Hương ở triều đình. Còn hơn thế nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam ngả vào vòng tay Trung Quốc sau sự cố Liên Xô – Đông Âu để đổi lấy chỗ bám víu tồn tại, bị xiết chặt lệ thuộc đã không có phản ứng như thời Pháp còn chấp nhận mất một phần đất liền và hải đảo, vận mệnh dân tộc có nguy cơ đặt vào tay một bộ phận trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam xem là thành tích ngoạn mục, là chặng đường gian nan, là kết quả của dân chủ và tập trung trí tuệ. Nhưng những chủ trương của Đảng đều đi sau thực tế, thậm chí đến khi không còn cưỡng lại mới chịu “uốn theo”. Bất chấp thực tế đó, lời nói đầu trong Hiến pháp 1992 khẳng định: “…công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng…”. Những nhân vật có công lớn với đổi mới đều bị giới hạn và dừng lại bằng nhiều “biện pháp nghiệp vụ” khác nhau, mà thông thường là chuyển công tác khi nhận thấy diễn ra xu hướng cải tạo triệt để và tận gốc cái cũ. Đảng Cộng sản cho đây là đường lối khôn ngoan, tránh bị trượt dài như Liên Xô và Đông Âu.

Cũng qua đổi mới, Đảng Cộng sản cho rằng đã tự cởi trói, phá bỏ thế cấm vận. Về sau, một số lãnh đạo còn rút ra bài học Liên Xô bị sụp đổ là do “Tức nước vỡ bờ”, còn Việt Nam vẫn giữ được chính quyền là do biết từng bước “xả lũ”. Thật ra, “Tức nước vỡ bờ” là đúng quy luật, còn ra sức chặn dòng chảy chính là tạo ra môi sinh héo hắt ao tù, là biểu hiện tiếp tục bảo thủ và gây ra trì trệ. Mặt khác, “xả lũ” tức là nới lỏng nhằm né tránh bùng nổ một cuộc trưng cầu dân ý đánh giá uy tín và năng lực lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản. Riêng hình ảnh diễn đạt này cho thấy tính chất cai trị không tuân theo quy luật tự nhiên mà còn ngăn cản tiến bộ của một đảng cầm quyền. Thực ra, trong kinh tế đối ngoại, Đảng Cộng sản phải hy sinh nhiều quyền lợi dân tộc để tìm cách thoát khỏi cấm vận. Ngày nay, toàn cầu hóa là xu hướng bao trùm đã buộc phải diễn ra đổi mới mà không thể khác được. Luận điểm trên chỉ nhằm ngụy biện, duy trì sự lãnh đạo kém hiệu quả. Ông Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, cho rằng: “20 năm qua, cuộc đấu tranh giữa một bên là Đảng Cộng sản và một bên là toàn dân Việt Nam, kết quả là dân thắng Đảng trên hai mặt trận kinh tế và tư tưởng, nhưng dân chưa thắng về chính trị, vì hệ thống chuyên chính vô sản vẫn còn nguyên”. Sự bảo thủ và độc đoán trong đường lối lãnh đạo chính là nằm ở chỗ “dân chưa thắng này”.

Không ban hành thành chủ trương, nhưng đảng viên có chức quyền các cấp nhanh chóng tích lũy tài sản, tham ô, chuyển tiền gửi ra nước ngoài, giữ kín thông tin vay nợ và bán tài nguyên quốc gia, không công khai phân phối sử dụng ngân sách hàng năm các cấp, cho con cháu đi học ở các nước TBCN, âm thầm chuyển đổi và vẫn nắm giữ các tổng công ty làm chỗ dựa kinh tế… Đó là những việc làm tự chuyển hóa thành “tư bản đỏ” để thích nghi tồn tại. Và ngay sau khi vừa ra khỏi khủng hoảng với đường lối ngoại giao nghiêng về Trung Quốc, Đảng Cộng sản lại tuyên bố kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin, thêm kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là chủ trương đổi mới mà theo ông Hà Sĩ Phu chỉ là “tận dụng tình trạng dân trí thấp để không đổi mới mà vẫn đổi mới, để nói “đổi mới của dân, do dân, vì dân” mà thực ra là “đổi mới của mình, do mình, vì mình”, để miệng nói định hướng XHCN mà tay làm định hướng TBCN”.

Những gì Marx đã không nghĩ và viết ra, hoặc nghĩ và viết ra ở hoàn cảnh lịch sử thời ông sống thì dù có sửa đổi, khẳng định hay sáng tạo thêm cũng chỉ là vô ích. Tại sao phải bổ sung và bảo vệ một lý luận mà sau khi áp dụng đã để lại quá khứ đáng sợ, nếu không phải việc làm đó nhằm kéo dài sự tồn tại của một nền chính trị yếu kém? Và học thuyết Marx cũng chỉ là “lý thuyết màu xám” trong khi cây đời từng mùa, từng năm vẫn lớn lên “mãi mãi xanh tươi”. Trên cây đời ấy, Marx và những thế hệ cùng thời không phải là duy nhất. Cho dù thật sự là vĩ nhân, Marx cũng không thể khác hơn hình ảnh mà nhà thơ Gơt (J. W. von Goethe) của dân tộc Đức đã so sánh: “Các thế hệ loài người như những mùa lá rụng trên cây”. Một khi đã chấm dứt vai trò, chỉ còn cách dừng lại khi quy luật buộc phải dừng.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong sách. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT ĐẾN THỜI KỲ ĐỔI MỚI

  1. Dân nghèo nói:

    Tuyệt !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s