CHA ÔNG KHAI MỞ CON ĐƯỜNG

Điều kiện tự nhiên

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, hình dáng chữ S, tiếp giáp với biển Thái Bình Dương phía Đông, với đất liền: Trung Quốc 1.150 km đường biên phía Bắc, Lào 1.650 km đường biên phía Tây Bắc và Campuchia 930 km đường biên phía Tây Nam. Từ điểm cực Bắc ở Đồng Văn, Hà Giang (23°24’ vĩ độ Bắc và 105°20’ kinh độ Đông) đến điểm cực Nam ở Xóm Mũi, Cà Mau (8°30’ vĩ độ Bắc và 104°40’ kinh độ Đông) dài 1.650 km đường chim bay. Từ Tây sang Đông, phần đất liền nơi rộng nhất khoảng 500 km đường chim bay, nhưng có nơi chỉ “hẹp như thể một con đường qua lại” với 50 km chiều ngang. Điểm cực Đông ở Hòn Khói – Khánh Hòa (20°40’ vĩ độ Bắc và 109°30’ kinh độ Đông), điểm cực Tây ở vùng núi Pulasan – Lai Châu (22°40’ vĩ độ Bắc và 102°10’ kinh độ Đông).

Địa hình Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn kiến tạo: tiền cambry kéo dài 200 trăm triệu năm, hình thành thiên nhiên hoang sơ cùng những dãy núi vùng Tây Bắc và Trung Trung bộ; cổ kiến tạo kéo dài trên 500 triệu năm với biến đổi tiến – thoái của nước biển, trồi – sụt và bồi đắp – phún trào của mặt đất tiến tới hoàn chỉnh địa hình, cảnh quan, hệ sinh vật; tân kiến tạo tiếp tục hoàn thiện những bán bình nguyên, vùng núi và cao nguyên, những nếp đứt gãy hướng Tây Bắc – Đông Nam, các vòng cung, thung lũng, đầm lầy, châu thổ…

Đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất liền, độ cao dưới 1.000 m so với mực nước biển, hầu hết thuộc dạng núi già trẻ hóa lại, cấu tạo bởi nhiều loại nham thạch khác nhau. Phía Bắc chủ yếu là núi đá vôi, phía Nam là đất đỏ bazan. Trong dãy núi dài 280 km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, Phanxipăng cao 3.143 m được mệnh danh là “nóc nhà Đông Dương”. Đường chinh phục đỉnh cao này trải qua năm chặng: chân núi phong phú các loại thảo quả, các cây mít, gạo, cơi; tiếp theo là rừng nguyên sinh dây leo nhiều tầng bậc rậm rạp với các nhóm cây lá kim như pơmu, thiết sam, lãnh sam, kim sam, thông đỏ, hoàng đàn; từ 2.000 m trở lên mây mù bao phủ, độ ẩm rất cao; qua khỏi tầng này lại hiện ra bầu trời trong xanh nhưng gió lạnh và sự sống cằn cỗi, ở cao độ 2.963 m có một cột mốc do người Pháp cắm năm 1905; lên đỉnh cao 3.143 m có một khối chóp kim loại do những nhà leo núi nước ngoài chinh phục đặt lên năm 1984.

Vùng Đông Bắc là các dãy núi hình bán cung bao quanh khối núi vòm ở sông Chảy. Vùng Tây Bắc có nhiều đỉnh núi cao như Tây Côn Lĩnh 2.431 m, Kiều Liên Ti 2.403 m, Pu Ta Ca 2.274 m. Về các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, núi đồi thoải dần. Ra đến bờ biển ở Quảng Ninh, Hải Phòng, độ cao còn khoảng 1m so với mực nước biển. Vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ núi non trùng điệp và hùng vĩ, sườn dốc và vực sâu hiểm trở. Nhiều dãy núi xếp theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, xen kẽ cùng những cao nguyên đá vôi đồ sộ. Khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng rộng khoảng 200.000 ha, là một phần của vùng núi đá vôi cổ nhất kiến tạo nên châu Á vào 400 triệu năm trước. 94% diện tích nơi đây là rừng nguyên sinh, mức độ đa dạng sinh học cao nhất Việt Nam. Động Phong Nha sâu trên 4.500 m có hằng hà sa số các nhũ đá kỳ vĩ, sông ngầm bên dưới dài gần 14 km. Phong Nha đạt 7 kỷ lục thế giới về hang động: hang nước dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát và bãi đá ngầm đẹp nhất, hồ nước ngầm đẹp nhất, thạch nhũ kỳ ảo nhất, sông ngầm dài nhất, hang khô ráo và rộng nhất. Nơi đây còn có hàng trăm hang động khác xung quanh.

Trường Sơn là dãy núi lớn và dài nhất: phía Đông đối diện với biển, một số đoạn bị xâm thực mạnh, thường mưa do cản hầu hết hơi nước theo gió từ biển vào; phía Tây thoải dần về tả ngạn sông Mê Kông và khô nóng. Có đoạn những dãy núi đá cao 2.000 m ra sát biển. Cùng với độ sâu tương tự của đáy biển, tổng cộng độ chênh lệch địa hình đáy biển – đỉnh núi lên đến khoảng 4.000 m. Vùng Nam Trung bộ và Nam bộ tính từ núi Bạch Mã vào Nam với các tầng sơn nguyên đất đỏ bazan rộng lớn, chênh lệch độ cao trong khoảng 500 m, có các mạch núi án ngữ phía Bắc và Nam. Qua các dãy núi cuối cùng ở phía Nam, đồng bằng Nam bộ rộng lớn và phì nhiêu mở ra.

Đất đai phần lớn thuộc nhóm feralit (vùng đá vôi phía Bắc, vùng bazan phía Nam), đất phù sa (vùng châu thổ các sông và gần biển), đất xám, đất đỏ, đất phèn, đất nhiễm mặn, đất cát và á cát. Ngoài ra, còn có nhiều loại đất có giá trị công nghiệp như cát nấu thủy tinh, cao lanh, đất sét… Có tổng cộng 31 triệu ha đất trồng trọt các loại, chiếm 22% diện tích. Đất lâm nghiệp 19 triệu ha (hiện còn 8,6 triệu ha rừng tự nhiên), chiếm gần 30% diện tích. Thảm động thực vật phong phú, cây trồng vật nuôi đa dạng danh mục.

Việt Nam có 2.860 con sông lớn nhỏ với tổng lưu lượng dòng chảy khoảng 867 tỉ m3/năm, hình thành gần 20 cửa biển lớn nhỏ. Các sông hầu hết là sông trẻ, chảy qua địa hình đồi núi thung lũng, nhiều thác ghềnh hẹp và dốc, nước chảy xiết và êm đềm, bờ lở và bồi… Do có mùa mưa và mùa khô nên lưu lượng nhiều dòng chảy không ổn định. Phần lớn các sông mang lượng phù sa bào mòn ở những vùng đất thượng nguồn, lắng đọng bồi đắp lên các châu thổ và vùng duyên hải. Sông Hồng có 614 phụ lưu, phần lưu vực ở Việt Nam rộng gần 80.000 km2, đổ ra biển 12 tỉ m3 nước/năm. Sông Cửu Long dài 230 km trong lãnh thổ Việt Nam, chia thành hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu với 9 cửa đổ ra biển, chiếm khoảng 60% tổng lưu lượng nước tất cả các con sông. Cả hai con sông lớn đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Theo hai dòng sông lớn là đồng bằng Bắc bộ rộng 15.000 km2 và Nam bộ rộng 40.000 km2. Đồng bằng Nam bộ bị nước mặn xâm thực theo chế độ thủy triều lên 1/3 diện tích về phía biển, hàng năm lấn ra biển gần 80 m ở Cà Mau. Nơi đây, nhà văn Nguyễn Tuân từng ví là ngón chân chưa khô bùn vạn dặm trên đường mở mang bờ cõi của cha ông. Giữa hai đồng bằng lớn hai đầu đất nước là chuỗi các vùng đồng bằng nhỏ duyên hải miền Trung.

Về khí hậu, đầu thời kỳ tân kiến tạo đã hình thành chế độ khí hậu lục địa, sau chuyển sang nhiệt đới ẩm, nằm trong vành đai nhiệt đới nửa cầu Bắc nhưng gần chí tuyến Bắc hơn là xích đạo trái đất. Nhiệt độ trung bình khoảng 23°C, chênh lệch 22°C –  27°C, độ ẩm trung bình 80%, số giờ nắng khoảng 1.500 – 2.000 giờ. Lượng mưa khoảng 100 ngày/năm, chênh lệch 1.500 mm – 2.000 mm, có nơi lượng mưa đạt đến 3.000 – 4.000 mm/năm. Mùa mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm. Mưa phùn nhẹ hạt phía Bắc vào xuân, dai dẳng và ẩm ướt nhiều nhất là mưa Huế, mưa bóng mây đan xen với các giờ nắng trong ngày phía Nam… Cùng với địa hình, chế độ gió mùa cũng hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cả nước. Nhìn chung, từ đèo Hải Vân ra Bắc thuộc khí hậu bốn mùa, càng về Nam càng rõ hai mùa.

Do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Việt Nam vào mùa đông lạnh và mùa hạ mát hơn, nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các nước châu Á trên cùng vĩ độ. Khí hậu Việt Nam kết hợp với cao độ vùng miền tạo ra Sa Pa, Bà Nà, Đà Lạt và nhiều địa danh nổi tiếng, cảnh thiên nhiên và đặc sản độc đáo. Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.600 m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình 15°C – 18°C, mùa hè mát mẻ, mùa đông mây mù bao phủ, có năm tuyết rơi, nhiều loại dược liệu quý và các loại rau quả vùng ôn đới. Bà Nà (phía Tây Đà Nẵng) có đỉnh núi cao gần 1.500 m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình 17°C – 20°C với nhiều khu rừng nguyên sinh hệ động thực vật phong phú: 136 họ, 379 chi, 543 loài. Đà Lạt (Lâm Đồng) độ cao 1.500 m so với mực nước biển, nhiệt độ 15°C – 24°C, thời tiết bốn mùa trong ngày. Đây là xứ sở của thông, hoa quỳ vàng và nhiều hoa đẹp, còn được mệnh danh là “bảo tàng” của các thác nước, vùng hồ, thung lũng, đồi cỏ…

Tuy nhiên, khí hậu và thời tiết bất thường cũng tạo ra lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, nhất là nhiều trận bão từ biển đổ bộ vào đất liền hàng năm. Từ năm 1954 đến 1991, thống kê cho thấy có 212 cơn bão xuất phát từ biển Thái Bình Dương. Với hai dòng hải lưu lớn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam hoạt động vào mùa đông và Tây Nam – Đông Bắc hoạt động vào mùa hè, luân chuyển đều đặn tạo ra những đợt áp thấp nhiệt đới từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm, ảnh hưởng trực tiếp vào đất liền, nhất là khu vực miền Trung và miền Bắc. Trung bình có 6 cơn bão/năm, nhưng có năm đến 12 cơn bão.

Vùng biển được xác định thuộc chủ quyền Việt Nam nằm trong biển Đông, một diện tích mặt nước lớn và kín thuộc Thái Bình Dương. Theo quy định quốc tế, biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2, lãnh hải tiếp giáp với Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia, Thái Lan, Singapore. Đây là vùng biển hầu như nóng quanh năm, nhiệt độ mặt nước thường cao hơn nhiệt độ không khí, độ mặn trung bình là 34 phần nghìn. Vùng biển miền Bắc nhiệt độ 25°C – 21°C, miền Trung 28°C – 25°C và miền Nam 29°C – 27°C. Biển Việt Nam cũng hình thành hai chế độ thủy triều: nhật triều (nước lên xuống 1 lần/ngày) từ Móng cái đến Quảng Bình, Đà Nẵng đến mũi Ba Kiểm hay từ Hà Tiên đến mũi Cà Mau và bán nhật triều (nước lên xuống 2 lần/ngày) đối với các đoạn bờ biển còn lại. Dựa vào chế độ thủy triều mà cha ông ta có nhiều kinh nghiệm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và cả đánh giặc.

Biển Việt Nam có gần 7.000 loài động vật được biết đến (có 2.000 loài cá biển), còn là kho muối vô tận. Trong diện tích được xác định chủ quyền, có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ, kể cả một số đảo dạng bãi ngầm. Vịnh Bắc bộ có 3.000 đảo, biển thuộc miền Trung có hàng trăm đảo, khu vực thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu có 16 đảo, Phú Quốc là đảo lớn nhất. Hoàng Sa (Paracel Islands) nằm vào 110° – 113° kinh độ Đông và 15°45’ – 17°15’ vĩ độ Bắc, với trên 30 đảo, bãi đá ngầm và san hô, gồm ba nhóm đảo chính: Nguyệt Thiên, Tuyên Đức, Linh Côn. Trường Sa (Spratly Islands) nằm vào 111°30’ – 117°20’ kinh độ Đông và 6°50’ – 12° vĩ độ Bắc với trên 100 đảo trong diện tích 180.000 km2 mặt biển. Đây là hai quần đảo ở khu vực biển miền Trung, bị xâm chiếm bởi Trung Quốc và một số nước quanh vùng, đã và đang diễn ra nhiều tranh cãi về việc khẳng định chủ quyền. Hơn 120 bãi tắm nằm dọc theo bờ biển cát trắng giàu nắng và gió từ Bắc vào Nam, nhiều nơi cảnh đẹp, hàng trăm loại hải sản và thực phẩm quý hiếm cùng cách chế biến món ăn độc đáo… tạo ra tiềm năng lớn về du lịch.

Vịnh Hạ Long rộng trên 1.500 km2, gồm 1.696 đảo lớn nhỏ, cấu tạo đá vôi và phiến thạch, hình thành cách đây 250 – 280 triệu năm, thiên hình vạn trạng các đảo với nhiều tên gọi ấn tượng, bên trong có nhiều hang động đẹp. Trong đó, vùng tập trung rộng 434 km2 với 775 đảo được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ nhất năm 1994 và lần thứ hai năm 2000. Vịnh Cam Ranh rộng gần 60 km2, quanh năm nắng ấm, bầu trời trong xanh, chế độ thủy triều ổn định. Đáy vịnh sâu 18 m – 20 m, kết cấu cát pha bùn lắng chặt, gần như bằng phẳng. Các nhà nghiên cứu địa lý – quân sự thế giới công nhận Cam Ranh là một trong ba quân cảng có thế mạnh tổng hợp hải – lục – không quân và còn giữ vẻ đẹp hoang sơ (cùng với Vịnh Lad San Francisco và Rio de Janeiro). Vịnh Nha Trang diện tích 507 km2, nhiệt độ trung bình 26°C, gồm 19 đảo lớn nhỏ, là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có tập trung đủ các hệ sinh thái: đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các hệ sinh thái cửa sông, đảo biển, bãi cát. Đảo Hòn Mun có 350 loài san hô, chiếm 40% các loài san hô thế giới. Nhiều đảo ở đây là danh thắng và có các loại đặc sản nổi tiếng. Năm 2003, Nha Trang được xếp vào một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Vịnh Vân Phong rộng 80.000 ha, độ sâu 15 m – 22 m. Địa hình khu vực có đảo, bán đảo, vũng sâu, bãi biển, cồn cát, rừng nhiệt đới, rừng và động thực vật ngập mặn… Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong tương lai là nơi cập bến tàu container công suất 9.000 TEU, năng lực tiếp nhận 0,5 triệu TEU/năm. Dự án VIE89/003 của Hiệp hội Du lịch thế giới (OMT) đánh giá đây là một trong những cảnh đẹp và nơi nghỉ ngơi lý tưởng ở châu Á, vượt trên Phuket, sánh ngang với bãi biển Sierra Leone châu Phi.

Rừng Việt Nam thuộc dạng rừng rậm nhiệt đới, nhiều tầng bậc, lá rụng mùa khô. Ngoài ra, cũng có rừng thưa, rừng xa-van, rừng cỏ, rừng ngập mặn. Rừng là kho tàng vô giá về tài nguyên, có tác dụng điều tiết nước và khí hậu, quyết định an ninh quốc gia. Có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, nhiều nhóm gỗ quý, cây hương liệu, dược liệu và thực phẩm hiếm. Rừng cũng là nơi cư ngụ của khoảng 1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và da ẩm, cùng nhiều loài động vật quý hiếm. Độ che phủ của rừng chiếm gần 40%, trong đó rừng nguyên sinh còn khoảng 13%. Tài nguyên rừng ngày nay đang có xu hướng bị hủy hoại và cạn kiệt nhiều mặt, cần được bảo vệ và khôi phục.

Vườn Quốc gia Cúc Phương rộng 22.200 ha với 3/4 diện tích núi đá vôi. Nơi đây có suối nước nóng 38°C, các cây chò xanh và sấu cổ thụ cao 50 m – 70 m đã nghìn năm tuổi, gần 2.000 loài thực vật, 71 loài thú, 319 loài chim, 33 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư. Các thú quý hiếm: gấu ngựa, lợn lòi, báo, hươu sao, vọc quần đùi, thằn lằn bay, sóc bay… Vườn Quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 trên trái đất, rộng 70.548 ha, khí hậu chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, xung quanh có sông suối bao bọc, bên trong gồm rừng già, đầm lầy, trảng cỏ, bãi cát vàng ven bờ, đảo giữa sông, suối dốc… Nơi đây có 1.362 loài thực vật, 62 loài thú, 121 loài chim. Thú quý hiếm: hạc cổ trắng, gà đẫy Giava, cò lao Ấn Độ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, cá sấu nước ngọt, công, trĩ, gà lôi, le le, mòng két… Gỗ quý: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ… Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau rộng 41.862 ha, thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên, đa dạng sinh học – cảnh quan – văn hóa. Nơi đây còn tồn tại nguồn gien đặc hữu 22 loài thực vật ngập mặn, cùng các loài có tên trong sách đỏ thế giới: cà khu, khỉ đuôi dài, bồ nông chân xám, quắn trắng, cò Trung Quốc… Rừng ở đây có tác dụng chống xói lở, giữ cho các bãi bồi vươn ra biển, cung cấp nguồn thủy sản phong phú. UNESCO công nhận các khu dự trữ sinh quyển thế giới như: Cát Bà (Hải Phòng), Tiền Hải (Thái Bình), Giao Thủy (Nam Định), Tây Nghệ An, đảo Cù lao Chàm (Quảng Nam), Cần Giờ (Sài Gòn), Nam Cát Tiên (Đồng Nai – Bình Phước – Lâm Đồng), Phú Quốc (Kiên Giang), Cà Mau.

Cùng với biển và rừng, tài nguyên còn có nguồn nước mặt (gồm nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và khoáng sản. Việt Nam có 394.000 ha ao hồ. Hồ Ba Bể kiến tạo từ các vết nứt gãy cũ, hồ ở Tây Nguyên có nguồn gốc từ các miệng núi lửa đã tắt, các ao hồ đầm lầy vùng ven biển là dấu tích của quá trình bồi lắng không đồng đều. Đây là kho tàng phong phú cung cấp thủy hải sản (riêng cá nước ngọt có 200 loài), thủy điện, nước sinh hoạt. Nguồn nước ngầm, nước khoáng, nước nóng cũng có ở nhiều nơi. Về khoáng sản, Việt Nam nằm trong vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải với 2.000 điểm mỏ và quặng. Trong khoảng 90 loại khoáng sản được xác định, có đầy đủ than (6 tỉ tấn), dầu khí (4 tỉ thùng dầu và 70 tỉ m3 khí đốt), U-ra-ni (300.000 tấn), kim loại đen và màu, khoáng sản phi kim loại… Nắng và gió là tài nguyên năng lượng tương lai.

Việt Nam đa dạng và phong phú các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang bản sắc độc đáo: trên 1.400 di tích kiến trúc nghệ thuật, 70 di tích khảo cổ, trên 110 danh thắng, hàng trăm lễ hội truyền thống và các thuần phong mỹ tục cần cho việc nghiên cứu văn hóa dân tộc và nhân loại. UNESCO đã công nhận các vịnh đẹp, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Quần thể kiến trúc kinh thành Huế, Khu đô thị cổ Hội An, Khu di tích tháp Chàm Mỹ Sơn, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ và ca trù, mộc bản triều Nguyễn, bia đá Văn Miếu – Quốc Tử Giám…

Việt Nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm trên 80%. Căn cứ về ngôn ngữ, có 8 nhóm: nhóm Việt – Mường (4 dân tộc: Kinh, Chứt, Mường, Thổ), nhóm Tày – Thái (8 dân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái), nhóm Môn – Khmer (21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, Mơ Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ổi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Sê Tiêng), Nhóm Mông – Dao (3 dân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn), nhóm Ka Dai (4 dân tộc: Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo), nhóm Nam Đảo (5 dân tộc: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai), nhóm Hán (3 dân tộc: Hoa, Ngái, Sán Dìu), nhóm Tạng (6 dân tộc: Cống, Hà Nhi, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La). Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình phân ly và cố kết trong mỗi dân tộc và các dân tộc đã diễn ra. Khi đất nước và thể chế gắn liền với quá trình mở rộng không gian sinh tồn, các dân tộc gia nhập, hình thành nên cộng đồng người Việt đa dạng bản sắc. Quá trình cùng tham gia hoạt động kinh tế và các lĩnh vực đời sống đã thể hiện tinh thần đoàn kết, cộng cư xây dựng các làng xã, tiểu vùng trên cả nước.

Nhìn chung, Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú, vị trí địa lý cũng tạo ra hoàn cảnh đặc biệt trong các quan hệ kinh tế, chính trị, lối sống, văn hóa, cố kết dân tộc… suốt quá trình dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi.

 

Thời kỳ lập quốc và Bắc thuộc

 

Cội nguồn

Trước khi xuất hiện Quốc tổ Lạc Long Quân, có một truyền thuyết về nguồn gốc người Việt càng xa xưa hơn: vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, khi đến vùng đất phương Nam, ở chân Núi Ngũ Lĩnh thuộc Hồ Nam (Trung Quốc), gặp một tiên nữ là con gái của bà Vũ Tiên. Vua cảm mến, cầu hôn cùng tiên nữ, sau này sinh ra người con trai rất khôi ngô và tài trí, đặt tên là Lộc Tục. Về già, vua Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi lập vương nghiệp ở phương Bắc. Lộc Tục được phong làm vua ở vùng đất Hồ Nam, tính từ phía Nam sông Trường Giang xuống đồng bằng sông Hồng, sông Mã (Việt Nam), xưng là Kinh Dương Vương (vua của hai châu Kinh và Dương). Đây là vị vua đầu tiên mở ra triều đại sơ khai thời Hồng Bàng, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ (không phải là Quỷ Đỏ, mà có nghĩa là cộng đồng những người thường mình trần ở vùng khí hậu nóng, để phân biệt với cộng đồng Hoa – Hạ phương Bắc luôn mặc áo dày chống rét). Thời này đã có nhiều tộc người Việt cổ cùng sinh sống như: Dạ Lang, Mân Việt, Điền Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Sơn Việt, Âu Việt…

Kinh Dương Vương cầu hôn với Long nữ là con gái của vua Thần Long sống ở vùng hồ Động Đình, sinh ra người con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm khi trưởng thành được vua cha truyền ngôi, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lại cầu hôn với Âu Cơ là con gái vua Đế Lai, sinh một bọc bên trong chứa trăm trứng, nở ra trăm con. Một ngày nọ, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta và nàng, một bên là giống Rồng, một bên là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không cùng ở lâu dài được”. Cha Rồng mẹ Tiên từ đó chia hai số con, mẹ đưa một nửa lên rừng, cha đưa một nửa về miền biển sinh sống. Cho nên, “Trăm trứng nở trăm con”  và từ “đồng bào” (cùng một bào thai bọc trứng) là truyền thuyết độc đáo giải thích nguồn gốc dân tộc Việt Nam mà hiếm thấy ở các dân tộc khác trên thế giới.

Người con trưởng được ở lại làm vua vùng đất cũ, xưng là Hùng Vương. Theo đó, Nhà nước Văn Lang ra đời, đóng đô ở Bạch Hạc (vùng đất Phong Châu thuộc Phú Thọ ngày nay). Văn Lang “Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Hồ Động Đình, Nam giáp Hồ Tôn” [1]. Đất nước được chia thành 15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dương Tuyến, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường, Bình Văn. Các lạc tướng trông coi các bộ, dưới bộ là làng và chạ, do các bồ chính (bô lão) đứng đầu. Trong họ Hồng Bàng của các vua Hùng, con trai gọi là Quan lang, con gái gọi là Mỵ nương. Cha truyền con nối, có 18 đời vua Hùng trị vì:

– Hùng Dương (Lộc Tục)

– Hùng Hiền (Sùng Lãm)

– Hùng Lân

– Hùng Việp

– Hùng Hy

– Hùng Huy

– Hùng Chiêu

– Hùng Vĩ

– Hùng Định

– Hùng Hy (khác Hùng Hy đời thứ 5 về cách viết chữ Hán)

– Hùng Trinh

– Hùng Võ

– Hùng Việt

– Hùng Anh

– Hùng Triều

– Hùng Tạo

– Hùng Nghị

– Hùng Duệ.

Các lễ tục hình thành trong thời kỳ này: tục ăn trầu gắn liền sự tích trầu cau và câu tục ngữ “miếng trầu mở đầu câu chuyện”, tục thờ bà tổ nghề dệt Hoàng Phủ Thiếu Hoa, tục làm và dâng cúng bánh chưng bánh giầy, tục thờ Bố Cái dưa hấu (thờ ông bà tổ dưa hấu, gắn với nhân vật An Tiêm), tục cúng cung tên tại miếu thờ Tản Viên, tục cướp bông tại lễ cúng Thành hoàng Đinh Thiên Tích, tục thờ cơm sống, thờ lúa và thờ các thần…

Các vua Hùng cũng dựng đền thờ Quốc tổ. Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) nhìn xuống: đền Thượng, mộ Tổ, đền Trung, đền Hạ, đền Giếng, gác chuông, chùa Thiền Quang và Thiếu Tự… Đền Thượng là nơi các vua Hùng đến cúng tế trời đất để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống no đủ. Nơi đây quang cảnh bao la, phóng tầm bốn phương tám hướng thấy núi sông bày ra hùng vĩ. Mộ Tổ đặt theo hướng mặt trời mọc và lặn. Đền Trung là nơi họp bàn việc nước của các đời vua Hùng. Đền Hạ là nơi thờ mẹ Âu Cơ. Đền Giếng dưới chân núi, nơi thờ công chúa Tiên Dung (kết hôn cùng Chử Đồng Tử) và công chúa Ngọc Hoa (kết hôn cùng Tản Viên).

Thời vua Hùng, chính giỗ vào ngày 12 tháng Ba ÂL hàng năm, về sau đổi thành mồng 10 tháng Ba ÂL, chủ tế là bô lão ở địa phương, có quan triều thần cùng đến dự. Từ giỗ đã trở thành lễ hội thiêng liêng, người Việt hành hương về cội nguồn tỏ lòng kính hiếu với cơ nghiệp ngàn đời cha ông gây dựng. Trong ngày chính lễ, một lá cờ thần được treo ở đền Thượng. Các làng xã lân cận rước kiệu có bày lễ vật, đặc biệt lễ vật không thể thiếu bánh chưng bánh giầy đưa lên đền dâng cúng. Cùng theo là bát âm nhạc lễ, cờ quạt, lọng che, chiêng trống… Rồi lễ kéo dài, lại thêm hội diễn ra trong thời gian ấy với các trò dân gian, vừa để người dân tại chỗ vui chơi, vừa chờ con cháu cùng cha Rồng mẹ Tiên các miền kéo về dâng hương thành kính. Lặp lại nhiều đời, trong nhân dân có truyền thống đi dự lễ hội với câu ca dao:

“Dù ai xuôi ngược trăm vùng

Nhớ ngày giỗ tổ mồng Mười tháng Ba”.

Về mẹ Âu Cơ, trên đường đi qua nhiều nơi, một hôm đến trang Hiền Lương (Sơn Tây ngày nay), thấy nơi đây thuận sơn lợi thủy, mọi vật tươi tốt dồi dào, bà bèn dừng lại cho khai hoang lập ấp, dạy cho cư dân bản địa trồng lúa, nuôi tằm. Bà cho đào giếng đặt tên là giếng Loan, giếng Phượng. Các địa danh Gò Thị, Cây Dâu… cũng ra đời từ đó. Sau khi trang ấp thành hình, bà còn đi đến các vùng khác giúp dân lập làng.

Cuối đời, bà trở lại trang Hiền Lương. Vào giờ thoát tục 25 tháng Chạp ÂL, các tiên nữ xuất hiện đưa bà hướng thiên. Tại gốc đa, nơi bà còn để lại dải yếm lụa trước khi ra đi, nhân dân lập đền thờ. Đền quay mặt về hướng Nam, tả hữu có giếng Loan và giếng Phượng, trước có núi Giác, sau là sông Thao chảy quanh. Trong đền, tượng Quốc mẫu Âu Cơ ngồi trên ghế, hai tay đặt lên đầu gối, chân mang hài cong, toát ra vẻ cân đối, uy nghiêm mà hiền hậu nhân từ. Một số vị thần khác cũng được đắp tượng thờ trong đền, cùng những cảnh trang trí tùng – cúc – trúc – mai, rồng chầu phượng đáp…

Sau 18 đời vua Hùng, Nhà nước Văn Lang chấm dứt. Giữa thế kỷ III TCN, Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương ra đời, đóng đô ở Phong Khê. Trong một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay, khi An Dương Vương làm lễ tế trời, gặp Thần Kim Quy chỉ cho kế diệt được u hồn bạch kê và cách xây thành, lại được cho một móng chân của thần làm lẫy nỏ. Từ đó, An Dương Vương bắt đầu nghiệp nước. Loa Thành vị trí xác định ở huyện Đông Anh ngày nay, được đắp bằng 9 vòng thành đất theo hình xoáy ốc mà vòng ngoài cùng chu vi khoảng 8 km, vòng trong cùng 1,6 km, diện tích trung tâm rộng 2 km2. Tường thành bên ngoài thẳng đứng nhưng bên trong dốc thoải, cùng 18 ụ cao nhô ra rất lợi thế phòng thủ. Khối lượng đất đào hồ bao quanh và đắp các vòng tường thành khoảng 2 triệu m3, cho thấy thành có quy mô rất lớn. Đây là tòa thành đảm nhận cả ba chức năng: quân thành, thị thành và kinh thành.

Nỏ thần Liên Châu bắn một phát, cả trăm mũi tên bay ra. Thời kỳ này, kỹ thuật sản xuất vũ khí bằng đồng đã đạt đến đỉnh cao. Vì thế, Triệu Đà mấy lần đem quân chiếm thành đều thất bại. Nhà Triệu bèn nghĩ kế thông gia, gửi Trọng Thủy ở rễ dò nắm bố phòng trong thành và dò hỏi Mỵ Châu đánh tráo lẫy nỏ Liên Châu rồi quay về nước. Quân Triệu Đà kéo quân sang, An Dương Vương thất trận, tức giận chém Mỵ Châu rồi theo rùa vàng rẽ sóng đi ra biển. Truyền thuyết này cho thấy Việt Nam ngay từ khởi nghiệp dựng nước đã có hồn thiêng sông núi, có thành quách và vũ khí linh nghiệm. Mặc dù Loa Thành rơi vào tay giặc, nhưng vua còn là chủ quyền còn, giang sơn và dân tộc còn.

Ngày nay, khảo cổ học đã chứng minh những giá trị có thật trong các truyền thuyết thời các vua Hùng đến An Dương Vương. Người Việt cổ còn gọi là người vượn Homo-erectus, qua tiến hóa trở thành người khôn ngoan Homo-sapiens, gồm các thời kỳ: đồ đá cũ (Văn hóa Sơn Vi, cách đây 23.000 năm đến 11.000 năm TCN), đồ đá mới (Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, cách 5.700 năm TCN), đồ đá – đồng (Văn hóa Phùng Nguyên, khoảng năm 2.000 trở về năm 1.350 TCN), đồ đồng (Văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun vào cuối thế kỷ II TCN), đồ sắt (Văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo ở thiên niên kỷ I TCN trở về sau). Xưa nhất là dấu vết người vượn cổ tìm thấy ở Bình Gia (Lạng Sơn), Núi Đọ (Ninh Bình), Nga Sơn (Thanh Hóa). Ở những địa điểm này, khảo cổ  cũng tìm thấy nhiều mảnh đá tự nhiên được ghè đẽo một mặt, tạo ra hình mũi nhọn hay hình lưỡi… dùng vào hái lượm, săn bắt.

Tiếp theo, người Việt cổ biết chăn nuôi, chọn lọc giống cây trồng trong đó có lúa nước, đắp đê và đào kênh điều hòa nguồn nước, dệt vải và chế tác đồ trang sức. Canh tác lúa nước và đúc đồng ở châu thổ sông Mã, sông Hồng đạt đến đỉnh cao. Trống đồng nhiều kích cỡ và trang trí họa tiết phong phú, điển hình như trống đồng Ngọc Lũ, cùng nhiều phong tục dân gian còn lưu truyền đều là những giá trị sống động và bất diệt của Văn hóa Đông Sơn. Cả Loa Thành nay vẫn còn dấu tích, nhiều nơi khai quật được hầm chứa mũi tên đồng như trong truyền thuyết.

Về tộc người, song song với truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con”, còn có câu chuyện “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường, một tộc người cổ cũng sớm có mặt vùng Bắc bộ. Nhìn ở góc độ khu vực cư trú, cực Bắc Đông Nam Á là nơi ở của dòng người Tày – Thái – Mường. Ngược lại, xuống phương Nam là các tộc người có yếu tố Môn – Khmer. Yếu tố này đã pha trộn với yếu tố Mường, trở thành tiền thân của người Lạc Việt. Đó là vào khoảng thế kỷ VIII – thế kỷ VII TCN, những bộ lạc lớn ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc – Trung bộ có nét tương đồng về phát âm và cách thức tác động vào tự nhiên tồn tại đã liên kết lại với nhau. Trong đó, bộ lạc Văn Lang cư trú từ Ba Vì đến Phú Thọ ngày nay số lượng đông nhất, đứng ra hợp nhất các bộ lạc còn lại. Quá trình này còn diễn ra mạnh mẽ hơn khi người Lạc Việt mở rộng không gian sinh tồn xuống phía Nam.

Không gian cư trú

Các tộc người Việt cư trú ở đồng bằng sông Hồng mang đặc trưng nền văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á. Trong khi đó, cư dân người Hán là chủ nhân nền văn minh nông nghiệp khô vùng Hoàng Hà phía Bắc. Về sau, họ mở thêm hướng phát triển không gian cư trú theo trục “hậu Bắc – tiền Nam”. Nhưng yếu tố khác biệt quan trọng này không được nhìn thấy thấu suốt khi một vài học giả nghiên cứu về lịch sử cổ đại thường bắt đầu từ giai đoạn Việt Nam chịu ảnh hưởng Ấn hóa hướng Tây – Đông hay Hán hóa hướng Bắc – Nam sau này.

Vùng châu thổ sông Hồng trước đây trũng thấp, núi non xung quanh che chắn kín đáo, thuận lợi cho cư trú ổn định và công cuộc phòng thủ. Tuy nhiên, kết cấu địa tầng lúc ấy còn chưa ổn định, nên dù được bồi đắp phù sa, mặt đất vẫn có độ cao thấp hơn mực nước sông, nền đất dần bị lún xuống. Chúng ta có thể khẳng định điều này khi đi trên hàng loạt tuyến đê điều qua nhiều đời cư dân vùng nông nghiệp Bắc bộ đắp lên thành công trình trị thủy lớn nhất khu vực, dấu tích Loa Thành của An Dương Vương hay hoàng thành Thăng Long cũng bị chôn vùi.

Nơi cư trú của người Lạc Việt nằm ở ngã ba giao lưu và gặp gỡ các nền văn hóa, các hệ tư tưởng… đến từ Ấn Độ, Nam Á, Bắc Á. Sau này, nơi đây lại trở thành ngã tư đón thêm nền văn minh hiện đại phương Tây. Việt Nam không nằm trên trục của “Con đường tơ lụa” và kỹ năng buôn bán không mở rộng bằng người Trung Hoa, nhưng thay vào đó là một vị trí có lợi thế của nền nông nghiệp lúa nước, khéo léo thủ công và chế tác mỹ nghệ, tiếp cận – tiếp nhận – tiếp biến nhiều giá trị văn hóa văn minh, làm thành các giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc Việt, dễ thích nghi thích ứng và có sức sống bền bỉ qua nhiều thời kỳ.

Ngay từ xa xưa, trong thờ cúng, cha ông ta đã tôn chọn Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh mà sau này các nhân thần trên được gọi là “Tứ bất tử”. Điều này khẳng định ý chí, tình cảm, niềm tin, sức mạnh tự lực tồn tại và phát triển riêng có Việt Nam. Trong “Tứ bất tử”, có hai vị anh hùng nổi bật nhất trong công cuộc giữ nước và dựng nước. Đó là Thánh Gióng và Sơn Tinh.

Thánh Gióng thuộc đời vua Hùng thứ 6, một con người kỳ bí, ra đời từ sự kiện người mẹ ướm chân vào dấu chân khổng lồ trong vườn cà và đậu thai, ba tuổi chưa biết nói, bỗng nghe sứ giả nhà vua tìm người tài chống giặc cứu nước thì câu đầu tiên là đòi đi đánh giặc. Ăn ba nong cơm, bảy nong cà, uống cạn nước một khúc sông, vươn vai lớn dậy, Gióng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt phun lửa xông ra chiến trận, nhổ tre ngà quét tan quân Ân xâm lược. Cũng như mẹ Âu Cơ, sau khi chiến thắng, vị anh hùng cưỡi ngựa bay thẳng về trời, đời sau tôn thờ gọi là Phù Đổng Thiên Vương.

Câu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh” xảy ra ở đời vua Hùng thứ 18. Trong đó, một vùng rất giàu các sản vật, lại đầy thiên tai bão lũ, núi biển xâm thực vào nhau… thì đúng là đất nước Việt Nam. Sơn thần có phép dâng núi lên cao, hóa giải thuật kêu mưa gọi nước của Thủy thần. Một trận chiến bắt đầu từ chuyện kén rễ, thực ra phản ánh cuộc đấu tranh khai khẩn và lập làng của các thế hệ người Việt đối mặt với gian nan nguy hiểm mà chưa bao giờ biết mệt mỏi.

Như vậy, người Việt xưa đã không phải là một “Di” (man di) trong trật tự “Hoa – Di” theo thuyết của người Trung Hoa mà “Hoa” là yếu tố hạt nhân tạo ra “xung sóng” chi phối các “Di” xung quanh. Những tộc người Việt qua nhiều thời đại, là chủ nhân hình thành và phát triển không gian sinh tồn với hai nhiệm vụ thường trực: dựng nước và giữ nước.

Sau này, nhà thơ Trần Cao Vân có bài thơ “Vịnh Tam tài” với tinh thần của một chữ đồng” rất độc đáo:

“Sinh ta trời đất có ý không

Chưa sinh, trời đất có ta trong,

Ta cùng trời đất ba ngôi sáng

Trời đất in ta một chữ đồng,

Đất nứt ta ra trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông,

Trời che đất chở ta thong thả

Trời đất ta nay đủ hóa công”.

Bài thơ đã đi ngược về thời kỳ lập quốc, tái hiện đầy đủ nhất ý thức và phong cách của người Việt: từ nơi cư trú sinh sống, đến không gian văn hóa, rồi không gian về mặt chủ quyền quốc gia. Cho dù tiến tới không gian hiện đại nào, người Việt Nam vẫn rất đồng thuận giữa Thiên – Địa – Nhân. Trong bài thơ, tác giả không đề cập đầy đủ thêm ba chữ: thời, lợi, hòa như người Trung Hoa vẫn có công thức: “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”, mà chủ yếu đề cập yếu tố nhân, tính nhân, quan niệm của nhân và về nhân. Hay cụ thể hơn, đó là thái độ: tự có cách hòa hợp với không gian mà mình đã sinh ra để tồn tại và phát triển.

Đồng bằng Bắc bộ với đê điều và lũy tre, miền Trung với những vùng gió Lào cát trắng hay những cánh đồng duyên hải nghèo khó bao đời tắm gội hạn hán mưa bão, đồng bằng Nam bộ với những kênh rạch, rặng dừa và người dân rất quen “sống chung với lũ”, lập chợ trên sông, Tây Nguyên với những buôn làng trong những cánh rừng đại ngàn… Dù ở đâu, người Việt cũng có thể tìm thấy sự hòa hợp. Không giống ý chí chủ động khám phá, nghiên cứu hay cải tạo nhiều môi trường khác nhau như người châu Âu, người Việt thường tôn trọng mọi sự tĩnh tại xếp đặt vốn có của vạn vật: nhỏ như một hồ cá cảnh, chậu kiểng, hòn non bộ, một góc vườn; lớn hơn là con đường làng, cánh đồng làng, chợ làng, cây đa, bến nước, đình làng, những chuyện gia đình họ tộc nhiều đời; rồi đến khu vực, tiểu vùng…

Trong môi sinh đó, con người cũng chỉ là một trong vạn vật tự nhiên đã xếp đặt. Cho nên, không vội vã định lượng hay duy lý, không nhất thiết phải có một chọn lựa rành mạch “có – không”, cứ thong dong cùng năm tháng tiết mùa, cũng như trái đất thong dong trong vũ trụ, vũ trụ thong dong trong vô cùng tận… Lối sống còn phù hợp với sự tồn tại và phát triển bền vững với môi trường. Cũng cần nói thêm, đó là một phong cách, một lối ứng xử xưa kia mà không phải tất cả đều tích cực ưu việt hơn những phong cách và lối ứng xử khác hay so với mọi thời đại.

 

Thời kỳ Bắc thuộc

 

Các giai đoạn bị đô hộ

Nhà Tần

Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng cho quân thôn tính toàn bộ các vùng Bách Việt. Thục Phán là một thủ lĩnh ở vùng này, đứng ra liên kết bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt chống lại quân Tần. Đến năm 208 TCN, quân Tần phải rút lui. Thục Phán xưng là An Dương Vương, lập ra Nhà nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa, tồn tại 33 năm. Giai đoạn này cũng đánh dấu chấm dứt thời kỳ dã sử, mở ra thời kỳ chính sử đối với dân tộc.

Nhà Triệu (năm 207 – năm 111 TCN)

Khi xã hội thời Tần loạn lạc, Nhâm Ngao sắp qua đời khuyên Triệu Đà nên chiếm vùng Bách Việt mà lập vua riêng. Năm 207 TCN, sau khi dùng mưu kế đánh thắng Âu Lạc, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, xưng là Nam Việt Vương, năm sau tiếp tục thu phục và sáp nhập Quế Lâm vào Nam Việt. Năm 137 TCN, Triệu Đà qua đời, truyền ngôi cho Triệu Hồ giữ trong 12 năm (136 – 125). Triệu Hồ mất, con là Anh Tề lên thay, cũng tại ngôi được 12 năm. Đến năm 113 TCN, nội triều có loạn, cháu của Triệu Đà là Kiến Đức lên làm vua, xưng là Thuật Dương Vương. Năm 111 TCN, Hán Vũ đế sai binh tướng sang giết chết vua quan nhà Triệu và chiếm Nam Việt.

Nhà Tây Hán (năm 111 TCN – năm 25)

Sau khi Triệu Đà bị đánh đổ bởi nhà Tây Hán, nước ta bước vào thời kỳ chịu sự thống trị của các đế chế Trung Hoa, kéo dài liên tục trong 11 thế kỷ trở về sau. Đất Giao Chỉ bị chia thành chín quận. Đứng đầu Giao Chỉ bộ là thứ sử, giám sát các quận là thái thú, hệ thống lạc tướng lạc hầu của người Giao Chỉ vẫn tồn tại song song. Đến năm 34, Tô Định được cử sang thay chức thái thú, cai trị rất tàn ác nên xảy ra cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng.

Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226)

Mã Viện được cử sang cai trị, đổi tên Âu Lạc thành Châu Giao, chia làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam với tổng cộng 50 huyện. Đây là thời kỳ Hán hóa cưỡng bức diễn ra trên mọi mặt. Đứng đầu Châu Giao và các quận là thứ sử và các thái thú được cử từ Đông Hán sang. Các huyện lệnh do người Hán chọn trong người Giao Chỉ để làm tay sai. Chế độ cha truyền con nối và các lạc tướng – lạc hầu của người Việt từ đây bị bãi bỏ. Luật người Hán thay các tục lệ người Việt, tiếng Hán xuất hiện cùng ý chí buộc Giao Chỉ phải “thần phục thiên tử”. Các cuộc di dân từ phương Bắc tràn xuống, ngược lại những thợ Giao Chỉ tài giỏi ở phương Nam bị bắt lên phía Bắc xây kinh đô Kiến Nghiệp.

Nhà Đông Ngô thời Tam Quốc (năm 226 – năm 280)

Từ Hợp Phố về phíaNamnhà Đông Ngô đặt tên là Giao Châu. Thứ sử mới được bổ nhiệm là Đài Lương, trị sở đặt tại Long Biên. Về sau, Quảng Châu và Giao Châu lại sáp nhập, do Lữ Đại làm thứ sử. Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, đất Nam Việt thời Triệu Đà đến đây lại bị tách hẳn thành Quảng Châu và Giao Châu.

Các thời kỳ tiếp theo

Thuộc Tấn (280 – 420), thuộc Lưu Tống (420 – 479), thuộc Tề (479 – 502), thuộc Lương (502 – 542). Thời kỳ thuộc Lương, Tiêu Tư được cử sang làm thứ sử Giao Châu với chính sách cai trị khắt khe tàn ác. Vì thế cuộc khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra, nước Vạn Xuân độc lập ra đời (543 – 602). Ở giai đoạn này, người Việt thoát khỏi ách đô hộ của nhà Lương khoảng 60 năm.

Nhà Tùy – Đường (năm 603 – năm 906)

Trong 34 năm đầu thuộc nhà Tùy, thời gian sau thuộc nhà Đường. Giao Châu tái lập ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Trị sở từ Long Biên chuyển về Tống Bình. Đến năm Tân Tỵ 621, Giao Châu lại bị chia thành 12 châu, 59 huyện, dưới huyện là các hương và xã. Riêng 41 châu thuộc vùng rừng núi nằm trong chế độ “An Nam đô hộ phủ” do chức quan kinh lược sứ trông coi. Vào khoảng năm 866, Cao Biền được nhà Đường cử sang đất Việt cai trị, đã xây “Cao vương cố đô Đại La thành”, nơi mà sau này vua Lý Công Uẩn dời đô đến đây và đổi tên Đại La thành Thăng Long. Việc lập ra bộ máy cai trị chặt chẽ đến tận các hương xã đã làm nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa, tạo điều kiện quan trọng tiến tới giành độc lập tự chủ ở giai đoạn tiếp theo.

Các cuộc khởi nghĩa 

Khởi nghĩa của hai Bà Trưng

Trưng Trắc và Trưng Nhị đều là con gái của một lạc tướng đứng đầu huyện Mê Linh thuộc Phong Châu. Khi các lạc tướng vùng Mê Linh và Chu Diên đứng lên chống lại ách cai trị tàn bạo của quân Hán, thái thú Tô Định đã đàn áp và giết Thi Sách (chồng của Trưng Trắc) để trấn áp tinh thần người Việt. Tháng Hai năm Canh Tý 40, hai Bà nổi binh khởi nghĩa, được nhiều nơi hưởng ứng. Tô Định bỏ chạy về nước. Cuộc khởi nghĩa giành lại 65 thành ở LĩnhNam. Trưng Trắc tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh [2].

Về sau, Mã Viện cầm quân sang lập lại ách đô hộ, quân của hai Bà thất bại. Không chịu rơi vào tay giặc, hai Bà nhảy xuống sông Hát tự tử năm Quý Mão 43. Sau này, vua Tự Đức viết sử dân tộc đã ca ngợi: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm ru!”

Khởi nghĩa của Bà Triệu

Bà tên thật là Triệu Thị Trinh, người Yên Định, Thanh Hóa. Năm 248, bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt dựng cờ khởi nghĩa, chống lại Lục Dận do nhà Đông Ngô cử sang cai trị. Trước ba quân, Bà tuyên bố: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không muốn khom lưng làm tì thiếp cho người!”  Bà chỉ huy nghĩa quân chiến đấu và giành lại nền độc lập dân tộc.

Năm 257, Đặng Tuân được Tôn Hựu sai sang tái chiếm Giao Chỉ. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Tại nơi Bà mất ở núi Tùng, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa nay vẫn còn lại lăng mộ, được người dân tế giỗ hàng năm vào ngày 21 tháng Hai ÂL.

Khởi nghĩa của Lý Bí

Ông sinh năm Quý Mùi 503, người ở Phủ Long Hưng (Sơn Tây). Tương truyền năm bảy tuổi, ông đã tỏ tư chất hơn người, lại được một vị thiền sư nuôi dạy. Về sau, ông trở thành người học rộng, hiểu sâu. Năm 541, Lý Bí ra làm quan, sách sử nhà Lương gọi ông là Giao Châu Thổ Nhân. Bất bình trước cảnh cai trị tàn bạo của thứ sử Tiêu Tư, ông bỏ về quê, chiêu binh khởi nghĩa, xưng là Lý Nam Đế. Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục cùng nhiều hào kiệt hưởng ứng. Giao Châu được giải phóng, Lý Nam Đế đóng đô ở Long Biên (ngày nay chỉ biết Long Biên xưa nằm ở trung tâm tỉnh Bắc Ninh nhưng chưa xác định rõ địa điểm).

Năm 545, nhà Lưu Tống đưa quân sang trấn áp. Lý Bí đem ba vạn quân chống cự nhưng bị thua, chạy đến Tân Xương. Quân của ông bị bao vây trong động Khuất Lạo lâu ngày, ông bị nhiễm lam chướng nên mù mắt và qua đời. Ông xưng vương được 5 năm (544 – 548).

Khởi nghĩa của Mai Thúc Loan

Ông sinh tại huyệnNamĐàn, thời trẻ kết thân với nhiều anh hùng hào kiệt. Năm 713, ông phát động thành công cuộc khởi nghĩa chống sưu cao thuế nặng, lên ngôi xưng là Mai Hắc Đế. Ông cho xây thành lũy, lập kinh đô Vạn An, tích cực rèn tập binh sỹ. Năm Giáp Dần 714, Mai Hắc Đế tiến đánh và chiếm được thành Tống Bình, thái thú Quách Sở Khách bỏ chạy. Nền độc lập được giữ vững gần 10 năm liền.

Đến năm 722, nhà Đường huy động 10 vạn quân do tướng Dương Thừa Húc và Quách Sở Khách kéo sang đàn áp. Sau nhiều trận đánh khốc liệt, Mai Hắc Đế thất trận, nghĩa quân tan rã.

Khởi nghĩa của Phùng Hưng

Ông xuất thân từ dòng dõi cự tộc lâu đời, lại được nối nghiệp cha làm hào trưởng đất Đường Lâm ở Sơn Tây. Từ trẻ, ông đã nổi tiếng dũng cảm và bày mưu kế giết được hổ dữ, loại trừ tai họa cho dân làng.

Dưới ách đô hộ của nhà Đường, các viên quan cai trị vơ vét của cải, sưu cao thuế nặng khiến dân Việt ngày càng căm phẫn. Năm Tân Mùi 791, Phùng Hưng phát động cuộc khởi nghĩa, chiếm thành Tống Bình, đóng đô ở Đại La, tạo dựng nền độc lập tự chủ. Bảy năm sau, ông qua đời, nhà Đường cử Triệu Xương đem quân chiếm lại thành Tống Bình. Nhân dân thương tiếc suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương.

Khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ

Ông là hào trưởng lâu đời ở Hồng Châu (Hải Hưng), nổi lên khởi nghĩa, buộc nhà Đường phải phong ông tước “Đồng binh chương sự”. Ông khởi dựng chính quyền tự chủ. Sau khi qua đời, con là Khúc Thừa Hạo tiếp nối nghiệp cha trong 10 năm (907 – 917), củng cố chặt chẽ chính quyền, ban hành lại hạn mức thuế khóa, miễn bỏ lao dịch…

Năm 917, Khúc Thừa Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ nối ngôi, nhận chức Tiết độ sứ từ nhà Lương ban cho mà không phải từ nhà Nam Hán. Vua Nam Hán lấy làm tức giận, cử tướng Lý Khắc Chính đem quân sang bắt Khúc Thừa Mỹ đưa về Quảng Châu, phái Lý Tiến làm thứ sử cùng Lý Khắc Chính cai trị Giao Châu. Năm Tân Mão 931, một vị tướng của Khúc Thừa Hạo là Dương Đình Nghệ mộ quân ở Ái Châu (Thanh Hóa) đánh đuổi Lý Tiến, tự xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, nha tướng Kiều Công Tiễn nội phản giết Dương Đình Nghệ, người người căm ghét. Kiều Công Tiễn lo sợ bị giết chết bèn sang cầu cứu quân Nam Hán.

Ngô Quyền và chiến thắng trên sông Bạch Đằng

Trước khi quân Nam Hán kéo sang, Ngô Quyền là tướng của Dương Đình Nghệ đã giết chết Kiều Công Tiễn để báo thù. Ông còn quyết định xóa bỏ sắc phong Tiết độ sứ từ phương Bắc, đóng đô ở Cổ Loa và lập ra triều đình mới. Năm 938, thủy quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy xâm lược. Trận Bạch Đằng Giang diễn ra thể hiện chiến lược quân sự riêng có rất điển hình, là bài học đánh giặc được các tướng tài đời sau áp dụng nhiều lần đều thành công.

Xưa nay, chuyện cắm chông cài bẫy thường là lối săn bắt trên rừng. Nhưng ông lại ứng dụng biến nó thành cái bẫy thủy chiến. Đã quen với sông nước, Ngô Quyền và quân tướng đều hiểu sức mạnh ghê gớm của “nhất thủy nhì hỏa”. Trận đánh là một sự sáng trí lợi dụng sức mạnh thứ nhất. Ông chọn một đoạn Sông Bạch Đằng ở phía tả ngạn đầy rừng rậm (còn gọi là sông Rừng) có mực nước thủy triều khi lên xuống chênh nhau đến ba sải tay và cắm dày những cột nhọn có bịt đầu sắt xuống đó.

Khi triều lên, rừng cọc ẩn mình dưới nước, quân mai phục dụ chiến thuyền giặc truy đuổi qua khỏi đoạn sông đã cắm cọc. Khi triều rút, thủy quân Hoằng Tháo bị quân Ngô Quyền từ thượng lưu và hai bên bờ phản công dữ dội. Trên đường tháo lui rối loạn, chúng gặp phải rừng cọc lừng lững hiện lên, đâm vỡ và làm đắm hết thuyền bè. Tàn quân dưới sông cũng bị truy giết. Tướng Hoằng Tháo cùng nhiều binh lính thiệt mạng. Vua Nam Hán phải thu quân.

Với trận Bạch Đằng Giang, tên tuổi anh hùng Ngô Quyền dậy lên những ngọn sóng cao vút tinh thần yêu nước ở người Việt mỗi khi tổ quốc có chiến tranh. Từ đây, thời kỳ độc lập dân tộc đã mở ra. Chiến thắng có ý nghĩa như một mốc son chói lọi, một cột cây số đầu tiên trên con đường các thế hệ cha ông đi bằng đôi chân tự lực giữ nước với tinh thần độc lập tự chủ của mình.

Bạch Đằng Giang dậy sóng mở đầu thời kỳ nước ta độc lập tự chủ sau ngàn năm phong kiến phương Bắc đô hộ (Ảnh: flickr.com)

Những vị vua qua các triều đại

Tính từ thời kỳ bắt đầu nền độc lập tự chủ đến trước khi Pháp xâm lược, đất nước đã trải qua các triều vua và phủ chúa:

– Nhà Đinh (968 – 980)

– Nhà Tiền Lê (980 – 1009)

– Nhà Lý (1010 – 1225)

– Nhà Trần (1225 – 1400)

– Nhà Hồ (1400 – 1407)

– Nhà Hậu Trần (1407 – 1413)

– Nhà Lê Sơ (1428 – 1527)

– Nhà Mạc (1527 – 1592)

– Nhà Hậu Lê (1533 – 1789)

– Nhà Tây Sơn (1778 – 1802)

– Dòng dõi chúa Trịnh (1545 – 1786)

– Dòng dõi chúa Nguyễn (1600 – 1802)

– Nhà Nguyễn thời kỳ độc lập (1802 – 1858).

Những vị vua đặt nền móng khởi đầu các triều đại thường có nhiều cống hiến, đóng góp lớn. Nhưng không ít vua cha khi về già hay băng hà sớm đã truyền ngôi cho các hoàng tử còn quá nhỏ, chưa đủ tài trí lo việc nước. Từ đó, quyền hành và những quyết định lớn bị chi phối bởi một thế lực kép cung vua – phủ chúa, mâu thuẫn giữa hoàng hậu – thứ phi, nối ngôi giữa dòng đích – dòng thứ, tiếm quyền giữa trung tiết – nịnh thần… Đó là Đinh Toàn mới sáu tuổi lên ngôi và chỉ tám tháng sau phải giao quyền hành lại cho Lê Hoàn. Thái tử Thiên Tộ kế ngôi năm ba tuổi, thái tử Vượng mười tuổi, thái tử Án cũng mới ba tuổi. Lý Chiêu Hoàng là công chúa mới tám tuổi cũng nối ngôi vì nhà Lý không còn người kế vị, phải nhờ Trần Thủ Độ trông coi quốc sự. Thái tử Bang Cơ mới hai tuổi được truyền ngôi nên thái hậu và các cận thần phải tận tâm lo việc nước trong 10 năm. Thậm chí ấu thai Lê Duy Cáp mới bốn tháng thai trong bụng đã được vua cha khi sắp qua đời chỉ định kế ngôi (sau này là vua Lê Hy Tông). Mạc Mậu Hợp cũng lên ngôi năm hai tuổi.

Quyền lực kép chi phối trong triều đình có giai đoạn tạo ra sự phát triển tích cực, nhưng cũng có thời gây loạn lạc, làm suy kém khả năng kinh tế quốc phòng của đất nước. Đó là chuyện những hoàng thái hậu cầm quyền nhiếp chính, chuyện vua bị các thế lực tạo phản lật đổ thay dòng họ khác lên trị vì. Những chúa nhiều lần giúp vua, và ngược lại. Một vua một chúa nhưng vẫn mâu thuẫn như thái tử Duy Vĩ và thế tử Trịnh Sâm. Cuộc nội chiến Lê – Mạc diễn ra gần 50 năm với 40 trận đánh lớn nhỏ, hàng vạn binh lính và dân lành bị tàn sát. Trong đó, có trận giằng co dài ngày mà mỗi bên đều trên 10 vạn binh tham gia, máu đổ không xiết. Cuộc chiến này chỉ kết thúc vào năm Tân Mão 1591, khi Trịnh Tùng mở trận đánh lớn và thắng ở Đông Kinh, rước vua Lê từ Thanh Hóa về lại Thăng Long. Về sau, cuộc chiến giữa hai chúa Trịnh – Nguyễn trong thời gian dài cũng lấy đi không biết bao sinh mạng. Hai vua khác họ cùng một đất thường khó sống, nhưng lại cũng có thời kỳ ôn hòa. Đó là Nguyễn Nhạc và vua Lê. Nhưng cũng chính anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ ở phía Nam lại dàn binh đánh nhau vì bất bình trong phân chia địa hạt cai quản từ Tây Sơn đến Phú Xuân. Lịch sử đã để lại “thiên hình vạn trạng” các sự kiện diễn biến theo nhiều chiều khác nhau.

Những vị vua anh minh thường là những bậc đại nhân, từng kinh qua nghịch cảnh. Trong đường lối nội trị, các vua chăm lo đời sống nhân dân, để tiếng thơm muôn đời. Những vị vua này biết tránh sa vào hưởng thụ cá nhân, tránh vô độ và sa đọa, biết sáng trí và dũng cảm tự quyết mà không nghe theo gian thần, biết nắm thời cơ hành động kịp thời. Dấu hiệu của thời thịnh trị thường là: lợi ích người dân được đề cao, việc đạo gắn liền với việc đời, việc nước một cách công minh, nhiều công trình có ý nghĩa quốc kế dân sinh được xây dựng, canh nông và giáo dục được chú trọng, kẻ sĩ trí thức được tôn trọng và ưu đãi… Đó là vua Đinh Tiên Hoàng có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, được suy tôn là Vạn Thắng Vương. Mùa xuân năm Đinh Hợi 987, vua trị vì một đất nước nông nghiệp đã làm gương cho muôn dân, tự thân đi cày ruộng tịch điền ở chân núi Đọi [3].

Vua Lý Thái Tổ khi lên ngôi đã tự khảo sát thực địa, quyết định dời đô bằng nhận thức về vùng đất mà ông chọn. Trong “Chiếu dời đô”, vua viết: “…ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [4]. Sau khi đưa ra lý lẽ có căn cứ và thuyết phục, ông cũng không quên triệu tập cuộc họp tham khảo ý kiến với tất cả các quan triều, càng nhận được sự đồng tình ủng hộ tuyệt đối. Tháng Bảy năm 1010, trên đường dời đô từ Hoa Lư ra phủ thành Đại La, khi thuyền vừa dừng, bỗng có rồng vàng bay lên. Nhân đó, vua đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Vua Lý Thái Tông không những thân chinh cầm quân đi đánh giặc loạn do Nùng Tốn Phước cầm đầu ở vùng rừng núi Lạng Sơn, còn ngự ra Bố Hải Khẩu (Thái Bình) cho hữu ti dọn cỏ đắp đàn tế Thần Nông, rồi cũng tự ông cầm cày cày ruộng tịch điền. Các quan hữu ti can ngăn cho đó là việc của nông phu, vua đáp: “Trẫm không tự mình cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo”. Ông cũng làm gương không dùng gấm lụa nhập từ nước Tống, dạy dân trong nước tự trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải. Đối với vua Lý Thánh Tông, lòng hướng thiện còn tỏa đến cả ngục tối, lệnh cải thiện điều kiện hạn chế đói khát và rét mướt, duy trì quyền sống của tù nhân.

Vua Trần Thái Tông vừa biết phát huy tài năng của Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, lại cùng xông pha ra chiến trường, làm nên chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ nhất ở Đông Bộ Đầu, tạo tiền đề quan trọng cho hai chiến thắng lớn tiếp theo. Nhưng khi hòa bình, không màng hưởng thụ, vua từ bỏ ngai vàng về sống với chốn thiền thanh tịnh ở núi rừng, viết quyển “Khóa hư lục” nổi tiếng. Vua Trần Minh Tông biết tôn trọng kẻ sĩ, tập trung dưới trướng hàng loạt nhân tài: Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An… Vua Trần Duệ Tông trực tiếp chỉ huy quân đội trừng phạt quân Chămpa xâm chiếm vùng Hóa Châu (Nghệ An). Thời nhà Trần, còn có Hội nghị Bình Than họp giữa vua với các vương hầu quan lại ở Chí Dương và Hội nghị Diên Hồng họp với các bậc bô lão có uy tín ở Thăng Long để bàn kế đánh giặc, nhận được tinh thần cùng đoàn kết chống giặc của toàn dân.

Vua Lý Thái Tổ để lại lời răn dạy con cháu trước khi qua đời: “Chớ đổi phép cũ của tiên vương, chớ bỏ cách ngôn của tiên triết, chớ gần thanh sắc mà chuộng tiền tài, chớ thích đi săn mà ham dâm đãng, chớ nghe lời gièm mà xa người can thẳng, chớ dùng tân tiến mà bỏ cựu thần”. Ngắn gọn mà xúc tích, lời dạy chỉ ra đủ những thói hư đã thấy ở các đời vua mục nát để mà tránh lặp lại. Về mặt tích cực, khi lật đổ nhà Trần mục nát, Hồ Quý Ly lên nắm quyền đã có nhiều cải cách đi trước thời đại: luật hóa bộ máy quản lý, chống lạm quyền các cấp, ban hành bảy loại “thông bảo hội sao” là hình thức tiền giấy, hạn chế số lượng gia nô và mức độ tích tụ đất đai quá lớn trong tay vua quan nhà Trần, buộc nhà giàu bán rẻ thóc tích trữ cho dân khi mùa màng thất bát, đặt chức học quan ở các lộ và cấp ruộng cho các vùng gây quỹ việc học…

Vua Lê Thái Tông mới 11 tuổi đã lên ngôi, không cần mẫu hậu nhiếp chính vẫn điều hành được việc nước, khiến sử cũ không tiếc lời ca ngợi: “Vua tư chất sáng suốt tinh khôn. Khi cầm quyền chính: trong ngăn ngừa kẻ cường thần, ngoài dẹp yên các manh động. Trọng đạo, chuộng Nho, đặt khoa thi chọn kẻ sĩ, chế lễ nhạc, rõ chính hình, văn vật rực rỡ đủ cả; đáng khen là vua hiển”. Vua Lê Thánh Tông luôn ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại vứt bỏ? Phải cương quyết tranh biện chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe có thể sai sứ sang tận triều đình của họ, trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất  của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”. [5] Ông cũng là người cho vẽ hoàn chỉnh bản đồ đầu tiên của Đại Việt, cho biên soạn và áp dụng Bộ Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) nhằm tăng cường pháp trị nghiêm minh: “Pháp luật là phép tắc chung, ta và các quan phải cùng tuân theo”. Chính vua đã giải oan vụ án Lệ Chi Viên cho quan đại thần Nguyễn Trãi từng tham gia khởi nghĩa “nằm gai nếm mật” với tinh thần vì nước vì dân “sáng tựa sao Khuê”, đồng thời cho tập hợp in các tác phẩm nổi tiếng trong đó có “Bình Ngô đại cáo”.

Thời Nguyễn, vua Gia Long có công lớn mở mang bờ cõi, đẩy mạnh việc khai phá các vùng đất hoang, đắp đê điều và đào kênh làm thủy lợi trên cả nước, ngoại giao với Vương quốc Chămpa và góp phần gia nhập người Chăm vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cho soạn bộ “Thống nhất địa dư chí” đến mười quyển, đặt ra hệ thống chính quyền cùng nhiều quy định kịp thời quản lý đất nước rộng lớn khi đã liền một dải.

Nhưng cũng có không ít vị vua chỉ lo hưởng thụ một cách bệnh hoạn, thiếu trách nhiệm với dân với nước, nghe lời phản nịnh giết chết tôi trung hiền tài. Đây là quy luật lặp lại ở mọi triều đại vua chúa theo chuỗi: tốt đẹp giai đoạn khởi đầu – phát triển ở đỉnh cao – lụi tàn thay thế. Các vua thường rời ngôi bởi ba nguyên nhân: để diễn ra tranh giành quyền lực dẫn đến vua bị giết chết hay truất phế, sống không có nguyên tắc đổ bệnh chết sớm, khiếp sợ bỏ cả ngai vàng tìm đường thoát thân khi có nguy biến. Trong những thời điểm vua không còn quang minh thì chính tà lẫn lộn, thượng bất chính hạ tất loạn, nhiều bi kịch cho hoàng triều và cả dân tộc đã xảy ra.

Đó là vua Trần Dụ Tông không đếm xỉa đến “Thất trảm sớ” do Chu Văn An dâng đề nghị chém bảy tên gian thần, lại ham rượu chè, đánh bạc, xây cung điện nguy nga mặc cho bên ngoài dân chúng khổ cực. Khi quân Chămpa chiếm thành Thăng Long, đốt cung điện, bắt cung nữ, lấy hết vàng bạc châu báu, vua chạy lánh nạn. Năm Quý Hợi 1383, quân Chămpa lại tàn phá Thăng Long, vua Trần Phế Đế cũng bỏ chạy. Khi giặc rút, vua quay về tìm của cải còn lại đem đi chôn giấu. Về vua Nghệ Tông, người đời lưu truyền nhận xét: “Chí khí không có, trí tuệ cũng hèn kém, để cho gian thần lừa đảo giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ những trung thần nghĩa sĩ, cứ tin dùng một Quý Ly cho được quyền thế đến nỗi làm xiêu đổ cơ nghiệp nhà Trần”.

Vua Lê Uy Mục bày ra trò thi uống rượu, ai say trước bị chém. Chữ “dục” đã bị vua lạm dụng vô độ, để quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại thao túng. Trong tờ hịch kêu gọi các đại thần đứng lên lật đổ vị vua bạo quyền này, Lương Đắc Bằng viết: “Bạo chuá Lê Tuấn (tức Uy Mục) phận con thứ kém hèn, làm nhơ bẩn nghiệp lớn. Lần lữa gần được 5 năm, tội ác đã đến muôn vẻ. Giết hại người xương thịt, dìm hãm các thần liêu… Tước đã hết rồi mà thưởng bậy không ngớt, dân đã cùng rồi mà vơ vét không thôi. Tiêu tiền như bùn đất, bạo ngược ngang với Tần Chính…”. Vào thời này, thái học sinh Nguyễn Phi Khanh đã nêu tình cảnh điêu đứng:

“Ruộng lúa ngàn dặm đỏ như cháy

Đồng quê than vãn trông vào đâu?

Lưới chài quan lại còn vơ vét

Máu thịt nhân dân cạn nữa rồi…”

Vua Lê Tương Dục đầy tội ác nên vào năm Bính Tý 1516 bị giết và đem thiêu xác. Các sử thần nhà Lê đã luận rằng vua bất hiếu với cha mẹ, mượn danh hoàng tộc mưu sự cướp ngôi, giết hại thân vương, khi đã lên ngôi thì đề ra hình phạt thuế khoá nặng nề, không lo trấn dẹp giặc cướp nổi lên khắp nơi. Do đó, điềm diệt vong đã hiện ra cả trước khi vua chết.

Vua Mạc Mậu Hợp để bọn quan lại cơ hội và vô trách nhiệm đục khoét cướp bóc trong nhân dân, các sớ tấu tâm huyết bị dẹp bỏ làm các quan triều thanh liêm trả mũ áo từ quan. Khi tàn thời, vị vua này chạy trốn vào chùa Mô Khuê, đóng giả sư ông tụng kinh gõ mõ. Bị quân của chúa Trịnh bắt tại chỗ, còn van xin: “Mấy ngày nay ẩn trong rừng rậm, đói khát, nay dám xin một bình rượu uống cho đã!”

Vua Lê Chiêu Thống sau khi cầu viện quân Thanh chiếm Thăng Long, được nhà Thanh phong làm “An Nam Quốc Vương”, bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác, phải lại chạy sang triều đình phương Bắc tá túc ở Yên Kinh, mất năm Quý Sửu 1793 mới đưa thi hài về quê nhà an táng. Sử xưa đã nhận xét: “Nước Nam từ khi có đế có vương đến nay, chưa bao giờ thấy ông vua nào luồn cúi đê hèn đến vậy”. [6]

Đến triều Nguyễn, việc sát hại các công thần lại diễn ra như một căn bệnh mù quáng kinh niên, các trung thần Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường bị thế lực gian nịnh ghép tội phản nghịch, uất quá phải uống thuốc tự tử. Cao Bá Quát học giỏi, thơ văn ngay từ nhỏ đã có khí phách tung hoành khác người. Khi thi đỗ và ra làm quan, do công khai khinh miệt cuộc sống vào luồn ra cúi của các hạng quan dốt nát xu nịnh, ông bị đày đi trông coi việc học ở Quốc Oai. Nhân đó, ông giúp nhà Lê ở phía Bắc chống lại triều Nguyễn, nhưng thất bại. Cao Bá Quát bị bắt và bị chém đầu. Vua Tự Đức đã lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao và đốt hết tác phẩm nổi tiếng của ông.

Trong nội triều còn có không ít những cuộc tàn sát tập thể. Ỷ Lan mặc dù có nhiều công lớn nhưng đã từng bắt giam Hoàng hậu Thượng Dương cùng 72 cung nữ cho đến chết chỉ vì tranh ngôi vị nhiếp chính khi vua qua đời. Năm 1399, Hồ Quý Ly chém cùng lúc 370 trung thần triều Trần vì dám lên án âm mưu thao túng của vị thái sư này. Năm Kỷ Mão 1459, Nghi Dân là anh ruột của vua Nhân Tông, vì bất đồng việc vua không dựa vào nguyên tắc dòng đích khi truyền ngôi, đang đêm lẻn vào cung giết chết vua và thái hậu. Nghi Dân tự xưng vua nhưng tám tháng sau thì bị triệt hạ. Vua Lê Uy Mục cho giết hoàng thái hậu và hàng loạt đại thần không ủng hộ ông là con dòng sau nối ngôi. Giản Tu Công sau khi lật đổ vua Lê Uy Mục, đặt xác vua vào súng lớn cho nổ tan hài cốt, chỉ còn xác tro đem về quê nhà. Năm Giáp Tuất 1514, vua Lê Tương Dục nghe lời tâu của Hữu Vĩnh mà giết chết 15 vương công.

Hãy xem việc phục thù của Nguyễn Ánh sau lên ngôi: mộ của Quang Trung bị quật lên đổ đi. Lúc còn sống, vua Quang Trung cẩn mật cử người giả đóng vai đi sứ sang nhà Thanh. Nhưng ông không ngờ bài học mà tướng Trần Quốc Tuấn trước khi qua đời dặn chôn thi hài trong vườn An Lạc và xóa mộ thành đất bằng xưa kia, lại hoàn toàn không cũ. Tiếp theo, nhà Nguyễn còn truy sát tất cả những thân thích triều Tây Sơn. Gia đình nữ tướng Bùi Thị Xuân một thời là tướng lĩnh dũng cảm của Quang Trung, bị nhà Nguyễn bắt. Người chồng bị lột da từng mảng, nữ tướng và con gái 15 tuổi vô tội bị dẫn ra cho voi dữ quật chết tại pháp trường. Do hiềm khích từ phía họ ngoại ngay tại đất Tây Sơn, công chúa Ngọc Hân và hai con nhỏ phải trốn khỏi vương triều suy tàn, giấu danh tính sống trong dân dã. Bị phát hiện, bà phải uống thuốc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết. Số phận của nàng công chúa “cành vàng lá ngọc” Bắc Hà được vua cha cho kết hôn cùng Quang Trung về phương Nam đã kết thúc thê thảm vào năm Kỷ Mùi 1799, khi bà mới 29 tuổi. Vẫn chưa yên, sau khi gia đình bí mật mang được xác mẹ con về mai táng tại quê nhà phía Bắc và dựng miếu thờ, triều đình Huế biết được còn hai lần triệt phá miếu và quật mộ đổ xuống sông.

Có lẽ từ những loạn lạc, cũng như những cuộc trả thù trên mà ông bà ta đã có lời khuyên như một đạo lý:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

 

Anh hùng dân tộc – Chiến thắng vẻ vang 

Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (941 – 1005)

Ông quê ở Thọ Xuân – Thanh Hóa, là người tham gia giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân. Năm 30 tuổi, ông làm tổng chỉ huy quân đội kiêm đội cấm vệ, được toàn quân khâm phục tài trí và mưu lược. Sau khi chính sự nhà Đinh rối ren, trước ủng hộ của quan triều và ba quân, ông đã gánh nhận trách nhiệm lớn lao với đất nước qua sự kiện chiếc áo hoàng bào mà thái hậu Dương Vân Nga khóac lên vai, mở ra triều đại nhà Lê.

Năm Tân Tỵ 981, quân Tống do tướng Hầu Nhân Bảo chỉ huy, theo đường bộ ở Lạng Sơn và đường thủy ở sông Bạch Đằng, đánh chiếm Đại Cồ Việt. Áp dụng bài học đánh giặc của Ngô Quyền, ông cho đóng cọc ở sông Bạch Đằng và bố trí quân mai phục. Bạch Đằng lại dậy sóng, trận chiến diễn ra ác liệt, quân xâm lược bị đẩy lùi. Trên bộ, Lê Hoàn cũng chỉ huy các cánh quân chặn đánh. Trong một trận quyết chiến, tướng giặc bị giết, các tướng còn lại bị bắt sống, tàn quân bỏ chạy về Tống. Cuộc kháng chiến thắng lợi, mở đầu thời kỳ quân dân Đại Việt liên tục chiến thắng quân xâm lược phương Bắc nhiều trận lớn.

Năm Canh Dần 990, Lê Hoàn lên ngôi xưng là vua Lê Đại Hành, tổ chức đón tiếp đoàn sứ nhà Tống do Tống Cảo dẫn đầu. Đoàn đi đón gồm có 9 thuyền chiến và 300 quân sang tận Liên Châu (Quảng Đông). Về đến Hoa Lư, sứ Tống đã thấy dưới sông thuyền chiến san sát, trên bờ quân lính võ phục và gươm giáo sáng quắc.

Khi nhận chiếu thư của Tống triều, theo lễ nghi ngoại giao do nước lớn đặt ra, vua nước Nam phải thần phục quỳ lạy, nhưng ông lấy cớ vừa ngã ngựa bị đau chân và không chịu quỳ. Sau buổi tiệc, ông cho mang đến một con trăn lớn nói với sứ Tống: “Nếu sứ thần ăn được thì vua tôi sẽ cho người giết thịt”. Ông còn dẫn hai con hổ dữ đến để sứ thần “xem chơi”. Đoàn sứ sợ xanh mặt bởi sự hùng mạnh oai phong của vương triều phía Nam.

 

Anh hùng Lý Thường Kiệt (1019 – 1105)

Ông quê ở Thái Hòa – Thăng Long, tên thật là Ngô Tuấn, con của Sùng tiết tướng quân Ngô An Ngữ. Thuở nhỏ, ông đã ham đọc binh thư, luyện tập võ nghệ, cốt cách và tài năng phi thường. Năm 1041, ông được chọn theo hầu vua Lý Thái Tông. Năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chămpa, bắt sống vua Chế Củ, buộc Chămpa phải dâng ba châu để đổi lấy vua về.

Năm 1075, nhân Đại Việt bị Chămpa phía Nam đánh phá, vua Tống phía Bắc cho là cơ hội thôn tính Đại Việt đã đến, bèn tập trung binh lực chuẩn bị tràn sang. Nhà Lý biết tin này, Lý Thường Kiệt tâu trình và được nhà vua chấp nhận để ông cùng tướng Tôn Đản mang binh sang đánh phá đón đầu nơi tập kết lực lượng quân xâm lược trên đất Tống.

Đạo quân của Lý Thường Kiệt đã buộc ba châu Khâm, Liêm, Ung thất thủ. Thừa thắng, ông tập trung hành quân một chặng rất dài đánh thẳng lên thành Ung Châu nơi có tướng Tô Giám cùng với 2,8 nghìn quân cố thủ. Ung Châu bị vây chặt. Viện quân nhà Tống kéo đến giải vây lại bị quân Lý Thường Kiệt chặn đánh bên ngoài, giết chết tướng chỉ huy Trương Thủ Tiết. Quân Đại Việt chinh chiến trên đất Tống hơn một tháng, hy sinh không ít. Sau cùng, ông dùng hỏa công đốt trụi thành. Binh lính địch chết sạch, tướng quân Tống là Tô Giám cũng tự tử. Lý Thường Kiệt rút quân về.

Tháng Ba năm Bính Thìn 1076, nhà Tống đưa 10 vạn quân, 1 vạn ngựa, 20 vạn dân phu tràn sang tấn công trả thù. Quân Tống điều một cánh quân vòng phía Đông đánh bọc hậu ở Giáp Khẩu, thẳng tới sông Cầu. Lý Thường Kiệt lập chiến lũy ở một đoạn lợi hại trên sông Như Nguyệt. Quân Tống có kỵ binh tinh nhuệ mở đường, chọc thủng chiến tuyến tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng sau đó bị đẩy lùi. Hai bên giằng co đánh trả ở tuyến phòng thủ Như Nguyệt mấy tháng liền.

Trước thế “tiến thoái lưỡng nan”, ông bèn nghĩ ra sức mạnh của trận chiến tâm lý, đang đêm cho người bí mật vào đền thờ Trương Hát, đóng vai thần linh đọc to bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Nghe sấm truyền bằng thơ, tinh thần binh sĩ phấn chấn, ngược lại địch càng hoang mang. Lại thêm quân Tống không được viện binh, hao mòn dần trước các cuộc tập kích của Đại Việt. Cuối cùng, qua dàn xếp ngoại giao của hai bên, quân Tống trở về nước. Cuộc chiến kết thúc.

Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt được xem là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất, có bốn câu:

“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!”

Theo các nhà phân tích, chữ “Nam đế”  ở câu thứ nhất dịch ra tiếng Việt là “vua Nam” chưa lột tả hết ý nghĩa. Người Việt quan niệm đế và vương như nhau đã làm mất đi vị thế mà cha ông muốn khẳng định trước triều Hán. Theo Trung Hoa, chỉ có thiên triều nhà Hán mới được xưng đế (con trời là duy nhất). Các nước xung quanh chịu sự sắc phong của thiên triều, chỉ được xưng vương hoặc thấp hơn. Việt Nam cũng từng nhận tước hiệu “Quận vương Giao Chỉ”, “Quốc vương An Nam”. Các vương phải giữ mối quan hệ ngoại giao thần phục và cống nộp cho bậc đế. Nhưng người đứng đầu Nhà nước Việt Nam bấy giờ đã xưng “Nam đế” rõ ràng ngang hàng với “Bắc đế”. Vì thế, cần phải có cách dịch lại cho đúng tinh thần văn bản, quan trọng hơn là đúng với tư thế bất khuất và làm chủ đất nước của cha ông.

 

Anh hùng Trần Quốc Tuấn (1232 – 1300)

Ông quê ở Làng Mỹ Lộc – Nam Định, thuở nhỏ đã có tướng mạo khôi ngô, lại được học thầy giỏi nên thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trong cuộc đời trải qua một biến cố gia đình và ba biến cố quốc gia, ông vẫn đặt quyền lợi dân tộc lên trên tất cả, có những cống hiến vô cùng xuất sắc.

Đầu năm 1258, vua Mông Cổ lệnh cho Ngột Lương Hợp Thai dẫn ba vạn quân xâm lược Đại Việt. Vua Trần Thái Tông cùng Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn chỉ huy kháng chiến, lệnh cho toàn dân thực hiện “vườn không nhà trống”. Vì vậy, những đoàn kỵ binh hung bạo và thiện chiến của quân Mông đánh chiếm Thăng Long như đánh vào một cái bóng: không người, không lương thực, không nước uống… Giặc điên cuồng tàn phá kinh thành và quay ra cướp bóc bên ngoài, liền bị nhân dân chặn đánh. Một tháng sau, Trần Quốc Tuấn cùng vua quan nhà Trần mở cuộc phản công ở Đông Bộ Đầu, quân Mông trong tình trạng thiếu viện binh và lương thực, cùng đường phải rút về. Đây là trận thắng lớn quân Nguyên – Mông lần thứ nhất.

Đầu năm 1285, hơn 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy lại xâm lược. Sau một số trận đánh mở đầu, Trần Quốc Tuấn lệnh thu quân, mở cửa cho chúng vào Vạn Kiếp. Trần Thánh Tông lo lắng hỏi: “Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi”. Trần Quốc Tuấn trả lời: “Bệ hạ muốn hàng giặc thì hãy chém đầu thần đi đã”. Cũng như lần trước, toàn bộ sức mạnh Đại Việt giấu kín ở Thiên Trường (Nam Định), để lại Thăng Long “vườn không nhà trống”. Lần này, Thoát Hoan không đóng quân trong thành mà dựng doanh trại ở phía Bắc sông Nhị (sông Hồng), xua quân đi truy lùng bắt sống vua quan nhà Trần nhưng không tìm ra dấu vết. Quân số đông, lương thực thiếu, quân Nguyên rơi vào thế bị động. Giữa năm, Trần Quốc Tuấn chỉ huy phản công tại Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương. Thắng lớn nhất là trận ở Tây Kết, tướng Toa Đô bị chém, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng tránh tên và cho lính khiêng chạy về nước. Đây là trận đại thắng lần thứ hai.

Cuối năm 1287, vua Nguyên căm tức, huy động 30 vạn quân giao Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và Trương Văn Hổ chỉ huy, quyết đánh chiếm Đại Việt. Đến đầu năm sau, quân giặc trên bộ đã chiếm Vạn Kiếp, củng cố thành căn cứ vững chắc. Rút ra bài học hai lần thua trước, lần này chúng cho một đoàn thuyền chở thạch lương và khí giới tiếp viện, đi vào cửa Vân Đồn (Quảng Ninh). Trần Quốc Tuấn biết được, tập trung một đội quân lớn giao cho Trần Khánh Dư chỉ huy, quyết phá tan đường tiếp vận. Quân Đại Việt tấn công dữ dội làm cho phần lớn lương thực nuôi quân của giặc bị trôi sông đổ biển, số còn lại bị tịch thu.

Tuy nhiên, quân Nguyên trên bộ vẫn hung hăng chiếm Thăng Long, tìm bắt vua Trần không được lại đốt phá cướp bóc nhiều nơi. Nhân dân các làng vùng lên đánh đuổi các toán quân của giặc. Ở Thăng Long được một thời gian, Thoát Hoan không đạt được mục tiêu, cho quân rút về Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn biết Ô Mã Nhi chuẩn bị rút bớt kỵ binh, ông bố trí trận địa cọc nhọn ở sông Bạch Đằng. So với trận địa hai lần trước, lần này lại chuẩn bị thêm những bè lửa lớn thả từ thượng nguồn về khi tàu giặc vào trận địa. Thế là “nhất thủy” lại thêm “nhì hỏa” phối hợp với binh lính, sức mạnh càng trở nên khủng khiếp. Thủy binh của giặc bị tiêu diệt, tướng Ô Mã Nhi bị bắt sống. Cánh quân của Thoát Hoan hay tin, rút khỏi Vạn Kiếp chạy về nước. Lần thứ ba, Trần Quốc Tuấn chỉ huy chống quân xâm lược và chiến thắng vẻ vang.

Cùng với mưu lược quân sự, có được những chiến thắng trên là nhờ Trần Quốc Tuấn dày đức độ, thu phục được dưới trướng rất nhiều tướng giỏi như: Dã Tượng, Yết Kiêu, Đại Hành, Cao Mang, Trần Thì Kiến, Phạm Lãm, Trương Hán Siêu, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực… Với ông, quân lính cũng có thể cùng ông “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Hịch tướng sĩ). Vì thế mà toàn quân trên dưới một lòng, tạo thành sức mạnh đoàn kết và quyết tâm cao, đủ sức đương đầu với quân xâm lược và vượt qua thời điểm hiểm nghèo nhất.

Tháng 6 năm 1300, vua ngự đến thăm ông bị bệnh, hỏi: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách thế nào?” Ông trả lời rành mạch: “…Nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Ông còn có một câu nói bất hủ để lại cho các vị vua đời sau và cả ngày nay, dựa vào đó để thực hiện công cuộc kinh bang tế thế, chấn hưng đất nước: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.

Ông mất ngày 20 tháng Tám ÂL. Một đền thờ ở Kiếp Bạc được dựng lên. Các thế hệ người Việt đều gọi ông là: Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh Trần, Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ). Cống hiến vĩ đại của ông được vua Trần phong tặng tước hiệu Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương. Cả sách sử Trung Hoa cũng tôn sùng gọi ông là “An Nam Hưng Đạo Vương”. Ông cũng là một danh tướng có tên trong mười đại danh tướng trên toàn thế giới từ cổ chí kim. [7]

 

 

Anh hùng Lê Lợi (1385 – 1433)

Ông quê ở Thọ Xuân – Thanh Hóa, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra triều đại Hậu Lê. Sử xưa có đoạn nói về Lê Lợi: “Thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, vai có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hổ, kẻ thức giả đều biết là bậc phi thường”. [8]

Năm 1407, nhà Hồ thất bại trước quân Minh, dân Việt nô lệ khốn khổ, Lê Lợi nuôi chí căm thù giặc, quyết “cứu nạn lớn, lập công to để tiếng thơm muôn đời”. Ông liên kết với hào kiệt các vùng, chiêu mộ được nhiều anh tài như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Xí, Lê Sát, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú… Ông còn chủ trương một cuộc chiến tranh toàn dân. Rừng núi Lam Sơn trở thành vùng đất thiêng quy tụ tinh thần yêu nước, là khu căn cứ khởi nghĩa lớn nhất cả nước.

Năm 1416, ông tổ chức Hội thề Lũng Nhai khi quân đội đã mạnh, lập ra bộ chỉ huy gồm 18 bậc hào kiệt thân tín. Lê Lợi long trọng tuyên thệ tại hội thề: “…Cùng chung sức chung lòng giữ cho đất nước được yên, khiến xóm làng được ổn, thề sống chết có nhau, không dám quên lời thề son sắt”. Năm 1418, ông tổ chức lễ tế cờ, xưng là “Bình Định Vương”, phát động cuộc khởi nghĩa. Trong trận đánh đầu tiên, Lê Lai đã hy sinh để giải vây cho Lê Lợi và nghĩa quân, trở thành tấm gương cảm động vì nghĩa cả và sâu nặng lời thề Lũng Nhai, có sức động viên tinh thần chiến đấu dũng cảm của toàn quân.

Những trận đánh lớn sau đó diễn ra ở Tốt Động – Chúc Động, Đông Quan, Chí Linh, Diễn Châu, Thuận Hóa… đã khiến nhà Minh rơi vào thế bại, nhiều lần đưa viện binh sang cứu nguy. Trận ở Mã Yên (Lạng Sơn), tướng Liễu Thăng bị giết, 15 vạn viện binh rơi vào vòng mai phục Chi Lăng – Xương Giang và bị đánh tan tành. Vương Thông ở thành Đông Quan xin hàng và rút quân về nước. Nghĩa quân của Lê Lợi đã thể hiện tinh thần hướng thiện hướng hòa, huy động lương thực và phương tiện, mở đường cho bại tướng bại binh phương Bắc trở về.

Lê Lợi là một thiên tài nhiều mặt: giỏi thu phục nhân tài và lòng dân, giỏi sách lược đàm phán hòa hoãn, giỏi bao vây ở gần và tiêu diệt từ xa, giỏi tổ chức huấn luyện và điều binh khiển tướng. Đó là một anh hùng toàn vẹn chính trị – binh nghiệp – tâm đức. Đi suốt cuộc kháng chiến nằm gai nếm mật chống quân Minh hơn 10 năm, từ khó khăn gian khổ đến lớn mạnh và chiến thắng, ông luôn bền chí xây dựng sự nghiệp. Sử cũ tôn vinh ông là vị vua: “…đích thân phát hết gai góc, bừa phẳng bạo tàn, thường lấy áo giáp làm đồ mặc, nội cỏ làm nhà cửa, trải qua bao nỗi nguy hiểm, xông pha trước giáo gươm mới quét sạch phong trần, dựng nên cơ nghiệp” [9].

Cùng kề vai sát cánh với ông từ những ngày đầu cuộc khởi nghĩa, có Nguyễn Trãi. Sau khi chiến thắng, Nguyễn Trãi viết bản tổng kết chiến tranh, ngày nay được xem là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước Việt. Đó là áng hùng văn thiên cổ “Bình Ngô đại cáo”. Mở đầu, Nguyễn Trãi viết:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc – Nam cũng khác,

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Nhưng hào kiệt đời nào cũng có…”

Một số phân tích cho thấy đoạn văn này chứa đến sáu yếu tố tự hào: “Đại Việt” như đã nói là quốc hiệu do chính cha ông đặt ra, chấm dứt tên gọi ban phát từ Hán triều; “Vốn xưng nền văn hiến” chứng tỏ Đại Việt là nước có nền văn hóa văn minh riêng nên không phải là “bản sao” của người Hán; “Núi sông bờ cõi đã chia” khẳng định khu vực về mặt địa lý, yếu tố quan trọng tiến tới hình thành lãnh thổ quốc gia chủ quyền; “Phong tục Bắc Nam cũng khác” trong đó  Bắc – Nam là để phân biệt giữa Việt Nam – Trung Hoa và chữ “tục” theo nghĩa tiếng Hán là đời thường, còn “phong tục” theo nghĩa tiếng Việt là những giá trị tốt đẹp; hàng loạt tên các triều đại phương Nam được kể ra và khẳng định cũng như các triều đại phương Bắc“mỗi bên hùng cứ một phương” cho thấy sự tồn tại độc lập và đủ mạnh ngang nhau, không có chuyện bất tương xứng; “hào kiệt đời nào cũng có” chứng tỏ Đại Việt là nước có nguồn nhân lực xuất sắc, có những vị vua anh minh và những vị tướng anh tài, chứ không riêng gì phương Bắc.

Quả là cách viết ngắn gọn, đầy đủ hàm ý về tinh thần tự chủ, tự hào dân tộc ngay từ những dòng khởi bút mở đầu bản tổng kết chiến tranh.

Anh hùng Nguyễn Huệ (1758 – 1792)

Ông quê ở Tây Sơn, tổ tiên vốn dòng họ Hồ ở Nghệ An xưa kia vào Nam sinh sống. Cuộc đời 39 năm của ông sáng rực một chân trời lịch sử ở giai đoạn đầy biến động. Mới 18 tuổi, ba anh em nhà Tây Sơn đã phất cờ khởi nghĩa, thu hút nhiều tầng lớp tham gia. Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn chiếm thành Quy Nhơn, làm chủ cả vùng duyên hải miền Trung. Năm 1777, chúa Nguyễn phía Nam bị lật đổ trong cuộc tiến công của anh em Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Ánh thoát chết. Tháng Giêng năm Giáp Thìn 1785, ông chỉ huy đánh tan 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm – Xoài Mút do Nguyễn Ánh cầu cứu. Sách sử Đại Nam thực lục” thời Nguyễn ghi lại cảnh quân Xiêm tháo chạy với tâm trạng: “ngoài miệng tuy nói khoác, nhưng trong bụng thì sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Nguyễn Ánh lại thoát chết, trở thành mối hậu họa cho chính Nguyễn Huệ về sau.

Tháng 7-1786, Nguyễn Huệ tấn công vào Phú Xuân, nơi chúa Trịnh đóng quân, giải phóng đất nước đến bờ Nam sông Gianh. Giữa năm 1786, ông giương cao khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh” tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, tiến quân ra Thăng Long. Chúa Trịnh bị nhân dân bắt và giao nộp cho quân Tây Sơn, chấm dứt phủ chúa tồn tại 200 năm. Nhưng sau khi rút quân, tình hình Bắc Hà lại rối loạn. Ông lại “Bắc tiến” ra tận Thăng Long diệt Vũ Văn Nhậm mưu phản, khiến Lê Chiêu Thống bỏ thành chạy lên Kinh Bắc. Ông bàn giao Thăng Long lại cho các sĩ phu yêu nước như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp… rồi quay về. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, lãnh thổ từ Bắc chí Nam được thống nhất.

Chúa Trịnh bị lật đổ, nhà Mạc trỗi dậy, thỏa hiệp cắt đất cho nhà Thanh. Vua Lê Chiêu Thống cử người sang cầu cứu nhà Thanh can thiệp. Đó là hành động coi rẻ lợi ích dân tộc để tranh giành riêng một ngai vàng. Cuối năm 1788, lợi dụng rối ren, nhà Thanh đưa 29 vạn quân sang chiếm Thăng Long. Các sĩ phu Bắc Hà cấp báo với Nguyễn Huệ, đồng thời lập ra hai tuyến phòng thủ trên bộ ở Tam Điệp và đường thủy ở Biện Sơn. Khi Tôn Sĩ Nghị dẫn đường cho viện quân phương Bắc kéo vào Thăng Long thì tại Tây Sơn, sau khi đã chuẩn bị 10 vạn quân tinh nhuệ, Nguyễn Huệ lên ngôi, xưng Hoàng đế Quang Trung, mở cuộc hành quân bí mật và thần tốc ra Bắc. Đến Thanh Hóa, ông dừng chân tuyển thêm quân lính. Trong lời dụ tướng sĩ, Quang Trung đề cao ý chí quyết thắng trong toàn quân:

“Đánh cho để dài tóc,

Đánh cho để răng đen,

Đánh cho nó chích luân bất phản,

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Ra đến Tam Điệp, quân Tây Sơn phối hợp với các đạo quân phòng thủ Bắc Hà, chia thành năm cánh lớn nhằm vào những nơi quân giặc tập trung. Đêm trừ tịch, tiền tiêu địch bên kia sông Đáy bị diệt. Mồng Ba tết, quân giặc ở đồn Hà Hồi bị đánh úp, phải đầu hàng. Mồng Năm tết, 100 voi chiến cùng bộ binh giao tranh với ba vạn quân tinh nhuệ phòng thủ đồn Ngọc Hồi. Sử cũ diễn tả: “Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết… thây ngổn ngang đầy đồng, máu chảy thành suối” [10].

Tại Đống Đa, quân của đô đốc Long được nhân dân giúp sức, đốt cháy doanh trại, tướng giặc Sầm Nghi Đống tự tử. Tại Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị biết đã đại bại, bỏ thành kéo quân chạy sang Gia Lâm và trốn về nước. Trưa mồng Năm tháng Giêng năm Kỷ Dậu, Quang Trung trên lưng voi với chiến bào xạm khói lửa trận mạc, tiến quân vào nội thành trước sự đón mừng của nhân dân. Bắc Hà được hoàn toàn giải phóng lần thứ hai. Đây là một chiến thắng kép: cả thù trong lẫn giặc ngoài đều bị đánh cho đại bại. Một lần nữa, thiên tài quân sự Quang Trung thể hiện đáng kinh ngạc và tâm phục.

Một điều rất lạ: ông chỉ là một nông dân ở Bình Định, không thấy sử cũ ghi lại việc ông học luyện lý thuyết hay nghiên cứu binh thư trận mạc, ông cũng không dùng đến chiến thuật du kích kéo dài, nhưng đánh trận ở bất kỳ vùng đất nào xa lạ, đánh với nhiều đội quân khác nhau, dưới sự chỉ huy của ông, đều thắng như thế che tre. Ở ông, chỉ có huy động tổng lực điểm vào đúng huyệt, đánh chắc và ra đòn ác như các thế võ Tây Sơn.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đều nhận định chiến lược quân sự của Nguyễn Huệ ở 5 điểm: chủ động, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, mãnh liệt. Đó là một thiên tài với những chiến công quân sự vĩ đại, là niềm tự hào trong truyền thống giữ nước của dân tộc. Cho nên, sử cũ nhận xét: “Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết được… ai nghe tiếng cũng phải khiếp sợ”. [11]

Đáng tiếc là thiên tài cháy rực sáng thường tắt sớm. Mặc dù ngày nay cũng có vài nhận định khác nhau về Nguyễn Huệ – Quang Trung, nhưng một điều ai cũng phải ghi nhận: ông là một tướng tài hiếm có. Nếu ông sống lâu hơn với những ảnh hưởng và tác động mang tính quyết định, có thể những khúc quanh của lịch sử vốn gắn với vận mệnh dân tộc đã được nắn dòng.

 

Đường lối ngoại giao

Trong thời kỳ độc lập tự chủ, cha ông ta giữ hòa hoãn nhưng luôn cảnh giác với triều đình phương Bắc. Đường lối ngoại giao ngày xưa tùy theo thế thời, lúc cương lúc nhu khôn khéo. Có những thời điểm tinh thần tự chủ và đoàn kết dâng cao, các triều đại Trung Hoa buộc phải công nhận vương hiệu độc lập. Đó là năm Nhâm Thân 972, vua Tống sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm “Giao Chỉ Quận Vương” sau khi triều Đinh cho người đi sứ và cống nạp. Sau chiến thắng quân Nguyên Mông, vua Mông Cổ cũng sai sứ sang phong vương cho vua Trần Thánh Tông. Khi quân Tống ở giai đoạn cuối cuộc chiến tranh 1076, trong thế tiến thoái lưỡng nan, nhà Lý đã chủ động mở lối bằng cách cho sứ sang phân tích tình hình để nhà Tống thấy rõ mà rút quân về. Nhà Tống chấp nhận, do đó hai bên tránh đổ máu bằng trận quyết chiến phân thắng bại cuối cùng.

Năm Đinh Mùi 1427, Lê Lợi cấp 500 thuyền, 2 vạn ngựa và lương thực cho các đội quân thủy bộ còn lại rút về nước, khiến hai bại tướng nhà Minh là Phương Chính và Mã Kỳ rất lấy làm tâm phục. Trước khí thế căm thù dâng cao, nhân dân muốn giết sạch quân Minh bị bắt, Lê Lợi giải thích: “Việc phục thù trả oán là chuyện thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người là bản tâm của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng đến muôn đời, chi bằng hãy cho sống ức vạn mang người để dứt mối chiến tranh muôn thuở. Công việc sẽ được chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền mãi tới ngàn thu, há chẳng lớn ư?”

Năm Mậu Thân 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi, nhưng để tránh mâu thuẫn với nhà Minh ông không xưng đế mà chỉ xưng vương với tinh thần khiêm tốn cầu hòa: “Những vị vua có công đức lớn như vua Vũ, Thang, Văn… thời Tam Đại mà cũng chỉ xưng vương thôi. Huống chi trẫm tài đức mỏng manh, đâu dám nói đến hiệu hoàng đế. Nay chỉ xưng tước vương cũng đã là quá rồi”. Thực ra, đế hay vương thì ông vẫn là vị vua của một quốc gia độc lập, chủ quyền.

Năm 1646, vua Minh cho sứ thần sang phong cho Thái thượng hoàng Lê Thần Tông vương hiệu “An Nam Quốc Vương”, trước đó chỉ phong chức “An Nam Đô thống sứ”. Đến triều Tây Sơn, sứ nhà Thanh còn vào tận Thuận Hóa phong vương cho Nguyễn Huệ. Để đáp lễ, một hoàng đế Quang Trung đóng giả Nguyễn Huệ đã sang thiết triều nhà Thanh nhân dịp mừng thọ vua Càn Long. Đây là vụ đánh tráo nhân vật đứng đầu lớn nhất trong lịch sử ngoại giao đoàn. Khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, việc giữ lễ nghĩa hòa khí với nhà Thanh vẫn tiếp tục, một mặt cũng tạo quan hệ nước lớn đối với Chân Lạp, Ai Lao.

Có thời điểm triều đình bất hòa hay nội chiến, một số phe nhóm yếu thế cầu viện nước ngoài, tạo cơ hội cho ngoại bang thực hiện âm mưu xâm lược. Đó là năm Quý Tỵ 1533, cận thần nhà Lê sang cầu viện quân Minh lật đổ triều Mạc. Nhà Mạc biết vậy, bèn đề ra giải pháp hòa bình với triều Minh. Nhân đó, các tham chính nhà Minh ra điều kiện: Mạc Đăng Dung phải đích thân đi nộp đất dựng mốc, bỏ đế hiệu và theo niên lịch nhà Minh. Từ đó mà năm Mậu Thân 1548, Lê Quang Bí được triều Mạc cử đi sứ để lo việc cống tiến. Trên đường đi, ông bị quân Minh tình nghi không phải là sứ giả, nên bị giam lỏng chờ tra xét. Cùng một số rắc rối khác, cuộc đi sứ của ông kéo dài đến 18 năm, đến ngày về tóc đã bạc! Đây là cuộc đi sứ dài nhất trong lịch sử.

Liên tiếp các triều đại Lê – Lý – Trần, nghi thức đón sứ thần với sự phân biệt ngôi thứ và nhiều bước thủ tục tiếp tục thể hiện thâm ý đồng hóa và cai trị của phương Bắc. Khi sứ thần đến biên giới, các quan quân đến Ải Nam Quan nghênh đón, đưa về nghỉ chân ở trạm Lã Côi (Bắc Ninh). Vua và các quan trong triều phục đến đây tương kiến sứ thần và đưa về Thăng Long. Tại kinh thành, đường phố sân điện đèn hoa rực rỡ, quan quân hàng ngũ chỉnh tề. Lễ tiếp nhận chiếu sắc diễn ra ở cố cung: chiếu sắc đặt trên long đỉnh, vua và các quan quay về hướng Bắc nơi đặt hương án bái lạy và tiếp nhận. Tiếp theo là bàn thảo sự vụ, rồi đãi đằng yến tiệc. Khi ra về, sứ thần được họa thơ đưa tiễn và được ban tặng lễ vật. Thời gian sau, sứ thần nước Việt phải sang thiên triều phương Bắc tạ ơn. Thời Nguyễn, mặc dù kinh đô ở Huế nhưng nghi thức tiếp sứ thần phương Bắc vẫn diễn ra tại Thăng Long.

Còn nhớ trước đó bị Nguyễn Huệ đánh đuổi, Nguyễn Ánh đi cầu viện quân Xiêm. Đây là sách lược tìm kiếm sức mạnh đồng minh giai đoạn, phục vụ tham vọng lên ngôi bảo vệ lợi ích cá nhân dòng họ và giải quyết thâm thù lãnh địa. Từ cuộc cầu viện này, chiến tranh lại tiếp nối làm nhân dân thêm tang thương đói khổ. Nhưng xuyên suốt, tham vọng mở cõi, quản lý thống nhất đất nước và tinh thần độc lập dân tộc vẫn được Nguyễn Ánh nuôi chí bền, kiên trì đề cao. Quan điểm của vài nhà viết sử cho rằng Nguyễn Ánh “bán nước” mà không nêu rõ sự kiện hay sự nghiệp, là xu hướng cực đoan quy chụp kết tội.

Từ chỗ nhờ sự giúp đỡ các điều kiện từ nước Pháp đánh lại quân Tây Sơn, sau khi thắng lợi Nguyễn Ánh quay lại thủ cựu, đặt quan hệ với nhà Thanh. Vua cho xây dựng kinh đô Huế theo mô hình Tử Cấm Thành, đặt hệ thống chính quyền cai quản như nhà Thanh, bỏ qua đề nghị cải cách theo hướng phương Tây, chủ trương “dĩ nông vi bản” khi đã cai quản cả hai đồng bằng rộng lớn. Nhưng vấn đề này có nguồn gốc của nó từ năm 1644, khi nhà Thanh lật đổ triều Minh và nhiều người Hoa đã bỏ cố hương Trung Quốc ra đi. Đến năm 1679, người Hoa về phương Nam, lập ra những làng ở Bến Nghé, Gia Thanh, Chợ Lớn… Năm 1787, Nguyễn Ánh từ Xiêm về nước, liên kết với người Hoa chiếm Hà Tiên, Long Xuyên, đồng thời lập bốn bang Hoa trị nhằm tạo hậu phương phát triển lực lượng giao tranh với quân Tây Sơn. Đáng kể là việc Nguyễn Ánh cộng tác với Võ Tánh thành lập binh đoàn Hòa Nghĩa 10.000 quân, tiến chiếm Gò Công, Gia Định, Quy Nhơn, đánh ra tới Đại Chiêm ở Quảng Nam, thu phục hầu hết đất đai.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, một mặt sai sứ thần sang Trung Quốc đề nghị sắc phong vương hiệu và quốc hiệu, mặt khác cho phép mở rộng bảy Hoa bang trong nước. Năm 1841, đại bang Hoa Phủ Công Sứ ra đời từ bảy bang trước đó. Người Hoa thi đỗ đạt được bổ nhiệm chức quan có: Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng… Trong lịch sử Việt Nam đến lúc này, người Hoa là người nước ngoài được hưởng nhiều quyền lợi nhất: miễn lao dịch, miễn thuế thân, chỉ đóng thuế buôn bán, được lập các binh đoàn có vũ khí.

Trong quá trình tìm kiếm sức mạnh chống lại quân Tây Sơn, Bá Đa Lộc cũng thay Nguyễn Ánh ký điều ước vào năm Đinh Mùi 1787 để đổi lấy sự giúp đỡ của Pháp. Sự kiện này buộc Nguyễn Ánh nhượng cho Pháp sử dụng cảng Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Sau này, khi Pháp nhắc lại, triều Nguyễn từ chối với lý do lúc trước Pháp không thực hiện, nay hết hiệu lực. Nhưng vì mang ơn ngoại bang, triều Nguyễn nhượng bộ cho một số sĩ quan Pháp có công, mỗi người được 50 lính hầu và không phải lạy như các quan thần người Việt khi thiết triều. Năm 1817, Chính phủ Pháp cử đại diện đến liên hệ buôn bán và đặt quan hệ ngoại giao với nhà Nguyễn, nhưng không có kết quả. Vua Louis XVIII từng phái thuyền trưởng A.de Kergariou đi tàu Cybèle mang quốc thư đến Việt Nam, nhưng vua Gia Long không nhận. Năm 1822, đặc sứ Courson de la Ville Helio đến yết kiến vua Minh Mạng, cũng không được gặp. Lãnh sự quán của Pháp tại Huế mở ra năm 1821, bị đóng cửa năm 1829. Năm 1831, nhà vua nước Pháp lại cử thuyền trưởng La Place tới cảng Đà Nẵng, nhưng triều đình Huế lại bác bỏ điều đình. Khi vua Gia Long qua đời (1820), người Hoa ở miền Nam không nghe vua Minh Mạng, liên kết với Tả quân Lê Văn Duyệt chủ ý cát cứ. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, (1832) vua Minh Mạng thu hồi quyền Hoa trị các bang, qua nhiều bước đối phó đã áp đặt được chính sách Việt trị chặt chẽ. Tuy vậy, ảnh hưởng của người Hoa phía Nam và ngay ở triều đình Huế không dễ chấm dứt. Các quan đại thần còn có nhiều can dự vào ngoại giao của triều Nguyễn sau này. Cho nên, đến cuối thời Gia Long, chủ quyền đất nước và vấn đề ngoại giao đã tiềm ẩn bên trong những rạn nứt tranh giành ảnh hưởng có nguồn gốc sâu xa bên ngoài đưa vào từ các thời kỳ trước, hình thành mối nguy hiểm ngày càng lớn, làm cho người kế vị không những không thể xử lý xong mà còn “tiến thoái lưỡng nan” và từng bước lùi vào bất lực. Nhận xét các vị vua cuối thời Nguyễn “bạc nhược, đớn hèn” mới chỉ là nhìn thấy ở phần nổi.

Vào lúc này, người Mỹ cũng đến ViệtNamtrên quan hệ thương mại. Năm 1787, Thomas Jefferson (sau này là Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ), qua lời kể về xứ sở Cochinchina (Đàng Trong), ông đã quan tâm đến giống lúa quý vùng này. Năm 1803, thương thuyền The Fame của Hoa Kỳ trên đường tìm kiếm thị trường, lần đầu thả neo ở Đà Nẵng. Cuối năm 1832, một phái đoàn ngoại giao chính thức đầu tiên của Hoa Kỳ mang theo bức thư bày tỏ bang giao của Tổng thống Andrew Jackson gửi vua Minh Mạng, cập bến tại Phú Yên. Nhưng vì một số quan điểm khác nhau trong triều đình, cuộc gặp đã không được xúc tiến. Năm 1836, tàu thủy Peacock Hoa Kỳ đỗ ở Vịnh Đà Nẵng với nỗ lực thực hiện sứ mệnh ngoại giao lần thứ hai, nhưng vẫn không thành. Triều Nguyễn cũng chối từ thỉnh nguyện của Vương quốc Anh xin mở trung tâm buôn bán tại Sơn Trà. Giả thiết lúc đó Nguyễn Ánh đồng ý những thỉnh nguyện này, có thể Việt Nam ngày nay đã phát triển theo mô hình nước Anh hoặc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và Việt Nam đã có thể là một thương cảng lớn chưa hẳn thua kém Hồng Kông.

Mở đầu cho “bế môn tỏa cảng”, triều Nguyễn ban hành chính sách cấm đạo đối với Công giáo phương Tây. Trước đó, người Việt đã có chính sách kinh tế hướng ngoại. Thời vua Lý Thái Tông, năm 1149 ông đã cho lập trang Vân Đồn đón thuyền các nước Giava, Xiêm La vào buôn bán. Sau khi chiến thắng, Quang Trung cũng đàm phán với nhà Thanh để “mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngưng đọng, làm lợi cho sự tiêu dùng của dân”. Đến trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi, thương cảng ở Hội An và Mỹ Tho vẫn còn đón nhận thuyền buôn phương Tây, Nhật Bản và các nước trong vùng. Nhưng từ tư tưởng của các nhà truyền đạo phương Tây không phù hợp với chính sách cai trị của triều Nguyễn mà giao thương kinh tế cũng bị cắt đứt là một hạn chế, thêm sau này lại càng mù quáng khi nhận định Công giáo là đội quân dẫn đường cho người Pháp xâm lược. Đến các vua đời sau, nhà Nguyễn còn không lo canh tân quốc nội, huống gì nghĩ đến mở rộng giao thương bên ngoài.

Ở giai đoạn tiếp theo, một số trí thức kiên trì đề nghị canh tân đất nước. Nếu những bản điều trần của họ được đón nhận bằng đường lối ngoại giao rộng mở, Việt Namngày nay đã có thể phồn thịnh theo một hướng khác. Tư tưởng duy tân cho thấy, mặc dù chưa xét đến tính khả thi và biện pháp tiến hành, trí thức Việt Nam bấy giờ đã nhìn thấy một thời đại mới, nhận thức được rằng chỉ có chấm dứt “tự túc tự cường” theo quan điểm khép kín và bảo thủ mới có thể phát triển đất nước. Nhưng trong thời buổi xế bóng của chế độ quân chủ, nhà Nguyễn không có vị vua anh minh, đã bỏ mặc những đề nghị tâm huyết và trách nhiệm với dân tộc của những người tiên phong có thể dẫn dắt đất nước đến văn minh hiện đại.

 

Chống  Hán hóa

Ở thời kỳ Bắc thuộc, nhiều sự kiện và câu chuyện đã nổi bật tinh thần chống Hán hóa của người Việt. Khi nhà Đông Hán cai trị đổi tên Âu Lạc thành Giao Châu, Mã Viện cho dựng cột đồng ở nơi phân chia địa giới hai nước, khắc dòng chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Người Giao chỉ đi qua, nhặt đá bỏ đầy xung quanh trụ, cao thành gò. Trụ đồng bị chôn mất bởi gò đá cứ cao lên. Đó là một cách trả lời cho nhà Đông Hán biết phương thức tồn tại riêng của người Giao Chỉ mà không phải do phán quyết bên ngoài.

Khác với người Hán, người Việt có những phong tục riêng được duy trì qua nhiều thế hệ: ăn trầu, nhuộm răng, búi tóc, xăm mình, y phục, nhà cửa, tín ngưỡng, lễ hội, thờ cúng quốc tổ và thành hoàng, giao tiếp, ngôn ngữ, nghệ thuật, ẩm thực, cách đặt tên làng tên nước… Sau này, trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi cũng cho rằng “quốc nhân” (người trong nước) không thể học theo tiếng nói và trang phục của Trung Quốc, Chămpa, Lào… bởi vì làm như vậy sẽ nhiễu loạn “quốc tục”. Ông cũng là người đích thân cổ vũ cho chữ Nôm trong rất nhiều tác phẩm xuất sắc.

Vào thời nhà Trần, quân Nguyên sang xâm lược, buộc triều đình đổi sắc phục theo thể chế phương Bắc và ba năm phải một lần cống nộp người hay chữ, thầy thuốc, thầy tướng số, nghệ nhân, cùng các sản vật trên rừng dưới biển như sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, ngọc trai… cho thiên triều. Năm Nhâm Ngọ 1282, vua Trần Nhân Tông lấy cớ bị bệnh không đi thiết triều, vua Nguyên lại truyền dụ: “Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay, và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay, mỗi hạng hai người”. Quá trình Hán hóa diễn ra cả hai chiều, các triều đại Trung Hoa thực hiện cưỡng chế bắt hết nhân tài đất Việt. Nhưng thường thì người Việt tìm mọi cớ trì hoãn và lảng tránh.

Các văn bia bằng đá và những trước tác quan trọng cũng bị đập phá hoặc tịch thu. Thay vào đó, người Việt khôn ngoan có cả một hệ thống kho tàng ca dao, tục ngữ, hò vè, cổ tích, dân ca, diễn tuồng… theo phương thức văn học dân gian, truyền khẩu nhiều đời và khắc sâu trong trí nhớ. Vì thế mà “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!” Thời nhà Minh, cùng với bóc lột và đàn áp, năm 1414 Hoàng Minh sang cai trị nước ta còn bắt lập Văn Miếu và dựng đàn tế lễ thờ xã tắc Phong Vân – Sơn Xuyên, du nhập các thần theo tín ngưỡng Trung Hoa, cấm cắt tóc ngắn, phụ nữ phải mặc loại quần dài và áo ngắn theo cách mặc ở phương Bắc, mở trường học tiếng Hán và hình thành hệ thống quan chức tay sai. Cùng với việc làm trên, nhà Minh còn đưa 800.000 dân Hán kéo sang cư trú thể hiện chính sách xâm lược đi liền với đồng hóa chủng tộc, làm loãng đổi huyết thống người Việt. Nhưng họ cũng thất bại.

Câu chuyện súng thần cơ thời Nhà Hồ thêm một minh chứng. Vì có loại súng này, bao trận chiếm thành của quân Minh không những bị đẩy lùi mà còn làm cho chúng vô cùng kinh hoàng. Nhà Hồ chỉ thua quân Minh vì không được lòng dân ủng hộ. Trá dưới khẩu hiệu “Phù Trần diệt Hồ”, đánh bại triều Hồ và chiếm được nước ta, quân Minh thu hết súng gồm nhiều loại lớn nhỏ. Khi làm lễ tế súng, trước hết chúng đều phải tôn tế Hồ Nguyên Trừng là người chế ra súng. Còn Hồ Quý Ly và toàn bộ thân tín tài giỏi đều bị quân Minh giải hết về Kim Lăng thuộc đất nhà Minh.

Chống Hán hóa ở người Việt nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Người Việt không chịu khuất phục ách đô hộ nhà Hán, họ mến yêu tha thiết nơi họ gắn bó sinh tồn, biết giữ gìn và vun đắp cơ nghiệp của cha ông. Từ gia đình đến làng quê, rồi rộng lớn hơn là tổ quốc chứa bao hình ảnh quen thuộc thân thương mà sau này một nhà thơ đã viết:

“Ôi tổ quốc có nghìn định nghĩa

Một tiếng ru hời của mẹ, một mùi hương,

Một trái cây vườn khi còn thơ bé,

Một chiếc hôn nồng lên đôi mắt người thương…”

Tinh thần yêu nước còn đi vào trong tiềm thức giấc ngủ, là cơ sở lý giải những chuyện nửa thực nửa hư. Vì thế, dù là kỳ dị dã sử, chủ ý của nhiều câu chuyện vẫn là đề cao sức mạnh trường tồn của dân tộc và đất nước. Lý Công Uẩn là con nhà Phật, lúc mới sinh hai bàn tay mỗi bên nổi lên các chữ “Sơn hà – Xã tắc”, sau này là vua Lý Thái Tổ. Vua Lý Thánh Tông ra đời từ sự kiện hoàng hậu Mai Thị mơ thấy mặt trăng lặn vào bụng, từ đó bà có mang và sinh một bé trai. Lớn lên, Thánh Tông thông kinh truyện, thuộc âm luật, tỏ rõ thông minh sáng sủa như trăng rằm.

Sử cũ cũng tương truyền Lê Lợi được một linh hồn sư ông chỉ cho ngôi huyệt phát đế, lại bắt được một lưỡi gươm dưới đáy sông có hàng chữ triện và nhặt được một chuôi gươm trong vườn rau có hình rồng hổ cùng hai chữ “thanh thuý”, mà hai thứ ở hai nơi khác nhau đem gắn vào lại là một rất vừa. Sự kiện làm chúng ta liên tưởng An Dương Vương cũng được Thần Kim Quy hiện lên trong mộng, bày kế giữ nước. Vùng rừng núi Lam Sơn cũng được giải thích là đất thiêng, người tài giỏi khắp nơi kéo về giúp Lê Lợi đánh giặc. Vì thế mà trong 20 năm đô hộ, nhà Minh chỉ yên ổn khoảng từ 1407 đến 1413. Sau này thắng giặc, có chuyện Lê Lợi mang trả lại gươm thần cho rùa vàng nên có sự tích hồ Hoàn Kiếm… Cùng với chim Lạc trong truyền thuyết cha Rồng – mẹ Tiên hay những linh vật trong Tứ bất tử, các Thánh mẫu…, rùa vàng trong chuyện Lê Lợi trả gươm sâu đậm và bí ẩn tinh thần yêu nước Việt Nam. Những sự kiện kỳ lạ ấy như là điềm báo vận nước đã được chọn trao vào tay những vị vua anh minh.

Trong yêu nước, người Việt lấy “trung quân ái quốc” làm trọng. Vì thế, ai cũng ý thức rõ “nước mất” thì “nhà tan”, “đền nợ nước” cũng đồng thời với “trả thù nhà”, ích nước đi đôi với lợi nhà. Sau này, còn có từ nhà nước” được người Việt hiểu như gắn liền trực tiếp giữa nhà với nước, mà ở các quốc gia khác lại nghiêng về giải nghĩa thể chế, chế độ hay chính quyền. Còn đối với người Trung Hoa, hầu như tinh thần yêu nước thiên về ý chí “trung quân”: quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Đất nước Trung Hoa rộng lớn có một thiên tử trị vì, từng vùng cụ thể lại có mức độ độc lập theo quan hệ thứ bậc chính – phụ và giới hạn trong phạm vi “phong hầu, kiến quốc” (gọi tắt là phong kiến). Với người Việt, yêu nước lại trở thành nhiệm vụ không phân biệt: đứa bé lên ba đã ý thức đánh giặc, tuổi trẻ tòng quân với cánh tay “Sát thát”, các bô lão muôn người như một hô vang “Quyết đánh” tại hội nghị Diên Hồng, quan hệ ba quân gặp nhau ở “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Các bản làng người Việt giỏi lối đánh dùng mưu lập kế lấy ít thắng nhiều, phục kích tiêu các toán quân lẻ. Chân yếu tay mềm như phụ nữ nhưng “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Vì thế mà không ít phụ nữ có công lớn và được vinh danh sử sách.

Thái hậu Dương Vân Nga biết việc gánh vác nhiệm vụ giang sơn trong hoàn cảnh đất nước nội loạn vẫn chưa dứt mà bên ngoài giặc phương Bắc lại chuẩn bị xâm lược là quá sức mình, bà đã hy sinh quyền lợi hoàng tộc, quyết định thay con ruột là Đinh Toàn mới sáu tuổi nối ngôi, bằng cách giao quyền lại cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Ỷ Lan là một phụ nữ luôn quan tâm quốc sự, khi nắm quyền nhiếp chính thay vua trị vì, có nhiều kế sách và quyết định đúng đắn nên đã dẹp sạch loạn thù và có nhiều chủ trương tích cực ổn định đời sống nhân dân. Công chúa Huyền Trân chấp nhận cuộc hôn nhân với vua Chế Mân thuộc Vương quốc Chămpa để đổi lấy châu Ô và châu Lý (sau này là châu Thuận và châu Hóa, nguồn gốc của địa danh Thuận Hóa) để mở rộng đất nước. Công Chúa Ngọc Hân chấp nhận cuộc hôn nhân theo Quang Trung Nguyễn Huệ về Đàng Trong để dân tộc bước qua thời đoạn lịch sử nghẹt thở thù trong giặc ngoài và một nước ba vua hai chúa…

Nói về âm nhạc, có sự kiện thời vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi và quan hoạn Lương Đăng được giao việc soạn sửa nhạc lễ. Lương Đăng sao chép nhạc lễ nhà Minh, trình lên nhà vua hai loại: Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc. Nguyễn Trãi không chấp nhận chuyện sao chép, nhưng tế nhị can ngăn vua theo một lẽ khác: “Đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn… Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than. Như thế mới không mất cái gốc của nhạc”. Vua khen ngợi ý Nguyễn Trãi, nhưng vẫn không bác bỏ bộ nhạc lễ do Lương Đăng dâng trình.

Năm 1470, Lương Thế Vinh và Thân Nhân Trung lại trình lên vua Lê Thánh Tông hai loại nhạc cung đình mới gồm đồng văn (khí nhạc) và nhã nhạc (thanh nhạc) tránh được nhiều sao chép. Đến thời Quang Trung, sau khi đại thắng, trong đoàn ngoại giao sang cầu hòa với nhà Thanh, có cả đội nhạc công và ca công cùng đi. Dịp này, đoàn đã biểu diễn “Nhạc phủ từ khúc thập điệu” mà có tài liệu cho nguồn gốc ban đầu của nó là mười bản tấu “Thập thủ liên hoàn”  thuộc Nhã nhạc cung đình Huế. Nhạc khí biểu diễn có tám loại: trống, phách, sáo, đàn huyền tử, đàn hồ cầm, đàn song vận, đàn tỳ bà, tam âm la. Nghe xong, triều thần nhà Thanh rất lấy làm lạ vì nội dung đến hình thức không hề giống nhạc phương Bắc. Về sau, trong một ký sự của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán khi đến kinh đô Phú Xuân được mời xem buổi diễn, cũng mô tả điệu múa “Thái Liên” (hái sen) rất tinh tế với các diễn viên “đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem”. Đó chính là quá trình sáng tạo rất Việt Nam.

Về gia đình, khi hôn nhân cận huyết thống vĩnh viễn khép lại bằng cuộc bỏ đi không bao giờ trở về của người chồng (thực ra là anh ruột) trong câu chuyện “Hòn Vọng phu”, có thể nói đó là thời kỳ gia đình người Việt đã hình thành. Các thành viên trong gia đình gắn kết nhau bằng: công cha là núi cao, nghĩa mẹ là suối nguồn, anh em như tay chân hay gà cùng một mẹ, ông bà trường thọ là nhà có phúc, con cháu phải đặt chữ hiếu lên đầu, gia đình sống chung nhiều thế hệ ràng buộc bằng trách nhiệm, lễ nghĩa và tình cảm sâu đậm… Khi chuyển sang xã hội phụ quyền, người phụ nữ trong gia đình và xã hội Việt Nam vẫn được tin yêu và đóng vai trò rất quan trọng, kể cả những chuyện tiếu lâm sợ vợ và xem “nhất vợ nhì trời” cũng có nguồn gốc nghiêm túc của nó.

Đến Nho giáo, các yếu tố tam tòng tứ đức, gia trưởng, quyền huynh thế phụ, nhất nam viết hữu thập nữ viết vô xuất hiện. Nhưng những đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam hầu như không biến đổi. Không theo hướng “quyền quynh thế phụ” như người Hoa, mối quan hệ vợ – chồng vẫn cơ bản chi phối gia đình: chồng cày vợ cấy, chồng giận thì vợ bớt lời, vợ chồng như đũa có đôi sinh cơ lập nghiệp, của chồng công vợ… Khi người chồng phải theo nghiệp chinh chiến hoặc đèn sách, người vợ người mẹ càng quan trọng hơn trên thực tế lẫn quan niệm nối tiếp tín ngưỡng thờ Mẫu: “Phúc đức tại mẫu”. Trong khi một số gia đình thuộc tầng lớp quan lại thường ảnh hưởng các yếu tố Nho gia theo cách “phú quý sinh lễ nghĩa”, thì hầu hết nông gia người Việt vẫn giữ được giá trị tinh thần ban đầu.

Gia đình người Việt lúc đầu không nặng yếu tố tộc danh như gia đình Trung Hoa, mà chỉ thường quan hệ nội – ngoại hay sui gia dẫn đến “làm sui một nhà biết ra bốn họ”. Người Việt nhận thấy các tộc danh Trung Hoa là sợi dây bền chặt đưa người Hoa đi khắp nơi mà vẫn giữ được yếu tố bản sắc qua các hội quán, phố Tàu, trường dạy tiếng Hoa, nơi thờ tự… Vì vậy, đó là bài học cần tiếp thu. Nhưng tộc danh người Việt cũng có thể vì hoàn cảnh hay vì nghĩa lớn mà cải họ trong “bách tính”, không trội yếu tố phụ quyền mà nổi bật yếu tố “gia – đình – lớn”: tôn ti trật tự, cộng cảm tinh thần, đề cao trách nhiệm, là chỗ dựa để những thành viên từ đó trưởng thành mà bước ra cộng đồng. Gia đình thường không bị biến dạng khi quy tụ vào tộc họ, hoặc ngược lại vẫn thế khi tộc họ tách thành nhiều phái nhánh do số lượng đã trở nên quá đông. Mặt khác, lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn với mối quan hệ thiên triều – chư hầu làm cho dòng tộc độc lập với triều đại. Riêng gia đình và dòng họ người Việt luôn gắn chặt với tình làng nghĩa xóm, quê hương đất nước, vận mệnh dân tộc. Người Việt ở nơi sinh sống mới không quên tục thờ cúng ông bà, cùng với việc lập ra các hội đồng hương, các hội đoàn nghề nghiệp, sinh hoạt văn hóa, các hoạt động cưu mang giúp đỡ lẫn nhau…

Hôn nhân của người Việt không chỉ là một trong ba việc lớn ở mỗi gia đình (cưới hỏi, dựng nhà, ma tang), không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng trong vòng đời người (ra đời, cưới hỏi, lên hàng lão, ma tang), mà còn gắn liền với nguồn gốc và vận mệnh sinh tồn dân tộc: cha Rồng – mẹ Tiên, Mỵ Châu – Trọng Thủy hay chuyện người chồng đi chiến trận mà người vợ khó mong có ngày kỷ nhân hồi qua các áng thơ Nôm “Cung oán ngâm”, “Chinh phụ ngâm”… Từ đó, người mẹ không chỉ là hình ảnh thân thương trong gia đình: thân cò lặn lội bờ sông, mẹ già như chuối chín cây, tiếng gọi mẹ đa dạng vùng miền (mẹ, má, mạ, u, bầm, mế, bu…); mà còn là hình ảnh của đất nước, dân tộc: Mẹ Việt Nam.

Về y phục, áo dài ra đời tại Huế vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, xuất phát từ cải biến áo dài Chăm kết hợp với áo tứ thân, gửi gắm và thăng hoa những ý tưởng làm đẹp dành cho người phụ nữ. Áo dài đi liền với chiếc nón lá và đôi guốc mộc là hình ảnh rất quen thuộc, đi vào bao tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng. Vì thế mà sườn xám Thượng Hải đã không thể chen vào sự lựa chọn y phục của phụ nữ Việt. Nguồn gốc chiếc áo bà ba là minh chứng chống Hán hóa nhưng lại biết giao hòa. Trong những nhóm người kéo đến khai phá phương Nam, có cả người Việt lẫn người Hoa. Họ gặp những người Khmer và Chăm. Người Hoa mang theo loại áo mặc có hàng nút cài bên hông, may thường rộng, màu vải đen để nhớ thương quê hương phục Minh, cố quốc phương Bắc.

Khi người con gái Việt lấy chồng là người Hoa, vừa tôn trọng truyền thống nhà chồng, cũng vừa muốn giữ cốt cách tinh thần riêng, đã chuyển hàng nút bên hông thành cài thẳng ở giữa ngực chia đều hai vạt. Áo vẫn áo không có cổ dựng nhưng thu hẹp sát người làm nổi rõ thân hình cân đối thon thả của con gái đồng ruộng, miệt vườn. Chiếc khăn rằn người Khmer hay quấn trên đầu được chuyển xuống chủ yếu quấn quanh cổ, tạo thêm “điểm nhấn” duyên dáng. Cùng với khăn áo ấy là chiếc nón lá và đôi guốc mộc thuần Việt. Thế là bộ bà ba độc đáo ra đời, rất Nam bộ, rất Việt Nam. Áo bà ba thêm lần nữa cho thấy người Việt chủ trương dung hòa nhiều giá trị tạo ra nét mới, thay vì triệt phá như người Hán.

Trong quá trình chống Hán hóa, cha ông ta không rơi vào đối đầu cực đoan, bài xích, mà chỉ chống lại những mặt “Hán hóa cưỡng bức”. Suốt quá trình lịch sử lâu dài, bản thân nền văn minh Trung Hoa đã trở thành một phần quan trọng đối với Việt Nam và các dân tộc quanh vùng. Các thái thú như Tích Quang, Nhâm Diên người Hán xưa kia đến cai trị vẫn được người Giao Chỉ theo học chữ và lễ nghĩa, hôn nhân, thờ cúng, ăn mặc… rồi sau đó mới cải biến cho phù hợp. Sĩ Nhiếp, người đã chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”, vẫn được người Việt suy tôn là “Nam Giao học tổ”. Các đời vua thời kỳ độc lập cũng dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử và chủ trương cổ xúy giá trị tích cực của Hán học.

Những phát minh và ngành nghề từ Trung Hoa như nghề in, nghề làm giấy, kim hoàn, gốm sứ, đồ sắt, đến thi ca theo lối niêm luật và văn xuôi biền ngẫu, chữ viết, tinh thần tích cực của Phật giáo, Nho giáo, văn học nghệ thuật và hội họa, y học châm cứu, thuốc Bắc… đều được các thế hệ người Việt học hỏi, vận dụng sáng tạo, phù hợp trong môi trường mới. Chỉ có thể nói mức độ chấp nhận cộng sinh và hòa quyện ấy diễn ra phụ thuộc vào cơ chế chọn lọc ở từng dân tộc có khác nhau. Đối với người Việt, đó là một cơ chế hài hòa: chống yếu tố cưỡng ép kèm theo âm mưu tiêu diệt dân tộc, chấp nhận những nét đẹp mang tính nhân bản nhân văn và giá trị chung thuộc về văn hóa văn minh loài người trên nguyên tắc tồn tại và lợi ích dân tộc là hàng đầu.

Lối sống, tâm linh

Sống trong không gian nông nghiệp lúa nước, người Việt xưa thường cộng cư ổn định, hài hòa với thiên nhiên. Trong đời sống tâm linh, người Việt thiên về thờ đa thần, tôn trọng thuyết “Vạn vật hữu linh”. Có thể ngày nay chúng ta phê phán việc thờ đa thần thuộc về thế giới mông muội, nhưng hạt nhân cơ bản của nó vẫn là tích cực. Đây là biểu hiện thái độ của người Việt cho rằng con người không thể tách ra khỏi thế giới vận động của mọi sự vật hiện tượng. Vạn vật xung quanh cần phải nương tựa, gắn vào nhau trong một thể thống nhất: “Đất có thổ công, sông có hà bá”, hay: “Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”.

Vì vậy chủ nghĩa vô thần không phải là một chọn lựa của người Việt, nó hầu như không thể bén rễ trong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh dân tộc. Cũng từ đó mà phần lớn người Việt đều thích chữ “Nhẫn” và chữ “Hòa” thể hiện qua các bức thư pháp được chọn treo nhiều. “Hòa” ở đây không chỉ giữa hai cá nhân, một nhóm người, mà cả dân tộc. Hòa chính là “nhân hòa”. Và quan trọng, từ “hòa” để mà đi đến “đồng”: đồng lòng, đồng thuận, đồng điệu, đồng cảm, đồng cam cộng khổ… Cha ông ta cũng quan niệm con người là vốn quý: của không thể thay người, còn người còn của, người ta là hoa của đất. Mục tiêu hàng đầu của hôn nhân cũng là duy trì dòng họ, tăng thêm nguồn nhân lực lao động, nhất là nam giới. Trong các cuộc giao chiến, triều đình luôn cần trai tráng xung quân, còn bắt nhiều quân lính và dân làng bên thua về hậu phương lập làng mới. Công cuộc đắp đê, đào kênh, di dân khai khẩn cần nhiều người mạnh khỏe. Người có công lớn với làng nước được tôn lên hàng nhân thần. Cũng vì xem con người là vốn quý mà trong đời sống tâm linh có rất nhiều nghi lễ vòng đời người.

Khi còn trong bụng mẹ, sự sống đã được tính tuổi và được kiêng kỵ, dân gian gọi là thai giáo: không ăn cua vì sợ thai ngang, không ăn thỏ vì sợ sứt môi, không ngồi lệch vì sợ con không đứng đắn, không đứng giữa cửa nhà vì sợ sinh khó… Điều đó ngày nay trở thành vô lý nhưng nó phản ánh mong muốn an toàn, hoàn hảo trong quá trình người mẹ phải “vượt cạn một mình”. Cũng có những vợ chồng hiếm con, phải đi cầu tự ở chùa miếu linh thiêng, nhờ thầy phong thủy xem chuyển mồ mả cha mẹ ông bà ra khỏi vị trí tuyệt đỉnh. Sinh được ba ngày, gia đình làm lễ tạ ơn mười hai bà mụ nặn hình hài em bé. Bảy ngày (bé trai) hay chín ngày (bé gái) lại làm lễ đầy cữ mong các bà mụ phù hộ cho bé biết lật, bò, ăn, nói, đi chựng… Người ta kiêng cữ giao tiếp vì sợ người nặng vía đến thăm sẽ làm em bé hay khóc và người trong nhà đến nhà khác sẽ mang phong long xấu đi làm hại. Một tháng tuổi thì có lễ đầy tháng, xin phép bà mụ đặt tên cho bé.

Một năm tuổi, đứa bé được làm lễ thôi nôi: cúng tạ ơn thổ công và gia tiên, làm phép thử bỏ ra một số vật dụng xem bé vớ lấy thứ gì trước thì cho rằng sau này sẽ có năng khiếu hay nghề nghiệp đó. Trong năm đầu, người ta quan niệm ma quỷ hung thần hay hại trẻ con nên giấu đi tên thật, chỉ gọi bằng các tên xấu xí, lấy tên hay quần áo con gái dùng cho con trai và ngược lại để ma chê quỷ hờn mà bỏ đi. Cũng có nơi đem con trẻ giả bán cho thợ rèn đeo vào chân một vòng sắt, bán con cho Phật hay thánh thần ở các đền chùa và xin áo dấu mặc cho trẻ.

Đến tuổi “nữ thập tam, nam thập lục” thì tính chuyện hôn nhân. Việc nhờ ông tơ bà mối và xem tuổi hợp hay khắc là không thể thiếu. Trong quá trình hôn nhân, theo Nho giáo có sáu lễ chính: lễ nạp thái (nhà trai đem con chim nhạn đến nhà gái ngụ ý chọn con dâu), lễ vấn danh (nhà trai nhờ người đến dò hỏi ngày tháng năm sinh của con dâu), lễ nạp cát ( báo cho nhà gái biết đã xem tuổi tốt, việc hôn nhân tiếp tục tiến tới), lễ nạp tệ (nộp sính lễ cho nhà gái), lễ thỉnh kỳ (xin định ngày giờ rước dâu), lễ thành nghênh (còn gọi là thân nghinh, họ nhà trai đến nhà gái rước dâu về). Nhưng người Việt với quan niệm “Cổ tuy tục lễ, hậu thế tồn tam”, đã ghép lại còn ba lễ cho đơn giản và đỡ tốn kém. Đó là: lễ chạm ngõ (ghép hai lễ nạp thái và vấn danh, nhà trai đem lễ vật đến tìm hiểu bước đầu), lễ hỏi (ghép lễ nạp cát và thỉnh kỳ, trình báo ngày cưới), lễ cưới (ghép lễ nạp tệ và thân nghinh, nhà trai mang lễ vật cúng bàn thờ tổ tiên nhà gái, nữ trang buộc phải có đôi hoa tai, đôi đèn, trầu cau, con heo hay phong bì tiền, rước dâu, tổ chức lễ và chiêu đãi bên nhà trai).

Việc hôn nhân xưa chủ yếu do cha mẹ quyết định toàn bộ. Bắt đầu khởi sự và xếp đặt hôn nhân, ở nhà quê còn có lệ gọi người con trai đến ở rễ, rồi lễ tết giỗ kỵ phải sắm lễ đến tạ cúng gia tiên nhà gái. Trong ngày cưới, vào trước giờ rước dâu, nhà trai còn phải mang lễ vật nộp cho đại diện làng phía nhà gái, gọi là nộp cheo. Họ nhà trai đến nhà gái trước hết làm lễ gia tiên, rồi lễ tơ hồng. Sau khi rước cô dâu về, cũng làm lễ gia tiên bên chồng, rồi đi lễ ở nhà thờ tộc họ. Đêm tân hôn có lễ giao duyên. Ba ngày sau, vợ chồng trẻ về nhà cha mẹ vợ làm lễ lại mặt. Mỗi lễ như vậy đều phải xem chọn ngày giờ tốt để vợ chồng có thể “ăn ở với nhau đến đầu bạc răng long”.

Khi về già, có nghi lễ lên lão, con cháu mừng thọ ông bà. Có nơi quy định từ 40 đến 49 tuổi là lão hàng, 50 đến 59 là lão nhiêu, 60 đến 69 là lão chính, 70 đến 79 là lão thọ, 80 tuổi trở lên là thượng thọ. Một số vùng có quy định riêng, nhưng nhìn chung không khác nhiều, cơ bản vẫn là tôn trọng tin tưởng: “Kính già già để tuổi cho”. Về cuối đời, có lễ tang. Các dân tộc trên thế giới có nhiều hình thức hủy đi thi thể người qua đời, riêng cách truyền thống thường thấy ở người Việt là địa tang ở đất vườn nhà, vườn mộ tộc họ hay nghĩa trang làng. Với quan niệm “Trần sao âm vậy”, người già đã chuẩn bị cho cái chết không thể tránh khỏi: viết hoặc suy nghĩ nói lời di chúc, chuẩn bị trước quan tài, người già theo đạo Phật may sẵn áo lục thù có đóng dấu nhà Phật, người theo đạo Công giáo cũng may áo chuyển đến linh mục làm phép.

Có nhiều nghi thức và việc làm lo cho người từ giờ khắc qua đời đến chôn cất. Những ngày diễn ra tang lễ, xóm làng đến phúng điếu trong tiếng nhạc nỉ non thương tiếc. Người nhà phải thay nhau canh giữ và đốt ngọn lửa nhỏ dưới quan tài suốt ngày đêm. Vào giờ tốt đã xem trước để đưa quan tài đi, có lễ động quan và di quan, ra nghĩa địa mới hạ huyệt. Ba ngày sau, có lễ mở cửa mả. Rồi lễ cúng 49 ngày, một năm. Hai năm thì được xả tang, năm sau nữa cúng giỗ bình thường. Người Việt quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận” nên tang lễ thường được tổ chức đầy đủ các nghi thức thành kính.

Ngày xưa, khái niệm tâm linh và tôn giáo chưa phân chia rõ ràng, chủ yếu hiểu chung từ tình cảm dẫn đến thiêng thờ. Trong đó, tín ngưỡng thờ Mẫu là nét đặc trưng, có thể xem là một tôn giáo dân gian sơ khai. Thờ Mẫu xuất phát từ tục thờ Nữ Thần thời cổ đại, kéo dài sang thời trung đại. Chiếm vị trí trang trọng ở các đền thờ là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải có nguồn gốc từ núi rừng và sông nước. Mẫu Liễu Hạnh quê ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Định) vào thế kỷ XVI, được tương truyền là con của Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới. Dưới các Mẫu là chư vị gồm có hàng Quan, Chầu, Ông, Cô, Cậu, Ngũ hổ, Rắn… Tín ngưỡng này khi vào phía Nam chuyển sang thờ Thánh Mẫu Thiên Y-a-na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh), Bà Thiên Hậu (Bình Dương)… Ngày nay, trong ngôn ngữ tiếng Việt còn để lại hàng loạt từ mang dấu ấn tín ngưỡng này: đũa cái, đường cái, cột cái, con dại cái mang, trong nhà có bà hay ăn cơm trước, vía bà, bà mụ, mẹ…

Cùng với yếu tố nội sinh nói trên, tôn giáo ngoại nhập cũng bắt đầu xuất hiện. Phật giáo với vị cao tổ là Thích Ca Mâu Ni (Tất Đạt Đa), con của vua nước Kapila, người đề xướng ra thuyết “Tứ diệu đế”. Từ thế kỷ II, các nhà sư Ấn Độ đã đưa Phật Giáo đến đất Giao Chỉ bằng đường biển và lập nên Trung tâm Phật giáo Luy Lâu theo phái Tiểu thừa Nam Tông tại Bắc Ninh. Đến khoảng thế kỷ V, thêm phái Đại thừa Bắc Tông từ Trung Quốc gia nhập vào. Thời Lý – Trần, rất nhiều vị vua biết gắn việc đạo với việc đời, vì quyền lợi nhân dân, biết tu thân và dừng việc hưởng thụ ở một giới hạn nhất định. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân và thống nhất các vùng, để giải tỏa mệt mỏi trong dân chúng vì nội chiến phe nhóm, vua Đinh Tiên Hoàng phong nhà sư Ngô Chân Lưu chức Tăng Thắng và chủ trương xã hội hướng đạo. Tiếp theo, vua Lê Đại Hành cử người sang Trung Quốc thỉnh rước chín bộ Đại Tạng kinh về nước. Đến thời Lý – Trần, nhà Lý chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng trong đời sống tinh thần, góp phần khoan sức dân. Vua Trần Nhân Tông sau khi truyền ngôi, vào núi Yên Tử tu hành, là một trong những tổ sư sáng lập phái thiền Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng và hoàn toàn thuần Việt.

Phật giáo do đó càng thăng hoa. Nhà sử học Lê Văn Hươu đã nhận xét xã hội thời này: “Nhân dân quả nửa là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền”. Một số lượng lớn đất cũng được cấp cho nhà chùa. Năm 1031, nối tiếp tinh thần trung tâm Phật giáo Luy Lâu, nhà Lý bỏ ngân sách xây được 940 chùa. Năm 1129, đất nước chứng kiến lễ hội khánh thành 84.000 bảo tháp. Các công trình kiến trúc nổi tiếng và đầy tự hào của người Việt như: chùa Giam, chùa Một Cột, chùa Đọi, chùa Tây Phương, chùa Hương… hay các tháp như: Bảo Thiên, Sùng Thiện Diêm Linh, Chương Sơn. Nổi tiếng là chùa Tây Phương với hàng loạt tượng Phật khắc trên các gương mặt những biểu lộ của “bể khổ đời người”, qua đó khuyên chúng sinh nên thoát tục thoát khổ, tu tâm tích đức. Bốn công trình bằng đồng lớn nhất từng được các triều vua Trung Hoa thời ấy công nhận là “An Nam tứ đại khí” gồm: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) do nhà sư Minh Không đúc, tháp Bảo Thiên có đỉnh đồng dựng năm 1057 ở Thăng Long, chuông Quy Điền đúc năm 1101, vạc Phổ Minh đặt ở chùa Phổ Minh (Nam Định).

Những nỗ lực trên xuất phát từ quyết định anh minh, hợp lòng dân, tạo nên thời kỳ hưng thịnh kéo dài. Các vị vua Lý – Trần đã nhận ra và tuân theo đúng một quy luật: triều đại và ngai vàng có thể đi qua, nhưng niềm tin tâm linh đã được thanh lọc và vô nhiễm mới là vĩnh hằng. Sau này, không ít triều vua chìm vào mỗi chữ “dục”, bày ra bao thú tiêu khiển vui chơi bệnh hoạn. Chính là soi vào những thịnh suy xã hội mà cổ nhân đã tổng kết: “Dân sính lễ là điềm suy xã tắc, dân mộ đạo là điềm thịnh quốc gia”.

Nếu đạo Phật vào Việt Nam và được đón nhận gần như rất tự nhiên, thì mất 500 năm giẫm chân, đến thời Hậu Lê, chủ yếu được triều đình ứng dụng tạo ra tôn ti trật tự nhằm cai trị đất nước, hình thành công cụ giúp chế độ phong kiến với bàn tay chuyên quyền đến tận yết hầu của từng thần dân, Nho giáo mới bén rễ. Nho giáo là một loại triết học vô thần, nhập thế chỉ cốt đặt ra con đường đi duy nhất cho các cá nhân: “cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Về luân lý, tư tưởng Khổng Tử tập trung vào: nhân, hiếu, để, trung, thứ, lễ nhạc. Chữ “Nhân” trong Khổng giáo là thiên đạo, cũng là tâm đức mà con người đối xử với nhau từ tình thân trong gia đình ra xã hội. Người đạt được đức nhân là bậc quân tử, cao hơn là thánh nhân rất hiếm.

Tôn ti trật tự mà Khổng giáo tạo ra và ràng buộc con người là những công thức bất di bất dịch nhằm duy trì sự hòa thuận. Đó là biểu hiện của chữ “Đạo” trong trời đất. Đứng đầu trong trật tự này là Thiên tử (con Trời) có trách nhiệm thay Trời hành đạo, giữ vững cương thường, yêu thương chăm lo và giáo hóa cho dân bằng đức trị và lễ nhạc. Làm cơ sở cho xã hội an bình là gia đình và làng nước với yêu cầu quan trọng nhất là ngôi thứ phân minh. Mỗi cá nhân tuân thủ Nho giáo cần phải có một chính danh và có trách nhiệm sống theo đạo đức, nhân nghĩa, trung hiếu, lễ nhượng, yên mệnh, yên phận…

Nhưng ở nhiều nơi và nhiều giai đoạn, Thuyết Thiên mệnh bị không ít vua chúa dùng để che đậy chuyên chế bạo tàn và mục ruỗng bên trong, giam hãm thần dân trong sự phục tùng mù quáng. Lại thêm các luật lệ vào tay kẻ thủ ác, thi hành cực đoan hà khắc, hình thành những hủ tục nặng nề, bị người Việt lên án và phủ nhận. Như đã đề cập, Nho giáo đặt ra chỉ mỗi một con đường cho các thần dân; không còn con đường khác cũng có nghĩa là việc bình ổn và cai trị xã hội, kể cả khi chính sách cai trị phản đạo trời đất, trở nên dễ dàng. Ở một số lĩnh vực khác, Nho giáo bị Việt hóa ngược lại: những nội dung, hình thức, lễ nghĩa thờ cúng của người Hán đã không thể thay thế thờ cúng ông bà tiền hiền trong gia tộc, thành hoàng và các tổ nghề trong làng xã, quốc tổ trong cả nước.

Lão giáo cũng từng có mặt ở nước ta, góp phần hình thành nên tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Lão giáo do Lão Tử sáng lập. Tương truyền một bà mẹ mang thai 80 năm sinh ra người con tóc đã bạc sẵn, nên đặt tên là Lão Tử. Nội dung tư tưởng Lão học tập trung vào: thiên luận và vô vi luận. Thiên luận xem “Đạo” là yếu tố tự nhiên hỗn thành trước khi có trời đất và từ đó mà muôn vật trong vũ trụ được sinh ra, hay nói cách khác Lão giáo không tin có trời làm chủ tể. Vô vi luận cho rằng mọi việc nên theo lẽ tự nhiên, giữ tâm cho thanh tĩnh, bỏ hết lòng ham muốn sẽ thấy được sự huyền diệu của “Đạo”. Lão Tử không chủ trương Thiên mệnh như Nho giáo, mà cho rằng tự nhiên âm dương là vốn có và cần tôn trọng, xem mọi việc ở đời cuối cùng cũng đều đặt dấu chấm hết ở chỗ phù phiếm hư vô. Vì vậy, Lão giáo khuyên con người làm gì cũng phải xem xét cho thấu đáo hết mọi lẽ ngọn nguồn, đem tình người không vụ lợi và không đòi phải mang ơn để ứng xử và giúp đỡ nhau. Từ thời Đinh Tiên Hoàng, Lão giáo đã phát triển, về sau lại biểu hiện thần thánh bí hiểm với các hình thức chầu đồng, phù chú, sấm ký, cùng các hiện tượng mê tín dị đoan. Lão giáo cũng xâm thực vào Phật giáo với tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu thờ trong các điện hay đạo Cao Đài tôn thờ xem là một trong ba hàng chức sắc thuộc ba đạo.

Nhìn chung, các tôn giáo lớn vào Việt Nam đều hòa quyện cùng đời sống tâm linh dân tộc. Chữ thiện, chữ lương được trọng, đi liền với thờ cúng tổ tiên ông bà, kết hợp với “an cư lạc nghiệp” hay “thương người như thể thương thân”. Rộng hơn, tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” đã góp phần quan trọng làm giàu tinh thần dân tộc Việt, bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống, thích nghi cùng quan điểm “dĩ dân vi bản” của người Việt. Và trong môi trường ấy, gia đình vẫn là chiếc nôi nguyên vẹn tình cảm cao quý:

“Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu”.

Có nhận định cho rằng sở dĩ các tôn giáo vào Việt Nam dễ dàng vì trong nước không có quốc giáo. Thật ra, đó là cách giải thích chưa thuyết phục. Trước khi có các đạo giáo, đạo lý chung của người Việt là thờ ông bà. Mặt khác chữ “Đạo” được người Việt hiểu thiên về nghĩa: con đường (địa đạo, hoàng đạo, xích đạo), những nguyên tắc (đạo làm con, đạo ông bà, đạo thánh hiền, đạo làm người) hay có nghĩa là đường lối (tầm sư học đạo). Như vậy, đạo ở người Việt là: Con đường của dân tộc Việt Nam. Các tôn giáo khác xuất hiện và muốn bén rễ phải chấp nhận cùng đồng hành trên con đường ấy. Và không chỉ tôn giáo, bất cứ yếu tố nào đến với cộng đồng cũng phải đồng thuận theo hướng “Nhập gia tùy tục” ấy. Người Việt đón nhận Phật giáo với tinh thần từ bi hỷ xả, Kito giáo với “Chân – Thiện – Mỹ”, cùng những giá trị của các tôn giáo khác. Không chỉ đơn giản là đón nhận, đó là quá trình “tích thiện phùng thiện”. Ở giai đoạn trước, cha ông ta đã có quan điểm đón nhận các tôn giáo có mặt, cùng  chung điểm đến trong đời sống tâm linh người Việt, thì về sau thêm đạo Hòa Hảo, Cao Đài ra đời trong nước mà xét về hình thức thờ cúng và tôn chỉ, cũng đáng để chúng ta đáng suy nghĩ về sự dung hòa trong tâm linh Việt.

Trong nhà thờ Kitô giáo, Đức mẹ Maria và Chúa Giêsu hài đồng… lẫn pha dáng dấp Việt Nam và phương Đông. Nếu quan sát kỹ, Đức mẹ phần nhiều được tôn thờ do ảnh hưởng tâm linh thờ Mẫu. Một số giáo dân còn lập bàn thờ thờ ông bà cha mẹ cùng với thờ Chúa, tổ chức mừng Noel và năm mới Dương lịch đồng thời cũng giữ phong tục đón tết Nguyên đán. Tôn giáo phương Tây cũng mang những giá trị nguyên thủy tích cực và sự hòa hợp tinh thần đến vùng đất mới. Trong sổ tay cá nhân của mình, nhà truyền đạo Alexandre de Rhodes còn ghi chép cẩn thận lời răn dạy của Tòa Thánh Vatican đối với các giáo sĩ khi đến Việt Nam: “Các ngài hãy cẩn thận giữ mình, đừng ra sức bảo các dân tộc bỏ nghi lễ, tập tục, phong cách của họ, miễn là điều đó không ngang ngược với đạo thánh và phong hóa tốt”.

Nhìn vào lịch sử đất nước, chưa hề xảy ra mâu thuẫn nào giữa các tôn giáo hoặc giữa lương với giáo. Và cũng từ đó, đời sống lễ hội phong phú khắp các vùng hình thành: tưởng nhớ những vị anh hùng, những người có công với dân tộc cùng những lễ hội của các tôn giáo còn phong phú đến ngày nay.

Mở mang bờ cõi

Toàn bộ hệ thống đê điều trị thủy sông Hồng, như đã đề cập, là một công trình tập thể kéo dài qua nhiều thời kỳ. Thông điệp quan trọng ẩn chứa trong công trình này là quốc kế dân sinh. Từ đời nay qua đời khác, người Việt cần cù bồi đắp nên bằng tinh thần tự giác và bền bỉ “kiến tha lâu cũng đầy tổ”. Đắp đê đến đâu, người Việt bảo vệ và lập làng đến đó. Theo những lũy tre xanh, những ngôi nhà của người dân cày, những mái chùa cổ kính và đình làng mọc lên. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành các đơn vị cộng cư.

Sách “Quận quốc chí” ghi lại cho thấy ở quận Giao Chỉ, phía Tây Bắc Long Biên đã có đê chắn giữ nước sông. Thời nhà Đường đô hộ, Cao Biền cũng đắp đê quanh thành Đại La. Thời vua Lý Nhân Tông, đê Cơ Xá được đắp để giữ kinh thành. Thời vua Trần Thái Tông, quân các lộ được điều động đi đắp đê hai bên sông Nhị, triều đình cũng cắt cử chức quan chăm lo đê điều. Đến thời Gia Long, việc trị thủy được bàn bạc với các sĩ phu Bắc Hà. Mặc dù còn chưa thống nhất, vua vẫn quyết định mở rộng xây đắp và củng cố hàng loạt tuyến đê điều. Với nỗ lực huy động nhân công và chỉ huy chặt chẽ, tổng số công trình và khối lượng xây đắp thời kỳ này còn lớn hơn tất cả kết quả công trình các triều vua trước đó để lại. Tuy nhiên, đến thời vua Tự Đức, việc đầu tư chăm giữ đê điều bị bỏ ngỏ.

Trước thế kỷ X, một phần vùng đất miền Trung và miền Nam ngày nay từng tồn tại các dân tộc như Chămpa, Thủy Chân Lạp (717-877), Bồn Mang (1369-1478), Sedang (1888-1890)… với hệ thống cai quản riêng. Một trong những đất nước liên quan nhiều đến lịch sử Đại Việt, đó là Vương quốc Chămpa. Do nằm xa tầm với đô hộ của nhà Đường nên Chămpa giành độc lập năm 803, trước người Việt hơn 150 năm. Khi Đại Việt mới vừa ra đời và còn non yếu, vua Chăm cử các đội chiến thuyền tấn công Hoa Lư, nhưng bị thất bại do gặp bão. Năm 982, Lê Hoàn cử ba sứ thần sang Indrapura cầu hòa, nhưng các sứ thần người Việt đều bị vương triều Chămpa bắt giam.

Từ đó, Đại Việt tuyên chiến với Chămpa và chiến thắng trong một trận đánh lớn, khiến người Chăm rời bỏ Indrapura và chuyển trung tâm xuống Vijaya (Bình Định ngày nay). Mâu thuẫn vẫn không chấm dứt nên vào các năm 1021 và 1026, hai bên lại diễn ra chiến tranh. Thăng Long từng bị Chămpa kéo quân ra đánh chiếm và đốt phá nhiều lần. Năm 1044, một trận đại chiến diễn ra, vua Lý Thái Tông tấn công kinh đô Vijaya. Từ đó, Chămpa chịu khuất phục, phải đi sứ và cống nộp cho Đại Việt. Năm 1068, vua Chế Củ tấn công đáp trả, nhưng thất bại. Kinh đô Vijaya bị quân của Lý Thường Kiệt chiếm đóng.

Sau sự kiện này, phần đất Chămpa còn lại từ Phú Yên đến Phan Thiết ngày nay. Dưới sự bảo hộ của Đại Việt, các chúa Chăm vẫn có quyền độc lập với phần đất của mình. Từ năm 1627 đến 1651 là giai đoạn quan hệ tốt đẹp khi chúa Chăm kết hôn với Ngọc Hoa là con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Nhưng sau 1653, lại có chiến sự. Đến năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu ký “Ngũ điều nghị định”, trong đó hai bên thống nhất quyền độc lập xét xử của các chúa Chăm đối với các thần dân Chăm, nghĩa vụ của chúa Chăm đối với chúa Nguyễn, đồng thời phối hợp giải quyết các xung đột giữa người Chăm và người Việt. Chế độ tự trị này duy trì đến năm 1832 thì người Chăm lại nổi dậy chống vua Minh Mạng, nhưng không thành. Chính quyền tự trị của người Chăm chấm dứt vào năm 1832, khi vua Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và đặt các chức quan người Việt trực tiếp điều hành.

Sự hưng thịnh và suy tàn của các triều đại quân chủ, việc tranh giành các vùng đất xưa kia diễn ra giữa các lãnh chúa là thường xuyên, kể cả Trịnh – Nguyễn, Nguyễn Huệ – Nguyễn Ánh. Kết quả gia nhập người Chăm vào cộng đồng người Việt cho thấy sau cùng vấn đề dân tộc mới là một phạm trù vĩnh viễn. Đó là cơ sở để các dân tộc tìm hiểu và có thái độ ứng xử phù hợp trong quá trình chung sống. Đại gia đình các dân tộc Việt Nam ngày nay hình thành với 54 sắc tộc cũng là kết quả của một chữ “Hòa”.

Những đặc trưng văn hóa mà các cư dân mang từ cố hương đến vùng mới khai khẩn, các giá trị của nền văn hóa Óc Eo, Sa Huỳnh, văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, Khmer, cả văn hóa các nước khác mang đến… đã hòa quyện vào nhau, đóng góp vào nền văn hóa chung, tạo thành nhiều nét đặc sắc: quần thể kiến trúc kinh thành Huế, nhã nhạc cung đình Huế, áo dài, quần thể kiến trúc thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, hát bộ miền Trung, cồng chiêng Tây Nguyên, cải lương và những nét đặc trưng Nam bộ… Vì vậy, đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam càng in đậm dấu ấn của từng chặng đường lịch sử trong quá trình cố kết, hợp nhất lại với nhau.

Song song với quá trình giao tranh, từ thế kỷ XV trở về sau, Nguyễn Ánh cũng thu nhận những luồng di dân đến lập nghiệp, có chính sách miễn tô thuế những năm đầu. Các chúa Nguyễn quan tâm khai khẩn, lập làng theo quan niệm: “Vua có dân, nhà có sân”. Họ khai phá được nhiều vùng rộng lớn nguyên sơ “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”, hình thành những xóm làng và sinh sống nhiều đời. Ở châu thổ sông Cửu Long, kênh Thụy Hòa và sông Vĩnh Tế được nhà Nguyễn đầu tư tiền của, huy động nguồn nhân lực lớn cả người Việt lẫn Chân Lạp nạo vét và mở rộng. Có nước tưới tiêu, thêm nhiều đồn điền ra đời. Đối với phía Bắc, Nguyễn Ánh cũng cử Nguyễn Công Trứ làm “Doanh điền sứ”, khai phá các vùng đất bỏ hoang ở Thái Bình, Ninh Bình…

Đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, tổng kết lại công cuộc khai khẩn đã trải qua 400 năm, chủ yếu từ sông Gianh vào phía Nam. Đất nước Việt Nam nhờ đó đã liền một dải. Những thế hệ người Việt, người Chăm, Khmer, người Tây Nguyên và các dân tộc khác đã đoàn kết hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, đáng để thế hệ con cháu muôn đời tự hào.

Giáo dục và thi cử

 

Thời Đông Hán, người Việt từng chịu ảnh hưởng chữ Hán, các lễ giáo và luân lý Nho gia, tuy nhiên mức độ chưa sâu rộng. Trong thời kỳ Phật học, trong người Việt có nhiều vị cao tăng như Vô Ngại Thượng nhân, Phùng Đình Pháp sư, Duy Giám Pháp sư… tinh thông cả Phật học lẫn Hán học. Khi đất nước độc lập tự chủ, vua Đinh Tiên Hoàng đã định ra giai phẩm các tăng. Năm 1070, nhà Lý đã cho xây dựng Văn Miếu, đúc tượng thờ Chu Công, Khổng Tử và “Thất thập nhị hiền. Văn Miếu cũng là nơi dạy học cho các thái tử vương triều.

Năm Ất Mão 1075 dưới thời Trần Nhân Tông, khoa thi tam trường được mở nhằm tuyển chọn hiền tài minh kinh bác học, bổ nhiệm vào các chức quan giúp nước. Năm sau, vua cho lập Quốc Tử Giám, xem như trường đại học đầu tiên, cử các nhà khoa bảng hàng đầu giảng dạy. Năm Bính Dần 1086, ông lại lệnh mở khoa thi tìm nhân tài văn học và bổ nhiệm Mạc Hiển Tích vào chức Hàn lâm Học sĩ phụ trách Hàn lâm Viện. Năm 1232, cùng với phép thi tam trường, còn có thêm khoa thi thái học sinh chia làm tam giáp phân biệt thứ hạng. Năm 1247, cao hơn khoa thi thái học sinh còn có thêm khoa thi tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám Hoa) và tam giáo (thi hiểu biết cả Nho học, Phật học và Lão học). Năm 1253, Quốc học Viện được thành lập để giảng dạy tứ thư Ngũ kinh. Năm 1311, luật thi chia làm bốn kỳ: thi ảm tả, thi kinh nghĩa và thi phú, thi chế – chiếu – biểu và thi văn sách.

Thời nhà Trần, có ba vị hòa thượng được suy tôn là tam tổ: đệ nhất tổ Giáo hoàng – vua Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp Loa, đệ tam tổ Huyền Quang. Nhiều vị cao tăng còn có những trước tác hay học thuyết độc lập bàn về đạo lý như thuyết Tam bản lấy thân – khẩu – tâm làm gốc đạo của Ngô ấn thiền sư, thuyết Tam pháp nhất của Cửu Chỉ thiền sư, các tác phẩm của Viên Chiếu thiền sư xem Phật giáo và Khổng giáo là: “Trú tắc minh ô chiếu, đà lai ngọc thố minh” (ngày có mặt trời soi, đêm có mặt trăng chiếu). Những vị hòa thượng này cũng tiêu biểu cho kết quả của giáo dục ở thời kỳ mà đạo Phật và tôn giáo nói chung trở thành giá trị tinh thần quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến cư xử, hiểu biết và các quan niệm xã hội ViệtNam.

Một trong những người thầy tiêu biểu đặt nền móng khởi nghiệp cho giáo dục Việt Nam là Chu Văn An (người ở làng Văn Thôn, nay là Quận Hoàng Mai). Ông thi đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan, mà dạy học và viết sách. Nhận thấy tài năng và đức độ của ông, vua phong cho ông tước Văn Trinh Công và mời làm tư nghiệp Quốc Tử Giám dạy cho thái tử Vượng. Ông sống cuộc đời thanh bạch, ngay thẳng. Ông là tác giả trên 10 tác phẩm nổi tiếng, có giá trị đến ngày nay như: Linh sơn tạp hứng, Quốc ngữ thi tập, Nguyệt tịch, Tiên du sơn tùng kính… Cống hiến của ông được ghi vào văn bia.

Thời nhà Hồ, giáo dục cũng được cải cách sâu rộng. Về bốn kỳ thi trước đây, thi ám tả được hủy bỏ, chia tách thi kinh nghĩa và thi phú thành hai, môn thi toán pháp lần đầu được áp dụng. Về bậc thi có quy định người đỗ vòng thi hương được tuyển cử mới được thi hội, thi hội trúng tuyển mới được thi đình. Năm 1398, việc học mở rộng ra khỏi kinh thành, chức quan Giáo thụ và Đốc học được đặt tại các châu, phủ, lộ; đồng thời với học điền được cấp từ 12 đến 15 mẫu/châu hoặc phủ. Luật thi thời này được quy định rất nghiêm ngặt và công minh.

Thời nhà Lê, Quốc Tử Giám được củng cố. Khoa thi Minh kinh buộc các quan văn võ hàng tứ phẩm trở xuống phải chịu sát hạch kinh sử và vũ kinh. Nhà Thái học sau Văn Miếu được mở rộng. Ba kỳ thi nói trên được cải cách nội dung và hình thức, lại thêm mở hàn lâm viện, tiếp tục vinh danh người học hành đỗ đạt nhằm làm “gương sáng cho muôn đời”, rồi lập ra các thư viện trữ sách. Vua còn lập “Hội Tao đàn”, xưng mình là “Tao đàn nguyên soái”, cho soạn hai bộ sách giá trị cho muôn đời sau: Đại Việt sử ký toàn thư, Thiên Nam dư hạ tập. Trên tấm bia Văn Miếu – Quốc Tử Giám do tiến sĩ triều Lê là Thân Nhân Trung vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn năm 1484 có ghi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp”.

Thời Nguyễn, vua Tự Đức quyết định thi hội có bốn trường, thi hương còn ba trường (giảm một trường). Vua Minh Mệnh cũng đổi cách gọi người đỗ kỳ thi hương là cử nhân và tú tài (thời Hậu Lê gọi là hương cống và sinh đồ). Ngay tại kinh đô có Quốc Tử Giám do các quan tế tửu và tư nghiệp hướng dẫn cho học sinh dự thi hội, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Lễ và Bộ Học. Cấp huyện có quan huấn đạo, cấp phủ có quan giáo thụ dạy Tứ thư ngũ kinh và Bắc sử, cấp tỉnh có quan đốc học dạy các học sinh cấp cao đẳng. Học sinh cũng theo học ở các trường tư rất đông. Các thầy khóa, thầy đồ, thầy tú, được học trò xem như cha. Khi thầy có việc cần, các đồng môn phải lo liệu, thầy qua đời học trò mang khăn tang và giữ tâm tang ba năm, có nơi còn góp tiền của làm nơi thờ tự thầy.

Ngày xưa, người đi thi được gọi là sĩ tử, từ lệ phí ăn ở đến sách vở lều chõng… đều tự mang theo. Trước khi dự thi, sĩ tử phải được hội đồng kỳ mục xác thực về cá nhân và gia đình không vi phạm các quy định làng nước. Thi hương ngay tại sân đình làng, đỗ đạt được gọi là ông tú. Thi hội cao hơn một cấp, đỗ được gọi là ông nghè ông cử và được bổ nhiệm làm quan huyện. Thi đình là cấp toàn quốc, thường 4 hay 5 năm một lần, tổ chức ở một khuôn viên đất trống, gọi là trường thi (có người cho rằng nơi ấy về sau trở thành địa danh riêng là phố Tràng Thi ở Hà Nội ngày nay). Thi đỗ tại hội thi đình được gọi là trạng nguyên hay tiến sĩ, được ghi danh vào văn bia và bổ nhiệm làm quan triều đình. Từ học hành, trải qua các kỳ thi là cả quá trình gian nan và tự hào:

“Thập niên hàn song vô nhân vấn

Nhất cử thành danh thiên hạ ca”

(Mười năm đèn sách bên cửa lạnh lẽo không ai hỏi,

Một khoa thi đỗ đạt thành danh thiên hạ ca ngợi)

Quan niệm về giá trị học hành trong trí thức xưa kia là: “Ngọc bất trác, bất thành khí”, “Nhân bất học, bất tri lý”, “Ấu bất học, lão hà vi”. Còn trong nhân dân thì: “Một kho vàng không bằng một nang chữ” hay “Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Cùng với các trường do triều đình mở ra, việc học trong nhân dân bằng hình thức tự mở trường cũng được đẩy mạnh. Ở những làng có ông đồ giỏi, cha mẹ gửi con đến nhà để mong học chữ thánh hiền và lễ nghĩa. Cũng vì thế mà người Việt có từ ghép “chữ nghĩa”, vừa cho thấy tiếng Việt giàu ngữ nghĩa, vừa thể hiện học chữ chính là học về đạo nghĩa ở đời.

Sau mỗi kỳ thi thường có buổi lễ xướng danh long trọng, người thi đỗ được ghi tên trên bảng vàng trước khi khắc vào văn bia, được cấp ngựa áo mũ cờ và tổ chức đám rước vinh quy bái tổ. Về đến làng, quan viên hàng xã và người dân thán phục tiếp đón. Gia tộc của người thi đỗ lấy làm vinh hiển, xem là phúc đức nhiều đời tổ tiên để lại. Thời vua Quang Trung, sau giai đoạn đánh Nam dẹp Bắc, ông cũng ban bố “Chiếu lập học” với quan điểm: “Xây dựng đất nước lấy việc dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình lấy việc tuyển nhân tài làm gốc”.

Có thể thấy những ưu điểm của thi cử ngày xưa: chọn thực tài một cách công khai, đề thi luôn được bảo mật, việc học hành thi cử đỗ đạt và được bổ nhiệm vào các chức quan là niềm tự hào vinh dự lớn. Chế độ thi cử và chọn hiền tài đào tạo nên tầng lớp nho sĩ có tinh thần yêu nước và đạo đức tốt, bổ sung vào bộ máy chính quyền quân chủ. Chủ trương này cũng hình thành những gia đình, dòng họ hiếu học trong nhân dân.

Những trí tuệ học thuật của Việt Nam ngày xưa có mặt trên nhiều lĩnh vực. Về toán học có Lương Thế Vinh, người Nam Định. Năm 1463, ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ, trong thời gian làm quan được phong các chức: Hàn lâm Trực học sĩ, Hàn lâm Thị thứ, Hàn lâm Chưởng viện sự. Ông là tác giả của tập “Đại thành toán pháp” dùng trong chương trình thi cử suốt 450 năm. Trên thực tế, ông còn áp dụng nhiều phép đo lường tính toán, được người đời khâm phục gọi là Trạng Lường. Vũ Hữu là người Hải Dương. Năm 23 tuổi, ông thi đỗ hoàng giáp, sau đó ra làm quan giữ đến chức Thượng thư Bộ Hộ. Ông là tác giả của tập sách “Lập thành toán pháp”, trong đó nêu nhiều phương pháp đo đạc ruộng đất, tính toán cách làm nhà cửa.

Về sử học có Lê Văn Hươu đứng đầu Viện Quốc sử thời Trần, vào năm 1272 đã viết “Đại Việt sử ký”. Phan Phu Tiên thời Lê viết “Đại Việt sử ký tục biên”. Tiếp theo, Ngô Sĩ Liên là người Chương Mỹ, đỗ tiến sĩ năm 1442, ra làm quan được phong chức Đô ngự sử, Lễ bộ Hữu thị lang, Quốc Tử Giám tư nghiệp. Ông là người có công sưu tập, bổ sung hoàn chỉnh bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”. Đây là bộ sử hoàn chỉnh nhất còn lại ngày nay. Lê Quý Đôn cũng có những tác phẩm sử học và văn học: Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Thi kinh diễn nghĩa, Vân Đình loại ngữ… Các tác phẩm này được viết trên cơ sở tham khảo từ 577 quyển sách ở trong nước, của Trung Quốc và cả phương Tây.

Về văn học, nổi bật là Nguyễn Du, người Hà Tĩnh, nhà thơ cổ điển lớn của dân tộc. Thơ chữ Hán và chữ Nôm của ông đều là những tuyệt tác: Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập, Văn chiêu hồn, Văn tế thập loại chúng sinh, Truyện Kiều… Với “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã để lại một “hòn ngọc sáng” trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học. Hồ Xuân Hương là người Nghệ An, sống thời Lê – Mạc, với khoảng 50 bài thơ vô cùng độc đáo ở tài năng diễn đạt đa nghĩa mà nhìn chung đều bênh vực thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ còn để lại, đời sau mệnh danh là “Bà Chúa thơ Nôm”. Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Toàn Việt thi lục” đã sưu tầm, sắp xếp và giới thiệu gần 2.400 bài thơ của 175 tác giả các thời kỳ. Nguyễn Trãi với: Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú, Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập… đều là những tác phẩm thơ văn nổi tiếng, góp phần rất lớn trong việc đưa nền văn học chữ Nôm phát triển bước dài. Ông còn là một trí thức luôn gắn với đời sống dân dã: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”.

Về y học, có Tuệ Tĩnh nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc Nam. Thánh y Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác với bộ “U tông tâm lĩnh” 66 quyển biên soạn trong 30 năm, công bố năm 60 tuổi, là bộ bách khoa toàn thư về kiến thức y học lớn nhất đến cuối thế kỷ XVIII. Bộ sách này tập trung ba vấn đề: giải thích rõ sự khác nhau về cách tiếp cận chân lý y học Việt Nam khác với Trung Hoa, chép lại những bệnh nan y dương án (đã chữa chạy thành công) và cả âm án (chưa hiệu quả, còn phải nghiên cứu). Ngày nay, bộ sách được in tiếng Việt trên 3.000 trang, không những nổi tiếng trong nước mà còn làm cho các danh y Trung Quốc phải thán phục.

Học thuật Việt Nam tự hào về những bộ óc bách khoa toàn thư. Nổi bật trong thơ văn, Nguyễn Trãi còn là nhà tư tưởng, chính trị, quân sự, ngoại giao; hiểu biết sâu rộng các kiến thức địa lý, lịch sử và nhiều lĩnh vực xã hội. Lê Quý Đôn bác học và uyên thâm nhiều lĩnh vực từ chính trị, văn học, xã hội, ngôn ngữ đến kinh tế, nông học, địa lý… Bùi Huy Bích từng viết về Lê Quý Đôn: “Nước ta trong vài trăm năm nay mới có một người như ông”. Phan Huy Chú là người Hà Tây. Năm 1719, khi mới 27 tuổi còn đi học, ông đã tập trung nghiên cứu, 10 năm ra mắt tác phẩm “Lịch triều hiến chương loại chí” 49 quyển. Đây là bộ bách khoa thư đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách chia thành mười chí cho thấy các lĩnh vực đề cập vô cùng phong phú và sắp xếp khoa học: Địa dư chí, Nhân vật chí, Quan chức chí, Lễ nghi chí, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hành luật chí, Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí. Phan Huy Chú còn là tác giả của “Hoàng Việt địa dư chí” phản ánh đầy đủ các mặt hành chính, núi sông, danh thắng, nghề nghiệp, tập quán Việt Nam từ xa xưa đến thời vua Minh Mạng.

Dĩ nhiên, cách giáo dục cũ không tránh khỏi mặt trái. Ở bậc vỡ lòng thì phải thuộc những câu cách ngôn và thành cú Trung Hoa theo cách hiểu nghĩa từng chữ một, trong các sách Tam tự kinh, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết, Minh tâm bảo giám. Lên cao hơn là sách Ngũ kinh tứ thư đại toàn của Tống Nho, phần lớn cũng chỉ học thuộc lòng. Hầu như qua nhiều triều đại, không có sách giáo khoa nào khác. Có người đèn sách và thi cử cả chục lần chưa đỗ, có người vào tuổi “thất thập cổ lai hy” còn đi thi, đều không ngoài những quyển sách đó. Chế độ khoa thi của các triều đại, bên cạnh mục đích chọn hiền tài giúp ích đất nước, cũng nhằm đào tạo các sĩ tử theo một độc đạo cử nghiệp nhằm củng cố vương triều.

Mặt khác, trong xã hội nhiều đời lặp lại quan niệm học là để “Một người làm quan cả họ được nhờ”, một lần được cử tuyển là suốt đời hưởng lộc trong bộ máy quân quyền mà chưa hẳn thực tài hay tiếp tục nỗ lực cống hiến. Không ít trí thức chỉ để làm vật trang trí cảnh triều hay có tư tưởng an phận thủ thường. Có cả những trí thức ngay thẳng tâm huyết nhưng bị giam cầm hoặc bị chém oan. Kiến thức và việc học chỉ thiên về bình luận chữ nghĩa mà thiếu khoa học tự nhiên và chưa thiết thực dân sinh… Ở thời kỳ các vị vua nghiêm minh trị vì, hiện tượng mặt trái hầu như bị thu hẹp. Ngược lại, đối với các vị vua không chăm lo giáo dục mà bản thân còn không làm gương, tiêu cực trong giáo dục nổi lên.

Bộ máy chính quyền quân chủ

Đứng đầu đất nước là vua. Vì vua được xem là cha mẹ nên có quyền quyết định việc sinh tử (xét tha hay buộc phải tội chết), phân chia tài sản (chủ yếu là chế độ ruộng đất) cho con dân trong vương quốc của mình. Vua là chủ tể của đất nước, đại diện duy nhất được quyền làm lễ tế trời. Nơi vua ở (cấm thành) không ai được tự tiện vào, không ai được xúc phạm đến long thể vua khi còn sống hay lăng mộ thờ vua khi qua đời. Đặt tên, gọi tên hay viết những chữ đã được đặt cho vua và cha mẹ tổ tiên hoàng tộc vua đều phạm vào điều húy kỵ (bài thi hay bị phạm vào một chữ cũng bị đánh rớt). Khi vua xuất cung, người dân gặp phải phủ phục quỳ lạy mà không được nhìn. Phạm vào những quy định đó đều bị xử tử, tru di tam tộc hay cửu tộc.

Về các chức quan triều đình, thời vua Đinh Tiên Hoàng có các chức Đô hộ sĩ sự, Tướng quân, Nha hiệu. Thời vua Lê Đại Hành có: Thái sư, Thái úy, Tổng quản, Đô chỉ huy sứ. Thời Lý có: Thái sư, Thái phó, Thái bảo (gọi là Tam Thái); Thái úy, Thiếu úy, Kiểm hiệu bình chương sự (các đại thần văn võ); Điện học sĩ, Hàn lâm học sĩ (giáo dục); Đô thống, Nguyên súy, Tổng giám, Khu mật sứ, Thống tướng, Đại tướng, Chỉ huy sứ (võ ban nội chức); cùng các bộ: Bộ Thượng thư, Tả hữu Tham tri, Bộ Thị lang, Tả hữu Lạng trung, Tả hữu Gián nghị đại phu.

Thời Trần, cùng tam Thái còn có tam Tư (Tư đồ, Tư mã, Tư không) là những đại thần văn võ. Tể tướng lo bảo cử bách quan, Tả hữu Tướng quốc giúp việc cho Tể tướng. Còn có các trọng chức: Tả hữu Bộc xã, Gián nghị Đại phu, Lục bộ Lang trung, Trung thư Lang trung (văn ban), Thị Ngự sử, Giám sát Ngự sử, Ngự sử Trung tán, Ngự sử Đại phu (Ngự sử đài). Võ ban có nội nhiệm: Phiêu kỵ thượng tướng quân, Kim ngô vệ đại tướng quân, Vũ vệ đại tướng quân, Thân vệ tướng quân, Đô thống chế; ngoại nhiệm: Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ, Quan sát sứ, Thủ ngự sứ, Đô hộ, Đô thống, Tổng quản. Các viện có: Khu mật viện, Hàn lâm Viện, Quốc Tử Giám Viện, Thái y viện… Thời nhà Hồ, hệ thống quan chức tương tự thời trước, cùng các chức quan mới: Quản cán quan, Phán chính quan, Thừa thuộc. Đầu thời Lê, hệ thống chức quan thời Trần tiếp tục được duy trì. Về sau, có thêm Chính sự Viện với các quan văn và võ tham dự. Trong hàng quan văn còn có chức Đại hành khiển và Ngũ đạo hành khiển.

Về phiên chế quân đội, thời nhà Đinh lập thành thập đạo tướng quân, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người lính. Như vậy 10 đạo quân có khoảng 1 triệu lính. Thời vua Lê Đại Hành, túc vệ binh gọi là thân quân, quân đội chia thành thủy quân và lục quân. Thời Lý, cấm binh có 10 quân, mỗi quân 200 người; sương binh (dự bị) có 9 quân, lục quân có 4 bộ tả – hữu – tiền – hậu và thủy quân được trang bị vài trăm chiến thuyền. Thời Trần, cùng cấm quân, còn biên chế thêm lộ quân. Thời bình thì quân lính về nhà làm ruộng, nhưng có chiến tranh thì tất cả phải xung trận.

Thời nhà Hồ chia quân đội theo bốn hướng trời đất: Nam – Bắc quân có 12 vệ, Đông – Tây quân có 8 vệ (mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người). Đại tướng quân tổng quản tất cả các cánh quân, dưới quyền có Thủy binh đô tướng, Bộ binh đô úy. Thời Lê, sau khi thắng quân Minh, vua đã quyết định giải ngũ 15 vạn quân, giữ lại 10 vạn đặt thành 5 đạo vệ quân. Mỗi vệ có Tổng quản chỉ huy, cùng Ngự tiền lục quân, Ngự tiền vũ đội dưới quyền.

Thời vua Gia Long có tỉ lệ tùy theo địa phương mà trong 3, 5 hoặc 10 thanh niên sẽ tuyển 1 thanh niên vào lính. Bảo vệ kinh thành có: thân binh, cấm binh, tinh binh và 6 vệ thủy quân. Các trấn có lính cơ và lính mộ. Thời vua Minh Mệnh phiên chế thành 5 đạo quân: bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh, pháo thủ binh. Bộ binh có kinh binh và cơ binh. Kinh binh do quan Thống chế chỉ huy đóng giữ kinh thành và một số tỉnh trọng yếu; gồm có doanh, vệ, đội; mỗi doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người. Cơ binh là lính riêng ở từng tỉnh, đứng đầu là chức đề đốc hoặc lãnh binh; chia thành các cơ và đội, mà mỗi cơ có 10 đội, mỗi đội có 50 người. Tượng binh chia thành các đội mà mỗi đội có 40 voi chiến, riêng ở kinh thành có 150 voi. Thủy binh có 15 vệ chia thành 3 doanh, đứng đầu là quan Thủy sư đô đốc thống.

Trong hoàn cảnh liên tục chiến chinh, việc tổ chức quân đội của các triều vua xưa thường quy củ và chặt chẽ, quân lệnh nghiêm, tinh thần đoàn kết và kỷ luật cao. Nhờ vậy, các triều đại không những vẫn giữ được biên giới phía Bắc, mà còn tổ chức các trận đánh chinh phạt sự quấy nhiễu của quân Chămpa phía Nam thu nhiều thắng lợi.

Về chính quyền làng xã, đứng đầu có tiên chỉ và thứ chỉ quyết định tối cao mọi việc, nhưng phần lớn mang tính danh dự. Đây là những trí sĩ, đỗ khoa mục được ban chức sắc, hay bậc bô lão anh minh trong làng. Dưới quyền là hàng kỳ mục gồm: cựu chánh phó tổng, cựu chánh phó lý, các hào trưởng kỳ cựu… thường có quyền hành nhiều hơn cấp trên. Dưới kỳ mục là hàng lý dịch. Mỗi làng có một lý trưởng (trước đây gọi là xã quan) và các phó lý phụ trách các thôn; trực tiếp giải quyết thuế má, binh lương, đắp đê, thủy lợi… Các chức danh hương trưởng, khán thủ, trương tuần, thủ khoán là những chức quan giúp việc cho lý trưởng và phó lý.

Ở những làng xã diện tích hẹp, dưới xã được chia thành nhiều thôn. Những làng xã lớn hơn thì chia thành các giáp mà người đứng đầu là giáp trưởng, dưới giáp mới đến các thôn. Nhiều làng xã họp lại thành một tổng, do cai tổng đứng đầu, cùng phó tổng. Nhiều tổng hợp thành một huyện hay một phủ mà người đứng đầu là quan tri huyện hay quan tri phủ. Nhiều huyện, phủ hợp thành một tỉnh, do tổng đốc hay tuần phủ đứng đầu, cùng quan bố chính (phụ trách việc hộ), quan án sát (phụ trách việc hình). Tuy nhiên, các cấp tổng, phủ, huyện và tỉnh thường chỉ là đơn vị trung gian kết nối thành nhằm hình thành đầy đủ hệ thống chính quyền quân chủ. Quan trọng nhất vẫn là bộ máy chính quyền làng xã và ngôi đình làng.

Con người xã hội trong làng xã được chia thành hai hạng: nội tịch và ngoại tịch. Dân nội tịch có quyền lợi, nghĩa vụ, được hưởng công điền công thổ, gồm sáu bậc: bậc thứ nhất là hạng có chức sắc, đỗ khoa cử hay có hàm phẩm được vua ban; bậc thứ hai là những tân cựu các chức sắc trong làng; bậc thứ ba là các thí sinh, khóa sinh; bậc thứ tư là các cụ lão từ 50 tuổi trở lên; bậc thứ năm là dân đinh từ 18 đến 49 tuổi, phải chịu sưu dịch và tham gia mọi việc công trong làng; bậc thứ sáu là ti ấu từ 6 đến 17 tuổi. Riêng con trai lên 6 tuổi cha mẹ phải sắm trầu rượu trình làng làm lễ xin ghi tên vào sổ hương ẩm. Về hạng dân ngoại tịch gồm người nghèo khổ bần hàn, ở đợ làm mướn trả nợ, khách tịch ngụ cư; không được hưởng quyền lợi chung hoặc rất hạn chế.

 

Làng xã

 

“Làng” là từ thuần Việt, “xã” lại là từ gốc Hán có nghĩa là một cái nền đất để tế thần. Hai từ này được ghép vào nhau, có lẽ nhằm diễn đạt nguyên tắc mỗi làng có một ngôi đình làm chỗ thờ cúng. Cộng cư trên những làng xã xưa, người Việt một nắng hai sương khai khẩn, trồng trọt, chăn nuôi… Mặt khác, để đối phó với thời tiết khắc nghiệt trong điều kiện trồng lúa nước và huy động nội lực cùng chống giặc ngoại xâm, các làng không thể không cố kết, tự bảo vệ mình tồn tại và phát triển. Vì thế mà làng nào cũng có lũy tre bao bọc và chỉ một cổng vào làng phía trước, các mặt khác ngăn cách bởi địa hình tự nhiên, gần như không có lối hậu. Những vấn đề trong làng khó được bàn tán quyết định bởi làng khác, các yếu tố bên ngoài thường bị dị ứng và dò xét ở ngay cổng trước khi được vào làng.

Một thành viên bị đuổi ra khỏi làng không biết đi đâu về đâu, vì rất khó được các làng khác đón nhận. Các tộc họ trong làng và giữa các làng quan hệ nhau qua hôn nhân, cũng có thể huyết thống. Người ở một làng cùng uống chung giếng nước, đi chung trên đường, cùng ngồi ở cây đa bến nước với bát chè xanh, cùng sinh hoạt cộng đồng ở đình làng… Vì thế mà khi gặp nhau thì thường “lời chào cao hơn mâm cỗ”. Những mục đồng với tiếng sáo thanh bình, những lễ hội thiêng liêng mà nô nức. Và có cả tình yêu lứa đôi chớm nở những dịp hội hè:

“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang

Thế mà hôm nọ hát bên làng

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!”

(Mưa xuân – Nguyễn Bính)

Ở rìa làng hoặc vùng đất giáp vài làng lân cận, có chợ. Nếu người đàn ông thấy ở chốn quan quân, thi cử hay việc làng… thì ngược lại phụ nữ thường tập trung ở chợ. Những chuyện mà phụ nữ không nói được trong các gia đình nhiều thế hệ và ở sân đình, dường như nó được đưa ra chợ, đan xen trong các quan hệ mua bán. Rất nhiều chủ đề hay sự việc được trao đổi làm thành thứ âm thanh râm ran mà nó chỉ có thể thưa dần cho đến khi tan chợ. Thỉnh thoảng trên chuỗi âm thanh dày đặc và bền chặt ấy, vang lên tiếng í ới gọi nhau hay to tiếng của một ai đó.

Chợ là nơi tất cả mọi người có quyền trình bày, phản bác hay ủng hộ vấn đề một cách khách quan. Không có chuyện địa vị, chức quan ở chợ. Bao nhiêu khen chê ăn nói, ứng xử, trao đổi thuận mua vừa bán, cả những chuyện riêng chung… đều có thể nghe thấy ở chợ. Người xưa cũng có kinh nghiệm “Trai khôn tìm vợ chợ đông…”. Chợ làng nổi rõ đặc điểm tự do, dân chủ, công khai và mọi người có giá trị ngang nhau về quyền hạn thành viên trong cộng đồng. Chợ người Việt còn có một số hình thức độc đáo khác: lớn hơn chợ hôm hàng ngày là chợ phiên vào những ngày cố định hàng tháng, chợ xép đôi khi diễn ra không đúng phiên, chợ trên sông nước vùng kênh rạch Tây Nam Bộ, chợ các vùng cao, chợ tình Sa Pa, chợ Âm Dương huyền bí giao tiếp với người đã chết ở Bắc Ninh, chợ xuân Gia Lạc họp đúng vào ba ngày tết mỗi năm tại Huế…

Nhìn chung, làng vẫn khép kín và hướng nội: lệ làng hương ước và cách giải quyết những vấn đề trong làng, tính cộng đồng tự trị tương đối độc lập của làng xã tồn tại song song với những quy định từ triều đình hay chợ như đã đề cập là nơi trao đổi vật chất khép trong không gian nhỏ hẹp. Cũng từ đó, làng tồn tại một hệ thống kép cả tình lẫn lý, cả định tính lẫn định lượng, mà thường “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Thậm chí, trong một số thời điểm và sự việc cụ thể thì “Phép vua thua lệ làng”. Khi Nho giáo vượt qua khỏi cổng làng, xâm nhập và ngự trị được ở ngôi đình, xuất hiện các khuôn khổ và nguyên tắc bất di bất dịch. Mọi người bắt đầu chấp nhận tìm cho mình một “chính danh” trong xã hội. Từ đó mà nảy sinh không ít ứng xử bất công và nặng nề tập tục hủ lậu.

Tích cực và hạn chế của làng càng thêm đan xen phức tạp. Một mặt: đoàn kết tương trợ, giàu tình làng nghĩa xóm, tinh thần tự lập, tôn ti trật tự, tối lửa tắt đèn có nhau, vai trò sức mạnh tập thể được phát huy, bảo tồn được nhiều giá trị truyền thống và văn hóa vật thể – phi vật thể. Tính cố kết từ làng đến nước chặt chẽ, là thế mạnh không thể thiếu để chống lại các cuộc xâm lược. Làng xã là chiếc nôi nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần cho bao thế hệ. Mặt khác: cục bộ địa phương, coi thường phép nước, phường hội hẹp hòi, phân biệt hơn thua ngôi vị, tâm lý hiếu danh và hình thức, nạn xôi thịt và khao vọng, lão làng cản trở hậu sinh, thủ tiêu vai trò cá nhân, dựa dẫm ỷ lại, cào bằng đố kỵ, tư hữu ích kỷ, chủ nghĩa gia tộc, bất bình đẳng giới, giáo điều và kinh nghiệm, thiên về ổn định và an phận thủ thường, hạn chế hướng ngoại. Có rất nhiều đặc điểm của “văn hóa làng” còn để lại những dấu ấn ảnh hưởng sâu đậm đến ngày nay.

Năm 1492, nhà Lê có chiếu chỉ buộc mỗi làng xây dựng, quản lý và sử dụng một ngôi đình. Thay vì chùa xây lên nhiều như thời Lý – Trần với con rồng đất còn hiền hòa, đến giai đoạn này đình xuất hiện nhiều thành nơi trú ngụ của Nho giáo với tượng kỳ lân và hình rồng nhiều móng vuốt dữ tợn được trang trí. Ðình được dựng bằng những hàng cột lim to tròn, đặt trên những bệ đá đục vừa vặn. Toàn bộ phần sườn đỡ mái ngói hình mũi hài cũng đều gỗ lim. Tường xây bằng gạch. Bốn góc mái là bốn đầu đao cong vút. Trên nóc dọc theo đòn dông gắn hai con rồng đối mặt chầu một quả nguyệt đặt chính giữa. Bên trong, gian chính diện thờ Thành Hoàng. Khi có việc tụ tập dân làng về đình, trống ngũ liên giục vang.

Đình là biểu tượng tập quyền của triều đình phong kiến đặt tại địa phương, là cơ quan pháp luật giải quyết mọi vấn đề giữa người dân với nhau, giữa thành viên với gia đình, họ tộc này với họ tộc khác, giữa các làng, giữa làng với nước… Đình là nơi tổ chức các kỳ thi hương và tôn vinh người đỗ đạt, nên kiêm cả nhiệm vụ giáo dục. Đình cũng là nơi hội hè, biểu diễn, sinh hoạt văn hóa tinh thần của cả làng khi nông nhàn. Về sau, thêm sự tô vẽ của người đời, đình trở thành nơi trú ngụ của nhiều hạng thần, thậm chí còn diễn ra hiện tượng buôn thần bán thánh với sự bổ sung liên kết các miếu mạo thờ cô hồn quỷ dữ, những “thập loại chúng sinh” không người thờ cúng… Thế giới đa thần gồm các thiên thần và nhân thần nhưng tôn thờ nhất nguyên ban đầu, đến lúc này trong hàng nhân thần lại chia thêm thành hai hạng: thiên thần và hung thần…

Đối với triều đại phong kiến phương Bắc, để theo dõi thực hiện các nguyên lý Nho giáo, công đường được lập ra và vai trò tập quyền cá nhân của vị quan được giao trông coi xét xử tại một địa hạt rất quan trọng. Những chuyện trong Bao Công xử án hay vai trò của các huyện lệnh là một điển hình. Ở Việt Nam, đình làng cũng để theo dõi việc thực hiện các nguyên lý ấy, nhưng tại đình có cả một hội đồng xem xét quyết định chứ không riêng tập trung ở một người đứng đầu. Hội đồng này giải quyết mọi vấn đề của làng chứ không phải chỉ vấn đề liên quan đến hình luật.

Đó là lối tư duy tổng hợp và điều hành bằng chủ nghĩa kinh nghiệm, lấy tiền lệ “xưa bày nay bắt chước” làm thước đo và chuẩn mực giải quyết vấn đề, nổi bật đặc trưng Đông Á (điều này cũng khác với tư duy phân tích cho rõ ràng của người phương Tây). Đình làng là “túi đựng” tất cả những vấn đề của làng mà khi đến đó, con người có hai cảm giác trái ngược nhau: vừa sợ, lại rất yêu mến. Đặc điểm này ăn sâu, đến ngày nay vẫn chưa phai mờ, thậm chí còn tái hiện ở hình thức các ủy ban nhân dân xã phường, ban thôn ấp cũng là “túi đựng” giải quyết tất cả mọi vấn đề của cấp trên. Nhiều nơi vẫn còn đề cao “lệ làng” nên làm sai chủ trương và có bất cứ vấn đề gì riêng chung người ta đều đến đây đề nghị giải quyết.

Gần đến thời cận đại, một bộ phận làng xã truyền thống Việt Nam chuyển hóa thành các tổ chức giáo xứ, xứ đạo. Năm 1533, cơ sở thờ tự đầu tiên của Thiên Chúa giáo được xây dựng tại Nam Định. Người đứng đầu xứ đạo, cũng như trước đây được đứng đầu một làng, phải khao vọng, vì “vô vọng bất thành quan”. Các chức vị này cũng có thể mua bán. Thế kỷ XVII về sau thêm nhiều nhà truyền giáo có mặt. Đến trước khi Pháp can thiệp bằng vũ trang vào Việt Nam, có gần nửa triệu người gia nhập hoặc cải đạo sang Thiên Chúa giáo.

Trong “cái vỏ mới” của làng, “chất” cũng đổi: quan niệm về chốn gửi tạm – cõi vĩnh hằng, phúc – tội, vũ trụ quan – nhân sinh quan… cũng khác xưa. Như đã đề cập, một bộ phận trí thức uyên bác hiện đại, ảnh hưởng phương Tây xuất hiện ở các giáo xứ đã đề đạt nhiều ý tưởng mới vì quốc kế dân sinh. Nhà thờ Phát Diệm xây dựng năm 1875 đến 1989 ở Ninh Bình trên cơ sở kiến trúc ngôi đình Việt Nam nhưng mặt tiền đặt ở đầu hồi dọc, khác kiến trúc nhà ngang ba gian truyền thống, đồng thời quy mô cao lớn hơn. Nhà thờ chính tòa dài 80 m, rộng 24 m, cao 18 m gồm 48 cột gỗ lim lớn, hai gian thánh điện trang trí 14 bức phù điêu đá diễn tả lịch sử Kitô giáo. Từ những thay đổi này, vai trò tập trung quyền lực và nhiều vấn đề khác duy nhất giải quyết ở đình làng một phần bị chia sẻ và thu hẹp lại trước khi người Pháp chính thức lập ra hệ thống đơn vị hành chính mới.

 

Nghệ thuật và kiến trúc

Nghệ thuật biểu diễn có chèo, tuồng, các loại hình múa, rối nước, hát quan họ, hát sliboc, hát xẩm, hát then, hát văn, hát ả đào, ca nhạc cung đình Huế, bài chòi, nhạc võ Tây Sơn, các điệu lý và dân ca ba miền, nhạc cổ truyền cùng với nhiều loại nhạc cụ dân tộc. Chèo xuất phát từ Hoa Lư vào thế kỷ X, sau đó lan ra cả vùng Bắc bộ; gồm múa, hát, âm nhạc và tích chèo. Các phường chèo tổ chức biểu diễn lưu động nhiều làng, đào kép thường sắm các vai lão, mụ, hề… Sân khấu chèo thuộc loại tự sự, trong diễn thường giao lưu tự nhiên với khản giả qua xưng danh và thiên về tính ước lệ hơn là tả thực.

Tuồng (có nơi còn gọi là hát bội, hát bộ) được cải biến từ hý khúc Trung Hoa kết hợp với dân ca Bắc và Trung bộ. Có các loại tuồng như tuồng thầy (kinh điển), tuồng ngự và tuồng cung đình (vua quan xem), tuồng đồ (phóng tác)… Nghệ thuật tuồng không những mang tính ước lệ, gợi mở sự tưởng tượng, mà còn có nguyên tắc chặt chẽ đối với diễn viên trong từng lớp diễn.

Múa rối nước có từ thời nhà Lý với các phường rối, xuất phát từ đặc điểm địa hình nhiều ao hồ đồng bằng Bắc bộ và duy nhất chỉ có ở Việt Nam. Rối nước thường được diễn vào dịp hội hè, đình đám với hình ảnh quen thuộc của chú tễu mở màn, các con rối đóng vai người và vật trong tích truyện bước ra sân khấu nước lung linh sinh động, cùng âm thanh rộn ràng từ trống, mõ, thanh la…

Múa dân tộc có múa rồng, múa trống, sênh, mõ, sư tử (Việt), múa sạp, chàm đuống, chàm thau (Mường), múa quạt, múa nhạc, múa giã gạo (Tày), múa xòe, múa nón, múa khăn (Thái), múa khiên, trống, soang (Ê Đê, Ba Na), múa hầu đồng, cúng trăng, cúng lúa, đạp lửa, vãi chài (tín ngưỡng), múa vũ nữ, tứ linh, lục cúng, tam tinh chúc thọ (cung đình), múa chạy đàn, dâng hương hoa, múa Siva (tôn giáo)…

Đi liền với hát múa là nhiều loại nhạc cụ. Đó là khèn và sáo H’mông có mặt khi lên nương xuống chợ, lúc hội vui và cả khi tâm tình lứa đôi riêng tư. Đó là tiếng sáo trúc của người Việt thiết tha dìu dặt với hình ảnh những trẻ em trên lưng trâu, sâu lắng tâm tư những đêm trăng, chắp cánh cho nghệ thuật ngâm thơ và các làn điệu dân ca. Đó là đàn bầu xuất hiện trong biểu diễn nghệ thuật, nghi lễ vòng đời người với chuỗi âm thanh cao thấp khoan nhặt, nghe êm dịu, uyển chuyển, mềm mại, gần giống giọng trầm cảm của con người. Đó là đàn đá phổ biến ở miền Đông Nam bộ với nhiều thanh đá có kích thước và độ dày được ghè đẽo, xếp lại hợp thành một dãy thang âm. Khi gõ lên, âm thanh rắn chắc, không ngân nhưng nổi bật trên nền tiếng động của suối, gió, cây lá núi rừng. Bộ đàn đá cổ xưa nhất được tìm thấy ở Đồng Nai có niên đại cách đây khoảng 3.000 năm. Đó còn là đàn T’rưng ở Tây Nguyên, làm từ các ống tre nứa với một đầu kín và đầu còn lại cắt chéo, buộc song song nhau, khi diễn dùng dùi bằng gỗ gõ vào dãy ống. Nhạc cụ còn có cồng chiêng nhiều vùng miền, nhạc khí Klôngpút, đàn Kni, đàn kìm, đàn đáy… đều mang đậm tinh thần và các giá trị dân tộc.

Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam bắt đầu bằng tranh dân gian gồm tranh tết, tranh thờ, tranh tố nữ, tranh gà… Vào thế kỷ XII, do phải đáp ứng với số lượng lớn nên đã có những gia đình chuyên nghề tranh, những làng tranh với kỹ thuật khắc ván làm bản in. Tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) nét vẽ điêu luyện, nhiều dòng tranh phong phú. Các bức nổi tiếng như: cóc, chuột, hái dừa, đánh ghen, khiêng trống, đánh vật… phản ánh ước mơ nguyện vọng bình dị của người dân, trang điểm những căn nhà nông thôn dịp tết. Tranh Hàng Trống (Hà Nội) chú trọng nét mảnh mai, thanh thoát, mềm mại và tạo được những khối màu đa tầng chiều sâu. Các bức nổi tiếng: Lý ngư vọng nguyệt, Thất đồng, Ngũ hổ, Tố nữ, Kiều, tranh về canh – tiều – ngư – mục, cảnh nông gia, tranh thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Ngọc Hoàng, Tứ phủ… Tranh Kim Hoàng (Hà Nội) cũng gồm nhiều thể loại. Màu sắc tranh tươi sáng, giấy in không quét lớp điệp như tranh Đông Hồ mà nền đỏ, hồng điều hoặc tàu vàng. Bức tranh Lợn bột được nhiều thế hệ yêu thích. Tranh làng Sình tại Huế chủ yếu tập trung đề tài tín ngưỡng thờ cúng với hàng chục chủ đề cụ thể khác nhau. Tuy nét vẽ và phối màu đơn giản nhưng tranh toát lên vẻ đẹp bình dị, chân chất.

Về điêu khắc, đáng chú ý là những hình trên trống đồng, thạp đồng, đồ dùng trang sức, tế khí, công cụ gia dụng… đạt đến kỹ thuật cao và nghệ thuật tinh tế. Điêu khắc ở nhà mồ của người Tây Nguyên với quần thể các tượng gỗ trong tư thế cô đơn, người đàn bà có thai, các thú vật voi, chim… Trên nóc nhà mồ có hình tượng con thuyền. Trong khuôn viên có cột Klao, Kut dựng lên… Tất cả hòa cùng tiếng cồng chiêng trong rừng núi thiêng liêng sâu thẳm, người Tây Nguyên thể hiện niềm tôn tiếc gửi đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia. Điêu khắc Chămpa ở Nam Trung bộ phát triển rực rỡ vào thế kỷ VII. Trên các mặt ngoài xây bằng gạch không vữa của các khu tháp là những phù điêu hình thần Siva, các tiên nữ Apsara. Bên trong tháp đặt biểu tượng thờ linga và yoni theo tín ngưỡng phồn thực. Các tượng thần khác cũng được bố trí hài hòa quanh các tháp. Điêu khắc Chămpa vô cùng tinh tế trong mô tả nét đẹp cơ thể con người.

Điêu khắc thời Lý đậm tính thiền, điển hình là tượng A Di Đà ở chùa Phật Tích, tượng Kim Cương ở chùa Long Đọi, tượng đầu người mình chim và các hình chạm khắc ở chùa Bà Tẩm, chùa Chương Sơn… Điêu khắc thời Trần với các bệ đá hoa sen bên trên đặt tượng Tam thế (quá khứ – hiện tại – vị lai), tượng rồng chầu lá đề, tiên nữ dâng hương hoa hay tấu nhạc, tượng các loài thú phục chầu ở chùa Thầy, chùa Bối Khê, chùa Thái Lạc và các lăng mộ vua quan… với tính khái quát và tổng thể nổi bật. Điêu khắc thời Lê tập trung nhiều vào các lăng mộ vua chúa với những dãy tượng chầu hình lân, tê giác, ngựa, hổ và cả quan hầu… Thời Lê – Trịnh – Tây Sơn điêu khắc để lại các tượng Phật ở chùa, các hình ở lăng mộ, hình thần thờ ở các đền. Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp, tượng các vị tổ sư chùa Tây Phương cùng rất nhiều tác phẩm ở các đình làng thể hiện đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc với cấu trúc hoành tráng, nét chạm mạnh mẽ và giàu cảm hứng. Thời Nguyễn, điêu khắc đánh dấu kết thúc thăng hoa, chủ yếu tập trung các lăng mộ vua quan tại Huế với tượng quân lính, voi ngựa và một số tượng Phật các chùa phía Bắc.

Một hình tượng tiêu biểu cho thể chế phong kiến hàng nghìn năm ở Việt Nam và nhiều nước châu Á là con rồng. Quan niệm dân gian cho rằng rồng là một trong bốn vật linh (long – lân – quy – phụng), chúa của loài bò sát trong thủy tộc. Người Việt cổ có truyền thuyết cha Rồng mẹ Tiên, quan hệ con Rồng cháu Tiên và tục xăm hình rồng lên mình chống thủy quái. Về sau, rồng xuất hiện trên nhiều bệ đá các tượng Tam thế, trên các thân cột, vì nóc, bình phong, mái đình… Vua Lý Công Uẩn mơ thấy rồng bay lên khi dời đô và nhân đó đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Những vật dụng của các vua đều gắn liền với một chữ “long”: long bào, long nhãn, long thể, long sàn… Vịnh Hạ Long hàm nghĩa rồng đáp xuống vùng biển kín, Sa Pa và Thanh Hóa có núi Hàm Rồng (rồng há miệng), sông Mê Kông vào Việt Nam ở Nam bộ có tên là Cửu Long – Chín khúc sông Rồng.

Rồng thời Lý gắn giữa tôn giáo với quân quyền, thường thấy ở chốn cung đình và các chùa, được sáng tác trên nguyên tắc ổn định về mặt tạo hình, điêu khắc bằng chất liệu đá tự nhiên và gốm nung hoặc ở dạng phù điêu đắp nổi trên các cột lớn. Thân rồng dài, tròn, uốn đều và bụng có ngấn ngắn gần với loài rắn, sống lưng có hàng vảy thấp, chưa có nhiều vảy và móng vuốt hung dữ. Mặt rồng hiền hòa, đầu ngẩng cao, miệng không có mũi và luôn ở tư thế há to như muốn đớp viên ngọc ở cái vòi uốn cong và vươn lên trên miệng bao lấy viên ngọc, hai bên cuối hàm trên có răng nanh dài. Về sau, rồng có bốn chân, mỗi chân có ba ngón vươn ra trước.

Thời Trần, hình tượng rồng xuất hiện rộng rãi trong các kiến trúc đền chùa và dân dã, đắp phù điêu hoặc khắc gỗ và đặt ở nhiều vị trí khác nhau. Vảy trên lưng rồng có hình răng cưa lớn và nhọn, chân ngắn hơn. Đầu rồng có nhiều thay đổi: trên miệng vẫn có vòi vươn ra nhưng vững như sừng, miệng há to tự nhiên, răng nanh nhọn dài hơn. Nét uốn lượn toàn thân rồng tự do, mạnh mẽ, chắc chắn, gân guốc. Đôi rồng chầu mặt trời lần đầu tiên xuất hiện tại tháp Phổ Minh.

Đến thời Lê, hình tượng rồng được sáng tạo hoàn thiện, thiên hẳn về xu hướng uy quyền. Mép trên của miệng rồng được vuốt dài, xung quanh có thêm hàng vảy răng cưa, gốc răng uốn xoắn và phần ngọn kéo dài hướng lên, lông mày cũng kéo dài và chếch ở cuối. Đầu sừng hai chạc cuộn lại. Râu rồng ngắn, chân trước trong tư thế đưa lên vuốt râu. Cổ rồng nhỏ hơn thân. Quá trình những thay đổi trên cho thấy rồng từ dạng rắn chuyển sang hình thể con thú có bốn chân; từ tôn giáo gắn với quân quyền, qua ảnh hưởng của các triều đại Hán Đường đã thiên về quyền lực, từ cung đình đã xuất hiện ngày càng rộng rãi trong tín nguỡng dân gian.

Gốm sứ cũng xuất hiện khá sớm. Nếu những sản phẩm đất nung thời tiền sử thô sơ về kiểu dáng và trang trí, còn non lửa, nguyên liệu chưa tinh luyện, chưa có nhiều loại sản phẩm… thì về sau nghề gốm sứ đã hoàn mỹ. Thay vì nặn tay, bàn xoay ra đời cùng với việc tiến tới sản xuất đồ trang sức và trang trí mỹ thuật. Mặc dù chưa có men nhưng sản phẩm được bao phủ bằng một lớp đất khác màu. Gốm đất nung từng bước có khắp nơi, đa dạng tạo dáng và gắn liền với yêu cầu của sản xuất nông nghiệp lúa nước. Về sau, gạch ngói ra đời cùng với việc nặn những hình tượng con vật với kích thước nhỏ.

Vào thế kỷ X, gốm sứ đạt đến trình độ hoàn thiện, phát triển quy mô sản xuất, số lượng và phong phú chủng loại. Nhiều loại men tráng ngoài sản phẩm như men tro, men đất, men trắng, men ngọc được ứng dụng. Hình dáng, hoa văn trang trí cũng đa dạng: các họa tiết hình học, hình hoa quả, chim, thú, người. Hà Nội, Thanh Hóa, Nam Định là những địa danh gắn liền với nhiều sản phẩm gốm sứ nổi tiếng với độ bền và tính thẩm mỹ cao. Đến thế kỷ XIV, gốm sứ thêm một bước tiến mới với gốm hoa lam, gốm chạm đắp nổi, gốm vẽ men. Kỹ thuật lò nung được cải tiến, nhiệt độ cao được duy trì, khâu trang trí hình nét đã đạt đến trình độ hội họa. Các địa phương chuyên sản xuất gốm sứ có tiếng như Bát Tràng, Thổ Hà, Hàm Rồng, Phú Vinh, Mỹ Thiện… Đầu thế kỷ XIX, do gốm sứ nước ngoài nhập vào Việt Nam, nghề gốm trong nước phát triển chậm lại, chỉ còn gốm Biên Hòa được sử dụng nhiều các vùng Đàng Trong.

Về kiến trúc, sau sự kiện An Dương Vương xây thành Cổ Loa nổi bật nhất thời Bắc thuộc, đến thời nhà Lý đã có những công trình lớn như thành quách, lâu đài, cung điện, chùa tháp, đền thờ, nhà ở, phường phố, chợ quán… Một nhà nghiên cứu từng nhận định kiến trúc giai đoạn này có tính quần thể cao, phong phú tính biểu hiện về hình thức và chi tiết, phong cách nhẹ nhàng và khiêm tốn theo tập quán và khí hậu Việt Nam.

Công trình tiêu biểu nhất là thành cổ Thăng Long với ba vòng: vòng ngoài là Kinh Thành với 16 cửa thời Lê, 12 cửa ô thời Nguyễn, về sau còn 5 cửa ô, là nơi ở của dân cư; vòng thứ hai là Hoàng Thành, còn gọi là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan; vòng trong cùng là Tử Cấm Thành có cửa Đoan Môn duy nhất nối ra Hoàng Thành, qua các thời kỳ còn có các tên gọi Cung Thành, Long Phượng Thành, Cấm Thành, là nơi ở của vua, hoàng hậu, cung tần mỹ nữ. Thành cổ Thăng Long từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử, lưu giữ rất nhiều hiện vật và dấu ấn kiến trúc các triều đại, hình thành nhiều vỉa tầng các giá trị đời sống văn hóa tinh thần dân tộc.

Năm 1049, chùa Diên Hựu (tên gọi hàm nghĩa phúc lành kéo dài) được xây dựng, ngày nay thường gọi là chùa Một Cột. Tương truyền vua Lý Thái Tông nằm mơ thấy Phật Quan Âm hiện lên trên đài sen trong trong một vuông nước phía Tây thành Thăng Long, tay bế một đứa bé trao cho nhà vua. Sau đó, hoàng hậu sinh được con trai, vua bèn cho xây dựng ngôi chùa tôn thờ Đức Phật đã báo điềm lành. Chùa với quy mô nhỏ, được tạo dáng hình hoa sen cách điệu vươn lên. Lối kiến trúc này còn mang ý nghĩa hài hòa âm dương là quy luật sinh sôi sôi nảy nở, thêm người thêm của trong quan niệm phồn thực của người Việt.

Thời nhà Trần, kiến trúc tiêu biểu có tháp Bình Sơn, chùa và tháp Phổ Minh, chùa Thái Lạc. Với chùa Phổ Minh, cách bố cục và toàn bộ cấu trúc đã đạt đến hình mẫu: ba dãy nhà chính (tiền đường – thiêu hương – chính điện), mỗi nhà đều kết cấu cột “tứ trụ” chắc chắn, hòa hợp giữa nhà và sân vườn, vật liệu xây dựng và thiên nhiên hoa cảnh. Thời nhà Hồ từng tập trung tinh hoa xây dựng Tây Đô (còn gọi là Tây Giai). Thành xây trên vuông đất gần 900 m mỗi chiều, xung quanh bên ngoài có hào sâu. Tường cao 5 m, dày 3 m, toàn bộ mặt ngoài bằng những phiến đá tự nhiên rất lớn. Thành có bốn cổng theo bốn hướng trời đất. Trong thành, nay vẫn còn dấu vết các cung điện hoành tráng. So với các thành xây giai đoạn trước chủ yếu bằng đất, thành nhà Hô sử dụng vật liệu đá tảng chắc chắn với kỹ thuật cao. Ngày nay, riêng một số  cổng bằng đá phiến còn lại cũng cho thấy tổng thể công trình rất quy mô. Thời nhà Lê, kiến trúc tập trung vào cung đình và lăng mộ. Thêm sự xuất hiện của chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) cho thấy nghệ thuật mô phỏng cao, mới lạ và độc đáo. Tiếp theo là chùa Tây Phương, đình Đình Bảng, Khuê Văn các, đền Ngọc Sơn… đều là những công trình thể hiện nghệ thuật kiến trúc hoàn chỉnh.

Khi kinh đô từ Thăng Long chuyển vào Huế, kiến trúc cổ truyền dân tộc kết hợp kiến trúc Trung Hoa, tập trung vào lâu đài thành quách, cố cung, Ngọ môn Huế, Đàn Nam Giao, Hổ Quyền, Văn Miếu, điện Hòn Chén, đồi Vọng Cảnh, nhà vườn trong dân cư, đường phố, lăng mộ… Ở bờ Bắc sông Hương, kinh thành rộng 500 ha gồm Đại nội, Hoàng thành, Tử Cấm thành cùng gần 100 công trình lớn nhỏ khác nhau. Phía bờ Nam là 7 khu lăng tẩm của các vua từ thời Gia Long đến Khải Định. Kiến trúc Huế thuộc loại hình tạo cảnh (architecture paysagée), hài hòa một cách thanh thản và thơ mộng giữa ba yếu tố thiên nhiên – công trình xây dựng – con người. Đây là quần thể kiến trúc có tầm quy hoạch rộng lớn, phong phú và hầu như còn nguyên vẹn nhất.

Trên đất cố đô phía Bắc có thêm thành Hà Nội và Cột Cờ. Thành Hà Nội thiết kế theo mô hình pháo đài Vauban ở Pháp trên diện tích rộng lớn, ngày nay đã bị san phẳng. Cột cờ đầu tiên người Pháp gọi là mirador (tạm hiểu là tháp canh), trên đỉnh có ngọn đèn đêm và miếng che di chuyển cho phép một trạm tương tự ở Bắc Ninh khi quan sát số lần che mở ánh sáng, áp dụng tín hiệu Morse để dịch và nhận thông tin (truyền tin quang học). Cả nước cũng bắt đầu xuất hiện các trụ sở hành chính, nhà thờ Công giáo, hệ thống đường sá… theo kiến trúc châu Âu do người Pháp chỉ huy xây dựng.

Kiến trúc Việt Nam còn có đặc điểm tiểu vùng theo sự phân bố các dân tộc khác nhau. Đình chùa và nhà cửa đồng bằng Bắc bộ nấp dưới những rặng tre, thấp và kín cổng cao tường để chắn gió và chống lại điều kiện khí hậu bất thường. Nhà ở thường ba hoặc năm gian với bố trí bên trong thể hiện thờ cúng gia tộc nhiều đời và đặc điểm tam tứ đại đồng đường. Vùng Tây Bắc núi rừng là những ngôi nhà sàn phòng thú dữ, tránh ẩm ướt hay lũ quét, quy tụ thành bản làng không xa nguồn nước tự nhiên. Nhà ở vùng cát trắng gió Lào và vùng khí hậu khắc nghiệt Bắc Trung bộ thường có cột lớn chân kê đá tảng, cửa  thấp, mái lợp dày, toàn bộ khung nhà kết cấu chắc chắn. Vùng Nam bộ sông nước kênh rạch nên phần lớn tập trung vào ghe xuồng đi lại, nhà cửa có cảm giác tạm bộ với vài cây sú đước chống mái lợp hay vách phên bằng lá dừa nước. Vùng Tây Nguyên với mái nhà rông hình lưỡi búa cao vút, những ngôi nhà dài đặt nhiều bếp lửa mang tính cố kết cộng đồng, cả những nhà mồ với tập tục thờ cúng kỳ bí.

Nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, điêu khắc, gốm sứ, kiến trúc… là những lĩnh vực thể hiện khối óc sáng tạo và bàn tay tài hoa của người Việt qua nhiều đời.

Lễ hội

Cùng với chiều dài lịch sử, đặc điểm tâm linh thờ các nhiên thần và nhân thần, quá trình cố kết các dân tộc, Việt Nam đã trở thành đất nước của hàng trăm lễ hội truyền thống. Một số lễ hội ngày nay mất hẳn, nhiều lễ hội vẫn được gìn giữ nguyên mẫu, số khác biến hóa phù hợp với thời đại. Lễ hội có các loại: tiết mùa, tôn giáo, cung đình, dân tộc, hội hè vui chơi, tưởng nhớ anh hùng và người có công, ghi nhớ sự kiện trọng đại, tôn thờ quốc tổ, các bậc tiền hiền, tổ làng, tổ nghề… Lễ hội thường diễn ra vào xuân và thu, khi đất trời giao mùa.

Lễ tiết lớn nhất là tết Nguyên Đán, không khí bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp ÂL, cao điểm là ba ngày đầu năm mới và kéo dài đến rằm tháng Giêng. Giờ phút thiêng liêng là giao thừa khi mỗi gia đình quây quần cúng rước ông bà về cùng ăn tết. Tết cổ truyền không thể thiếu bánh chưng, bánh tét, thịt lợn, dưa hành, câu đối, cây nêu, tràng pháo… Đây là dịp chúc thọ các bậc cao niên, mừng tuổi trẻ con, viếng chùa, nhận lộc, du xuân, xông nhà và thăm chúc bà con trong gia tộc và xóm làng, tổng kết một năm lao động và dự tính kế hoạch cho năm mới.

Người Việt qua tiếp biến các giá trị văn hóa, còn có tết mồng 5 tháng Năm ÂL. Mặc dù tết có nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng tinh thần trung liệt yêu nước của Khuất Nguyên bị hãm hại đã tự tử tại sông Mịch La đáng để tôn kính. Còn có tương truyền vào ngày này, tinh túy của vũ trụ phát tiết, các loại cây thuốc tăng thêm khả năng chữa bệnh, nên nhà nhà đi tìm hái cây thuốc. Tết Trung Nguyên vào Lễ Vu Lan rằm tháng Bảy ÂL. Theo đạo Phật, dịp này Diêm Vương mở cửa cho các vong hồn lên trần hưởng lộc. Các gia đình cúng gia tiên và đốt vàng mã, cúng những cô hồn không người thờ phụng. Lễ vật là thức ăn qua cơn đói như cháo trắng, bánh đa, cây trái… Có nơi đổ cháo vào lá đa khoanh lại rồi đặt lên các bụi bờ để vong hồn già yếu cũng được nương nhờ nhận hưởng. Tết Trung Thu vào dịp rằm tháng Tám ÂL, trước đây là tết của người lớn, về sau dành cho trẻ em. Hầu như gia đình nào cũng làm mâm cỗ, lồng đèn và đón phường múa lân hay múa sư tử vào nhà múa cầu may và xua đuổi ma tà. Khi trăng lên cao, cả nhà quây quần phá cỗ vui vẻ.

Ở phía Bắc có lễ hội chùa Hương tại Mỹ Đức, từ mồng 6 tháng Giêng đến rằm tháng Ba ÂL với hàng chục vạn lượt người viếng cảnh, cầu phúc chúc an. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) vào mồng 9 tháng Tám ÂL, có nghi thức rước thần bằng kiệu rồng cùng phường bát âm và màn múa cờ. Những cặp trâu khỏe được đưa vào sới đấu với những cuộc chọi quyết liệt. Lễ hội đền Kiếp Bạc từ 18 đến 20 tháng Tám ÂL tại Chí Linh có nghi thức lễ rước, diễn trận thủy binh trên sông Lục Đầu tưởng nhớ anh hùng Trần Hưng Đạo. Lễ hội Chử Đồng Tử từ ngày 10 đến 12 tháng Hai ÂL tại đền thờ ở Đa Hòa và Dạ Trạch, tưởng nhớ vị ân nhân đã có công chữa bệnh cứu người, mở mang nông thương; nghi thức có rước kiệu, rước nước và nhiều trò thi đấu. Lễ hội Phủ Dày ở Vụ Bản (Nam Định) từ mồng 3 đến mồng 10 tháng Ba ÂL tưởng nhớ Chúa Liễu Hạnh, với lễ rước Thánh mẫu cùng hội kéo chữ, hầu bóng, hát chèo, hát xẩm, hát văn. Lễ hội Bạch Đằng ở Quảng Ninh tưởng nhớ anh hùng Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Quốc Tuấn với những trận đánh vang dội trên sông nước được ghi vào sử sách, tổ chức vào mồng 8 tháng Ba ÂL có dâng hương, rước kiệu, đua thuyền, đấu vật, cờ người…

Ở miền Trung có lễ hội La Vang tại Hải Lăng (Đông Hà) vào ngày 15-8, kỷ niệm sự kiện Đức Mẹ hiện hình. Hàng nghìn giáo dân các miền hành hương về nhà thờ La Vang, rước kiệu và cầu nguyện. Lễ hội Quán Thế Âm tại núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) từ 18 đến 20 tháng Hai ÂL, có lễ rước ánh sáng, rước kiệu, dâng hoa, cầu nguyện, từ thiện, cùng với múa tứ linh, hát dân ca, hát tuồng, trưng bày thư pháp và các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật từ đá núi Non Nước. Lễ hội Tây Sơn vào mồng 5 tháng Giêng ÂL tưởng nhớ anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung và chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, với biểu diễn võ thuật, thi đánh trống bộ, phục diễn chiến trận. Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận diễn ra tại tháp Pôklông và các tháp Chàm khác vào ngày 1 tháng Bảy lịch Chăm cổ (từ 25-9 đến 5-10), tưởng niệm tổ tông, các vị thần, vua Pôklông và Pôrôme… với nghi lễ cúng tế, tắm rửa thay áo cho tượng vua, múa thiêng và đọc kinh.

Ở Tây Nguyên có lễ bỏ mả của dân tộc Gia Rai, Ba Na, Ê Đê tiễn đưa vĩnh viễn người chết về thế giới bên kia sau vài ba năm giữ và chăm sóc thi hài trong nhà mồ như đối với người sống. Cả làng đánh cồng chiêng, múa hát và ăn uống quanh nhà mồ mấy ngày liền. Sau lễ, những người vợ hoặc chồng góa có thể tiếp tục lập gia đình theo tục nối dây. Buôn Đôn có lễ hội đua voi nổi tiếng vào tháng 3 hàng năm với voi đua trên bộ, lội sông, kéo co, ném xa…, qua đó thể hiện tinh thần dũng cảm săn bắt, khéo léo thuần dưỡng và điều khiển voi của người Tây Nguyên. Lễ hội đâm trâu của người Mơ Nông vào tháng Ba hoặc tháng Tư ÂL. Trâu là con vật thuộc biểu tượng của tín ngưỡng vật tổ, đâm trâu nhằm tạ ơn thần linh. Vật thiêng không thể thiếu là cây nêu dựng cao, trang trí bằng lá non, vải, giấy nhiều màu, trên ngọn treo con chim phượng hoàng biểu tượng của núi rừng. Trước lễ, người ta lấy một chén rượu nhỏ và giết một con gà cúng hồn trâu. Tại lễ, trâu bị chém đứt hai chân sau và bị đâm vào hông trong tiếng cồng chiêng tấu lên. Thịt trâu được xẻ ra, đem nướng ăn và uống rượu cần tại chỗ, còn lại chia đều cho các gia đình mang về.

Miền Đông và Tây Nam Bộ có lễ Nghinh Ông từ 16 đến 18 tháng Tám ÂL, tổ chức tại lăng thờ cá Ông tại Bà Rịa, nghi lễ có rước Ông trên biển với uy danh “Nam Hải Đại tướng quân” được ban vào thời vua Thiệu Trị, tế lễ thần linh, cúng Tiền hiền và tổ chức hát bội. Hội xuân ở núi Bà Đen (Tây Ninh) từ 15 đến 18 tháng Giêng ÂL với rất đông người có nhu cầu tín ngưỡng lẫn khách tham quan, du xuân. Cũng tại đây, vào mồng 5 và 6 tháng Năm ÂL diễn ra nghi lễ tắm và mặc áo mới cho tượng Bà vào lúc 4 giờ sáng, đến 6 giờ thì đông đảo sư sãi các chùa đến thắp nhang trên các bàn thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Chúa Xứ, Đức Phật, Hộ Pháp, Giám Trai… Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu tổ chức vào rằm tháng Giêng tại Bình Dương, do những người Hoa di cư thờ một phụ nữ có tài tiên báo thời tiết giúp người đi biển tránh bão tố phong ba; nghi thức có rước kiệu Bà, cầu phúc, múa lân. Lễ hội Bà Chúa Xứ từ 23 đến 27 tháng Tư ÂL tại Miếu thờ Bà ở núi Sam (Châu Đốc) với nghi thức tắm tượng. Hàng trăm khách thập phương đến cầu lộc, viếng lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An…

Lễ tiết, lễ hội là đời sống tâm linh, là di sản văn hóa tinh thần mang bản bản sắc dân tộc, đã được hình thành và lưu giữ cả ngàn đời nay.

 

Tiếng Việt

Trên vùng đất cư trú của mình, những thế hệ người Việt đầu tiên đan xen giữa hệ ngôn ngữ Tày – Nùng với Môn – Khmer, thuộc ngữ hệ Đông Á. Ngày nay vẫn còn nhiều vùng tồn tại tiếng nói riêng trong 54 dân tộc khác nhau đã cố kết. Trước khi có chữ viết, người Giao Chỉ đã có hệ thống ngôn ngữ nói hoàn chỉnh, phong phú. Nó tồn tại không thành văn và mặc dù có dị bản, nhưng hầu hết đó là các giá trị ngôn ngữ bình dân được “chưng cất” qua nhiều đời: ngắn như ca dao, dân ca hay tục ngữ đều là những đơn vị văn bản kết cấu cố định, chắc chắn và dễ nhớ; dài như các truyện thơ, tích tuồng vẫn có thể nhớ được do sáng tạo ra lối diễn đạt lục bát hay đồng dao vần điệu đều đặn. Ngôn ngữ lại càng giàu tính nhạc khi kết gắn với các làn điệu dân ca theo các tiểu vùng văn hóa.

Khi chữ Hán xuất hiện, người Việt vay mượn làm ngôn ngữ viết, chiếm lĩnh vốn từ và ngữ nghĩa ở những khái niệm, lĩnh vực và cách diễn đạt có liên quan đến đời sống mọi mặt. Giáo dục thi cử thời xưa nổi bật nỗ lực này. Nhưng cũng song song với quá trình đó, tầng lớp trí thức và người Việt nói chung đã làm phong phú đa nghĩa, sáng tạo tiếng Hán theo tư duy và tình cảm riêng.

“Truyện Kiều” là một điển hình. Mặc dù lấy cốt truyện từ tác phẩm văn xuôi “Kim Vân Kiều truyện” đã có, nhưng thi phẩm lục bát của Nguyễn Du lại diễn đạt hoàn toàn mới lạ, trở thành “viên ngọc sáng” của tiếng Việt. Trong Kiều, chữ mà lại là họa, cảnh vật hiện lên sống động rõ ràng như chạm tay vào được khi Nguyễn Du tả Kiều ở Lầu Ngưng Bích với cửa biển, cánh buồm, hoa trôi man mác, bãi cỏ ven bờ, chân trời mặt nước và sóng gành giận dữ… Hay Thuyết Thiên mệnh cũng được tóm gọn dễ hiểu dễ nhớ chỉ trong đoạn thơ ngắn dường như ai cũng thuộc:

“…Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Phải đâu thiên vị người nào

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,

Có tài mà cậy chi tài?

Chữ tài liền với chữ tai một vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa…”

Bao thế hệ từ vua chúa đến thường dân đều đọc Kiều. Những trí thức tốn nhiều giấy mực bình luận cái hay của tác phẩm đến người mù chữ cũng thuộc Kiều. Những thú chơi chữ tao nhã cũng hình thành: vịnh Kiều, bói Kiều, lẫy Kiều, đố Kiều, giải thích giai thoại trong Kiều… Vì thế mà Phạm Quỳnh từng cho tác phẩm này là một “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”.

Mặt khác, từ tiếp xúc với chữ Hán, người Việt cũng tạo ra loại chữ Nôm. Tương truyền thời Sĩ Nhiếp cai trị, chữ Hán xuất hiện và được dùng chủ yếu trong các gia phả, khế ước, văn tự, bài khấn, kê khai ruộng đất, thu thuế, các bộ kinh Phật… Chữ Hán phần lớn có mặt trong đời sống và hoạt động vương triều, giáo dục thi cử, văn học viết. Nhưng có những vấn đề đã không thể diễn đạt được bằng chữ Hán như: tên làng, tên người đặt theo cách của người Việt hay những sự việc, tính chất, hoạt động khái niệm, thói quen, kinh nghiệm… diễn tả từ trực quan đến tư duy trong hoàn cảnh và môi trường tại chỗ. Kèm theo đó là lối phát âm quen thuộc và cố định nhiều đời, chưa từng có tiền lệ hay yếu tố tương đồng trong chữ Hán. Đồng thời, xuất phát từ nhu cầu cần có ngôn ngữ viết, chữ Nôm ra đời vào thời nhà Lý thế kỷ X, phát triển mạnh trong văn học thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII.

Nguyên tắc cơ bản của chữ Nôm là dùng một chữ Hán có âm gần giống âm tiếng Nôm, thêm vào các ký tự như: chữ khẩu nhỏ, dấu hai chấm, chữ khẩu đá thảo (bên trái), dấu nháy cá (bên phải) để nhận dạng riêng. Sau đó, người ta có thể đọc theo âm Hán – Việt nhưng hiểu theo nghĩa Nôm, đọc trại âm của từ Hán – Việt (giả tá), lắp ghép hội ý hai chữ Hán để ra nghĩa một chữ Nôm, hoặc hài thanh… Việc ký tự và đọc như vậy ngày càng nhiều mà không được điển hóa, lại theo kinh nghiệm cá nhân, lĩnh vực phản ánh, khu vực vùng miền khác nhau. Hạn chế và bất cập của chữ Nôm phát sinh: hiểu sao viết vậy, lắp ghép, gượng ép, lúc đơn giản, lúc rắc rối… Ngay cả “Truyện Kiều” cũng có nhiều bản chép tay bằng chữ Nôm khác nhau.

Dù chưa hoàn chỉnh, nhưng nhiều vốn sống, lối sống và ứng xử, tâm tư tình cảm, kinh nghiệm lao động sản xuất… tạo thành vốn chữ Nôm khá phong phú. Văn học chữ Nôm cũng để lại nhiều tác phẩm giá trị, điển hình là “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hơn 200 bài thơ, truyện nôm “Thiên Nam ngữ lục” hơn 8.000 câu… Thời vua Quang Trung, ông còn quyết định dùng chữ Nôm làm Quốc ngữ. Nhìn lại quá trình đó để hiểu thêm một nhận định của nhà nghiên cứu ngôn ngữ học F.de Saussure: “Trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc”.

Năm 1625, một nhà truyền đạo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes vào Việt Nam. Ông lấy tên là Đắc Lộ, tự học tiếng Việt, tìm cách phiên tiếng Việt ra cách phát âm và ký tự Latin. Nhưng vì chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn bấy giờ, ông bị trục xuất và cũng nhiều lần trở lại. Lần sau cùng năm 1651, ông về nước Ý cho in cuốn tự điển Việt – Bồ – La nhằm hệ thống hóa lại quá trình ghi âm nói trên, cùng với xuất bản cuốn “Phép giảng tám ngày” (lúc này còn có “Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha” của cha Gasspar de Amal).

Ban đầu, tự điển chỉ để làm phương tiện phổ biến Kinh Thánh trong cộng đồng Kitô giáo Việt Nam. Về sau, mức độ sử dụng lan rộng ra nhiều lĩnh vực. Ngay cả những người từng tẩy chay “thứ chữ con giun của bọn người mắt xanh” cũng quay lại ủng hộ khi nhận ra tính tiện lợi và khả năng diễn đạt của nó. Trong “Văn minh tân học sách”, nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục lần đầu tiên gọi đây là quốc ngữ và vận động nhân dân nên học để hóa dân cường quốc: “Nguời trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con đều biết chữ… Đó thực là bước đầu để mở mang trí khôn vậy” [12].

Loại chữ mới này trở nên bác học hơn qua chương trình giáo dục các trường của Pháp mở ở Việt Nam đào tạo quan chức cho cả khu vực Đông Dương. Một nhà nghiên cứu người Pháp nhận định sự xuất hiện chữ quốc ngữ đã tạo ra một “lợi khí giải phóng tinh thần và phổ biến văn hóa”. Những nhà văn hóa lớn bấy giờ như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu… đã có công trong khai thác khả năng ngôn ngữ mới, diễn đạt tư tưởng và tình cảm ở nhiều lĩnh vực. Tính đến năm 1939, ở Việt Nam có 48 tờ báo, 68 tập san, gần 300 tác phẩm xuất bản đã hoàn thiện và phổ cập đáng kể quốc ngữ. Quốc ngữ cũng trong sáng và phổ cập bình dân hơn qua nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đi vào lĩnh vực chính trị nhiều hơn qua hoạt động của đảng phái và chính quyền các thời kỳ.

So với ngôn ngữ các dân tộc Đông Nam Á, tiếng Việt là ngôn ngữ tiến bộ, có khả năng diễn đạt tất cả các loại văn bản, kể cả các văn bản chuyên ngành kỹ thuật và các đề tài nghiên cứu khoa học bậc cao. Trong trường hợp này, các nước khu vực phải mượn đến tiếng Anh. Ngôn ngữ mới cũng dung nạp các yếu tố văn hóa tiểu vùng trong nước, tiếp nhận giá trị trên nhiều lĩnh vực từ các dân tộc và các nền văn hóa khác mang đến. Alexandre de Rhodes đã có công bắt một nhịp cầu, tạo ra phương tiện chứa đựng và chuyên chở “thứ hàng hóa vô giá” là ngôn ngữ nói phong phú, đa dạng của người Việt nhiều đời, hoàn chỉnh đầy đủ ngôn ngữ từ nói đến viết, góp phần đưa người Việt đến với văn hóa văn minh hiện đại.

Tiếng Việt phổ thông ngày nay là niềm tự hào của các thế hệ Việt Nam qua quá trình lao động và chiến đấu, gìn giữ và làm phong phú thêm bản sắc độc đáo:

“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ,

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

 

Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh,

 

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy,

Một tiếng vườn rợp lá bóng cành vươn,

Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối,

Gió heo may gợi nhớ những con đường

 

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta,

Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất

Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già…”

(Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)

Trước đây, khi mẫu tự Latin bắt đầu xuất hiện, nhiều người nhận định mối quan hệ “đồng văn” với Trung Hoa đến hồi cáo chung, mà hình ảnh tiêu biểu là ông đồ viết câu đối quá vãng “hồn ở đâu bây giờ” trong một bài thơ nổi tiếng của Vũ Đình Liên và sự kiện kỳ thi hương cuối cùng kết thúc vào năm 1919. Thực ra, ngôn ngữ không thể bị tẩy rửa hay lột bỏ nhanh được. Ngày nay, tiếng Việt vẫn sử dụng một số lượng lớn ngôn từ có nguồn gốc ngữ nghĩa Hán, nhiều nhất là trong các văn bản thuộc lĩnh vực chính trị và hoạt động chính quyền.

Tiếng Hán vẫn còn đó, đang diễn ra một quá trình không những biến đổi ngữ nghĩa, mà còn được tiếp tục Việt hóa cả hình thức trong lối thư pháp hiện đại dùng mẫu tự quốc tế viết theo cách Hán ngữ của nhiều bàn tay tài hoa Việt Nam. Những giá trị tinh túy của tiếng Hán, kể cả tiếng Pháp, cùng những tiện ích và tính hiện đại của mẫu tự Latin nói chung đã chuyển biến thành “máu thịt” riêng có trong ngôn ngữ Việt Nam, đưa dân tộc đi đến văn minh hiện đại. Chữ “Hòa” của tư duy Việt Nam đầy sáng tạo xét về ngôn ngữ là ở chỗ đó.

 

Một số hệ giá trị khác

 

Trống đồng

Trống đồng là hiện vật thuộc Văn hóa Đông Sơn, biểu tượng cho quyền lực ổn định và đời sống xã hội phong phú thời các vua Hùng. Trống cũng được phát hiện nhiều vùng ở Đông Nam Á: Việt Nam có 60 chiếc, Hoa Nam (Trung Quốc) 50 chiếc, Lào – Campuchia – Malaysia 20 chiếc, Indonesia 26 chiếc. Tuy nhiên, căn cứ về số lượng, cách chế tạo và trang trí, cũng như giá trị sử dụng, có thể khẳng định Việt Nam là chiếc nôi của trống đồng. Có nhiều nhóm trống đồng qua khai quật đã được đặt tên như: Hoàng Hạ, Sông Đà, Khai Hóa, Phú Xuyên, Bản Thôm, Vũ Bị, Quảng Xương… Trong nước, số lượng trống đồng tìm thấy nhiều nhất thuộc phía Bắc, tiêu biểu như các vùng Hà Tây, Thanh Hóa, Lào Cai, Hà Giang… Càng về phía Nam, trống đồng càng ít dần.

Trống đồng là âm thanh không thể thiếu khi người Việt xông pha chiến trận, cứu đê, tế cúng, lễ hội, ngày mùa… Để đánh trống, phải có đội hình thuần thục các động tác bài bản, kết hợp giữ nhịp tuần tự. Từ đó, trống mới phát ra nhiều âm thanh khác nhau: kinh hoàng sấm sét, tưng bừng vào mùa, thôi thúc chống lũ, tâm tư lễ tang, trầm mặc chiêu hồn… Người ta đánh trống đồng bằng những đoạn cây thuộc nhóm gỗ nhẹ và bền với đầu dùi được đẵn nhẳn và bọc vải nhồi thêm lớp bông mềm bên trong, đánh như tư thế như đứng giã gạo.

Đội hình đánh trống có cả nam và nữ, từ hai đến mười người, trong các bộ lễ phục đóng vai chim Lạc. Cùng lúc, có thể có trống cái lớn nhất cùng nhiều trống con hòa âm. Khi đánh, trống được đặt trên một mặt bằng cố định, cũng có thể buộc quai treo lên những cây cọc làm giá đỡ cách rời mặt đất hoặc đặt trên một hố đất rỗng đào bên dưới. Tùy thuộc đặt trống ở nền đất hay treo lên, ở nơi rỗng hay phẳng mà âm thanh sẽ được cộng hưởng hay dồn nén, tạo nên đa dạng giữa âm chính và âm rung khuếch đại khi lan truyền.

Trong các loại trống đồng tìm thấy, tiêu biểu nhất là trống đồng Ngọc Lũ. Với kích thước cao 0,63m, đường kính mặt trống 0,79m, hình dáng của trống rất hài hòa vững chắc. Thân trống ở phần mặt mở rộng thành tang trống, phần giữa thắt đáy, phần dưới lại mở ra vừa tạo thế đứng vững chắc, vừa làm cho âm thanh giao thoa và thoát ra ngoài tốt hơn. Có bốn quai lớn chia thành hai cặp ở thân trống để có thể luồn dây khiêng hoặc treo trống lên, đồng thời cũng là cách trang trí tạo ra dáng đẹp. Những họa tiết ở phần thân trống có hình người giã gạo, các động vật và hoa văn nét góc.

Trên mặt trống, ở giữa là hình ngôi sao 14 cánh tượng trưng tôn thờ Thần Mặt trời. Các cánh sao cũng đồng thời để người cầm dùi định vị điểm đánh: ngay giữa có tiếng trầm ấm, vào hình những con cóc có âm sắc cao, vào các vành hoa văn có âm thanh trong vang và ngân dài… Mười hai vòng tròn đồng tâm cũng chứa nhiều chuỗi hình ảnh như 18 con chim Lạc nối nhau bay (con số trùng khớp với 18 đời vua Hùng), cảnh nhà sàn, sinh hoạt của người Việt cổ. Để đúc trống, người xưa phải tạo một cái khuôn hai mảnh áp lại, khuôn phải chịu được nhiệt độ cao khi tiếp xúc với đồng nóng chảy. Trống của người Việt có đặc điểm đúc với tỉ lệ chì pha vào đồng nhiều hơn trống các vùng khác. Rõ ràng, trống đồng tập trung cả kỹ thuật đúc điêu luyện và nghệ thuật trang trí rất tinh xảo.

Ở các trống và thạp đồng khác, người ta còn thấy những tác phẩm điêu khắc hình tượng người biến thành cán chiếc dao găm hay hình voi, cóc, hươu, rùa… thể hiện trực quan về thế giới tự nhiên và việc săn bắt mà con người tiếp xúc hàng ngày. Trên trống đồng Đào Thịnh còn có hình bốn cặp nam nữ giao phối, thể hiện tâm linh phồn thực, mơ ước sinh sôi nảy nở, lớn mạnh và bất diệt. Đây là lối điêu khắc từ nội dung phản ánh đến nghệ thuật hoàn toàn thuần Việt. Trên trống đồng Đông Sơn là cảnh tế lễ cầu mùa, tang ma cũng như tín ngưỡng thời Thần Mặt trời với đặc điểm hình khối được thể hiện rất rõ ràng.

Khi nhà Trần phục kích quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, trống đồng được mang theo, đánh lên để giục quân làm náo động cả một vùng sông nước. Năm năm sau, sứ nhà Nguyên là Trần Phu còn kinh hoàng nhớ lại tiếng trống trận: “Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh” (tạm dịch: nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc!).

Đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao thiết lập lần đầu tiên ở Thăng Long thời nhà Lý. Đây là nơi trang nghiêm chỉ để thực hiện nghi lễ thờ cúng trời đất gắn với Thuyết Thiên mệnh của Nho giáo, thể hiện đặc điểm thần quyền tôn giáo kết hợp với vương quyền chính trị. Trong đó, vua là thiên tử cai trị muôn dân nên chỉ vua mới đứng ra làm chủ lễ. Qua tiếp xúc bằng giao cảm mà chân cây hương được cắm vào mặt đất và đầu cháy tỏa khói nối vào cõi không, các vua mong ước triều đại cường thịnh, đất nước thái bình, sự nghiệp trị vì được rạng rỡ. Đến thời Hậu Lê, việc xây dựng và quy định nội dung hình thức tế lễ càng được quan tâm hơn. Thời Tây Sơn, lễ tế tổ chức ở núi Ba Tầng (còn gọi là núi Hòn Thiêng). Thời Nguyễn, đàn được xây dựng lần đầu ở làng An Ninh (1803), sau đó chuyển hai địa điểm khác nhau, đến đàn tế trời làng Dương Xuân là còn nguyên vẹn và duy nhất ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Á ngày nay.

Công trình lộ thiên này bắt đầu xây dựng tháng 3-1806 dưới sự chỉ huy của Thống chế Phạm Văn Nhân. Dọc theo tường thành đá bao bọc có bốn cửa mở theo bốn hướng trời đất. Bên trong, một khuôn viên dài 390 m và rộng 265 m. Có rất nhiều thông được các vua quan trồng, tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ và khí tiết người quân tử. Cũng như cách xây dựng ngọ môn, các thành quách cung điện hay lăng tẩm nằm trong quần thể kiến trúc Huế, Đàn Nam Giao đề cao đức tin vào âm dương ngũ hành theo Kinh Dịch.

Đàn Nam Giao gồm ba tầng, cao tổng cộng 4,65 m, thể hiện triết lý Thiên – Địa – Nhân: tầng trên là Viên đàn tượng trưng cho trời nên hình tròn và lan can màu xanh, tầng giữa là Phương đàn tượng trưng cho đất nên có hình vuông và lan can quét vôi màu thổ (địa hoàng), tầng dưới cùng lớn nhất tượng trưng cho con người (xích tử) cũng hình vuông và quét vôi màu đỏ. Khi chuẩn bị tế lễ, tầng trên được dựng lên một cái nhà mái hình nón màu xanh gọi tên là Thanh ốc, tầng giữa dựng một cái nhà hình vuông bao vải vàng gọi là Hoàng ốc, tầng cuối là nơi tập trung 128 văn – vũ sinh múa hát khi cử hành lễ. Ở bốn cửa thành, mỗi cửa cắm hai lá cờ lớn trình tự các màu xanh – trắng – đỏ – đen.  Đàn Nam Giao trực chỉ hướng Nam. Trong khu vực còn có các công trình khác như: trai cung, thần trù, thần khố, quan cư…

Đầu năm 1807, nhà Nguyễn khánh thành công trình và tổ chức tế lễ lần đầu. Lễ duy trì đều đặn vào thượng tuần tháng Hai ÂL hàng năm. Thời vua Thành Thái, ba năm mới tế lễ một lần. Trước tế lễ một thời gian, vua phải nhập trai cung trong một đám rước đông đảo thần dân cùng các hàng quan trang phục lộng lẫy với gươm giáo, cờ quạt, trướng liễn, tàng lọng, chiêng trống, voi ngựa, đội nhạc lễ… Vua khởi hành từ hoàng cung vào sáng, đến ngọ thì tới trai cung. Ven đường, các làng xã chuẩn bị hương án để vua đi qua thì xá mừng. Ngày đại lễ khởi đầu từ hai giờ sáng, chuông trống vang lên cùng đèn đuốc thắp sáng. Vua đến Viên đàn làm chủ tế. Các hoàng thân, đại thần đều có mặt. Quá trình lễ nghi nhiều bước. Sau đó, vua về lại trai cung. Sáng hôm sau diễn ra lễ Khánh hạ. Những ngày tế lễ đã trở thành hội, nghiêm trang mà nô nức.

Lễ tế Đàn Nam Giao không chỉ khép kín trong hoàng cung mà còn trở thành ngày hội ăn sâu vào đời sống tâm linh của người dân Huế cũng như cả nước một thời. Và không chỉ đối với nhà Nguyễn mà còn nhiều triều vua, không chỉ đối với nước ta mà cả nhân loại cổ kim, lễ tế Đàn Nam Giao cho thấy: có thể bằng nhiều cách tôn thờ khác nhau, nhưng quan trọng nhất là không thể nào con người sống mà thiếu một đức tin, chỉ sống bằng lối sống vô thần vô đạo.

 

Nhã nhạc cung đình Huế

Đây là loại nhạc biểu diễn vào dịp đăng quang, tang lễ, đón tiếp ngoại giao, nghi lễ tôn giáo… Thật ra, nhạc cung đình sớm có từ thời Lý, phát triển hơn khi diễn ra sự giao thoa văn hóa giữa Đại Việt và Chămpa. Qua nhiều triều đại, nhạc cung đình sao chép từ phương Bắc đã được người Việt cải cách, sáng tạo. Công đầu trong lĩnh vực này là Đào Duy Từ. Đầu thế kỉ XVII, không được tin dùng ở phía Bắc, ông bỏ triều Lê, vượt sông Gianh vào Nam và nhận được sự đón nhận trọng thị của nhà Nguyễn. Ông đã nghiên cứu kết hợp âm nhạc phía Bắc với âm nhạc dân gian miền Trung, sáng tạo ra nhã nhạc cung đình và hát bội. Ông là soạn giả nhiều vở diễn nổi tiếng, giúp triều Nguyễn hình thành và luyện tập các đội nhạc công, ca công, vũ công. Tiếp nối Đào Duy Từ, Đào Tấn cũng là một nhà sân khấu tiêu biểu.

Thời Gia Long, “Việt tương đội” được lập ra ở cung đình với 200 nghệ nhân, cùng sân khấu biểu diễn dựng lên tại cung Ninh Thọ. Thời Minh Mạng, vua cho xây “Thanh Bình từ đường” thờ và dựng bia ghi công các tổ sư âm nhạc, rồi xây nhà hát lớn, lập thêm các nhóm nghệ nhân chuyên nghiệp. Đến thời Tự Đức, nhã nhạc cung đình bước vào thời kỳ hoàng kim và điêu luyện của một chữ “nhã”. Thêm nhà hát Minh Khiêm ra đời. Hiệu thơ phòng cũng được lập ra để xướng họa thơ văn và thưởng thức âm nhạc. Chính vua cũng tự tay sáng tác bản “Tứ đại cảnh” nổi tiếng, biểu diễn trên nền nhạc ngũ âm, đậm triết lý về vũ trụ.

Cùng với nhạc lễ cung đình, nhiều rạp hát trong dân chúng cũng ra đời: rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên, rạp hát ông Sáu Ớt, rạp gia đình họ Đoàn, rạp hát bà Tuần… Do đó, giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc, cung trung chi nhạc… đã từ cung vua bước ra đời sống thường dân, gặp gỡ và hòa quyện với ca Huế, nhạc tuồng hát bội.

Cả một vùng kinh đô Huế và miền Trung nói chung đậm chất văn hóa tiểu vùng bằng loại âm nhạc này. Nhã nhạc là bằng chứng cho thấy sức sáng tạo và nuôi dưỡng nghệ thuật rất lớn trong nhân dân, điều mà có triều vua trước đó chỉ xem là “xướng ca vô loại”. Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO [13] công nhận là một kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại: “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13, đến thời nhà Nguyễn đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất… Trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia” [14].

 

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Xét về địa lý, không gian cồng chiêng bao trùm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăc, Lâm Đồng, Đăk Nông. Chủ nhân vùng đất này là người Mnông, thời gian dài từng quy tụ thành cộng đồng lớn. Về sau, quá trình phân ly đã chia thành các nhóm Mnông Gar, Mnông Rlăm, Mnông Rlăp… Sau đó, cùng với các dân tộc Ê Đê, Ba Na, Mạ, Lặc… có nét văn hóa tương đồng, quá trình hợp nhất tộc người lại diễn ra theo hướng cố kết hòa hợp rộng lớn hơn, hình thành cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.

Trên những cánh rừng mênh mông, các buôn làng với những ngôi nhà dài, nhà rông, nhà gươl, nhà mồ, ruộng rẫy, những đàn voi và nghề săn bắt thuần phục voi rừng, những lễ hội hàng năm tập trung nhiều nhất vào mùa khô. Các lễ hội thường có cả cộng đồng tham gia, từ lễ mừng cơm mới, cúng máng nước, đâm trâu… hay nghi lễ vòng đời người như lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, bỏ mả… Cộng đồng ấy lưu giữ lâu đời những giá trị độc đáo của nền văn hóa vùng rừng núi mà gần 300 pho sử thi và hàng chục ngàn bộ cồng chiêng qua điền dã sưu tầm còn nguyên vẹn đến nay là một trong những minh chứng nổi bật nhất.

Cồng chiêng Ê Đê thường đánh trong nhà, giai điệu dồn dập rộn ràng và tiết tấu đa dạng. Nhạc cồng chiêng Ba Na lại thong thả, cung kính và linh thiêng. Nhạc cồng chiêng Gia Rai biểu diễn ngoài trời rõ ràng và dịu dàng như mời gọi thiết tha chủ khách cùng nhảy múa hay cùng uống rượu cần… Sau lễ hội, cồng chiêng trở về nằm yên trên những vách nứa, để đến mùa lễ hội năm sau, hàng đoàn cồng chiêng lại gặp nhau bên những bộ sắc phục đỏ đen cùng những trang trí sợi màu ngũ sắc, dưới những cây nêu cao vút, trong những ngày diễn ra lễ tế hay những đêm ánh lửa bập bùng, khi mà trời đất và rừng núi vào tiết giao hòa.

Loại nhạc cụ bộ gõ bằng đồng này ra đời sau các đàn đá, quá trình chế tác hình thành đầy đủ các thang bậc, đồng thời lại rất linh động thay đổi âm thanh tùy theo cách đánh, người đánh và độ dày mỏng của mặt cồng chiêng. Người Tây Nguyên mua chiêng (mặt phẳng, không có núm ở giữa) và cồng (có núm) từ người Lào, Campuchia hay người Kinh… đem về và điều chỉnh lại âm thanh bằng cách dùng vật cứng gò tán lên trên bề mặt để lại các dấu vết như hình sóng giữa tâm lan rộng ra. Vừa gõ, các nghệ nhân chưa từng học lý thuyết âm nhạc vừa thử nghe, đến khi cảm nhận sự giao thoa của từng chiếc và cả dàn cồng chiêng một cách “vừa tai” thì dừng. Nhưng như như thế nào thì “vừa tai” lại là thiên hướng nghệ thuật riêng có ở các nghệ nhân Tây Nguyên. Một giàn chiêng hoặc cồng núm cổ có từ hai đến ba chiếc, quy mô lớn hơn có 6 chiêng hoặc cồng núm, dàn chiêng đại lên đến 12 chiêng và cồng. Ngoài ra, có chũm chọe hay kèn trống phối âm. Âm thành từ cồng chiêng có thể biến hóa thành những cao độ khác nhau hợp với giọng nói và hát của người Tây Nguyên mà không phải lúc nào cũng được “gò” vào các quãng tám bàn phím nhạc phương Tây, các loại đàn cổ ngũ âm hay sáu thanh phát âm ở người Kinh.

Trong thời gian rất dài, cồng chiêng là “đứa con âm nhạc” của người Tây Nguyên chưa bao giờ có dịp bước ra khỏi “ngôi nhà núi rừng” của mình. Chính người Tây Nguyên thiết tha yêu mến cồng chiêng không tự ca ngợi giá trị này. Họ là những nghệ nhân say mê sáng tạo và biểu diễn. Giữ được giá trị nguyên sơ của cồng chiêng qua nhiều giai đoạn lịch sử quả là kỳ công rất lớn. Âm thanh khi trầm mặc, khi sâu lắng hài hòa, khi bùng lên như ngọn lửa, như dòng suối, như tiếng gió đại ngàn… Cồng chiêng không chỉ diễn tả vui buồn trong đời sống mà còn là sự giao tiếp từ sâu thẳm tâm linh với núi rừng thiêng liêng, với trời đất: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời…” (Klei khan Y Đam San).

Khác với nhiều nước, cồng chiêng được kết lại một giàn do số ít nghệ nhân biểu diễn, cồng chiêng Tây Nguyên là lối chơi nhạc mang tính dân chủ cộng đồng với nhiều người tham gia vào, thậm chí có thể là khách mới đến. Có cả người múa hát, hành lễ hay mời rượu. Đây chính là yếu tố đặc sắc được thế giới quan tâm. Cũng như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại [15].

 

Quan họ và ca trù

Quan họ là những làn điệu dân ca có từ ngàn xưa ở đồng bằng Bắc bộ, chủ yếu dọc theo những vùng cư dân hai bờ sông Cầu. Theo kết quả điền dã văn hóa dân gian, gần 70 làng quan họ vùng Kinh Bắc (nay nằm ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang) là nơi hình thành và lưu giữ những làn điệu cổ xưa nhất. Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân, thường thấy ở các lễ hội dân gian và cung đình, các nghi thức tôn giáo và tâm linh thờ cúng phồn thực.

Quan họ là lối hát giao duyên của các liền anh liền chị, một cách trao đổi tình cảm giữa những người hát theo nội dung các lớp diễn tự nhiên và khả năng ứng biến tại chỗ. Người biểu diễn sinh ra từ chiếc nôi truyền thống quan họ, luôn giàu tình yêu cuộc sống. Vì thế, dù bận đồng áng nhưng đến lúc biểu diễn là họ có thể trở thành diễn viên. Lối hát cổ xưa cũng không có nhạc đệm, thay vào đó là các quy định, luật lệ, tiêu chuẩn chặt chẽ với các hình thức hát hội, hát canh, hát chúc mừng, hát thờ… Các bài hát cổ ngày nay còn ghi nhận được: La rằng, Đường bạn kim loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Gió mát trăng thanh, Tứ quý…

Khi trở thành nghệ thuật sân khấu, quan họ mở rộng thời gian và không gian ra khỏi các dịp lễ hội và đơn vị cộng cư làng xã. Người hát chuyển sang giao lưu tình cảm với khán giả, nội dung và hình thức cũng được chính quy hóa, biên soạn thành bài bản cố định. Hình thức biểu diễn hiện đại có hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát múa, cải biên các bài bản truyền thống và xuất hiện nhạc đệm. Bài “Người ơi người ở đừng về” cải biên từ làn điệu “Chuông vàng gác cửa tam quan”, bài “Sông Cầu nước chảy lơ thơ” soạn lời mới từ làn điệu truyền thống “Nhất quế nhị lan”. Mặt khác, mỗi bài đều có giai điệu riêng phong phú được truyền khẩu qua nhiều đời, tạo ra sự mất ổn định trong cố kết tác phẩm hoàn chỉnh. Nhiều giai điệu cổ qua thời gian cũng bị biến đổi hay thất truyền.

Về trang phục, liền anh mặc áo dài đen năm thân, cổ đứng, quần dài màu trắng ống rộng, đầu đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp, tay cầm nón hoặc dù đen. Liền chị trên đầu chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, mặc áo mớ ba (ba áo dài lồng lên nhau) hay áo mớ bảy (bảy áo dài lồng lên nhau). Bên trong nổi rõ một chiếc yếm ngực bằng lụa màu đỏ thắm, hoa hiên, xanh trời, xanh biển, hồng sen… Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà. Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân màu sắc tươi tắn, có cài khuy. Bao ngang eo khổ rộng màu đen, có tua bện hai đầu, luồn qua lưng áo dài, bó ba thân áo trước. Thắt lưng nhỏ hơn bao, màu hoa lựu, hoa đào, hoa hiên, hồ thủy; lại điểm thêm sợi dây xà tích. Cả bao vào thắt lưng buộc múi trước bụng tạo nên hình bông hoa nhiều màu nổi bật trên bộ trang phục. Váy thường là váy sồi, váy lụa. Dép bằng da, mũi cong lên che các đầu các ngón chân.

Hồ sơ về quan họ được Hội đồng âm nhạc quốc tế UNESCO công nhận giá trị văn hóa đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử, ngôn từ, trang phục. Đây là di sản với những điểm nổi bật: luôn diễn ra trong các hoạt động văn hóa tinh thần cộng đồng, được lưu giữ qua nhiều thế hệ và trở thành bản sắc trong không gian văn hóa đặc thù; việc đăng ký quan họ vào danh sách đại diện và công nhận làm tăng thêm vị trí, vai trò của di sản, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa tiểu vùng; người dân đã tham gia tự nguyện trong nhận dạng, kiểm kê giá trị di sản; các biện pháp bảo vệ cho thấy tính khả thi [16].

Ca trù (còn có tên gọi hát ả đào, hát nhà tơ, hát cửa đình) là môn nghệ thuật cung đình có từ thế kỷ 15. Nó khởi nguồn từ dân ca, dân nhạc, đồng thời tổng hợp nhuần nhuyễn giữa nhạc, thơ, múa, trò diễn. Về sau, ca trù lan rộng đến thôn dã, theo sự có mặt của các đình làng, từ hoạt động nghi lễ tín ngưỡng cộng đồng đến quan hệ bầu rượu túi thơ tri âm. Các làng ả đào thường liên kết nhau hợp thành giáo phường như là tổ chức nghề nghiệp có tên gọi riêng. Ca trù có mặt ở nhiều vùng phía Bắc, đến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Một nhóm biểu diễn ca trù thông thường có giọng hát nữ, nhạc công nam là kép phụ họa cùng ngồi trên chiếu diễn. Phần lớn làn điệu thuộc dạng hát nói bằng văn vần. Cũng có một số làn điệu khác như tỳ bà hành, gửi thư, bắc phản, hát giai… Một mối tình cảm dành cho giai nhân hay phong cảnh hữu tình, một tâm sự sâu kín riêng tư, một nét ca trù ngày xuân… nằm trong các bài nổi tiếng được nhiều người mến mộ: Hồng hồng tuyết tuyết, Hương Sơn phong cảnh, Gặp xuân, Tự tình, Lời thề non nước, Thế sự thăng trầm…

Về thanh nhạc, nói đến ca trù là nói đến đào nương. Đó là nhân vật chính, yếu tố quyết định buổi diễn, chuyển tải cái hay đến người nghe và giữ cho bản sắc độc đáo của ca trù tồn tại. Đào nương có giọng hát tốt, khiếu thẩm âm, kết hợp thanh nhạc và khí nhạc, hiểu biết văn thơ, đam mê và kiên trì tập luyện, có nhan sắc và đức hạnh. Đào nương còn phải điêu luyện kỹ thuật thanh nhạc, khẩu hình không mở rộng nhưng cần duyên dáng, hơi từ buồng phổi đến cổ phải được ém lại sao cho nghe ậm ừ mà ca từ vẫn tròn vành rõ chữ. Hát ở cửa đình, giọng không cần luyến láy, hát chơi cần lả lơi, hát tâm sự cần nức nở chứa chan…

Về khí nhạc, ca trù có cỗ phách, đàn đáy, trống chầu. Cỗ phách có thanh tre hay mảnh gỗ làm bàn phách, hai chiếc dùi gỗ đánh lên bàn phách. Phách cái và phách con được gõ điêu luyện uyển chuyển và ăn ý với lời ca nhằm tạo âm thanh trầm bổng trong đục, nhịp mạnh và nhẹ hài hòa di chuyển trong dãy thang âm. Đàn đáy có thùng hình chữ nhật hay hình thang, mặt đàn làm bằng gỗ từ cây ngô đồng, cần đàn dài gắn khoảng mười phím tre. Đàn có ba dây, dưới bàn tay nghệ sĩ nhấn nhá, lẫy rung, lia vẩy… phát ra nhiều sắc âm khác nhau. Trống chầu dùng trong ca trù cũng khác với các trống. Dùi trống bằng gỗ gọi là roi chầu, người đánh trống gọi là quan viên am hiểu thấu đáo trống giục, trống chầu và các bài biến hóa khác.

Những buổi diễn ở cửa đình ngày xưa thường từ canh tối đến gần sáng gồm hát, đàn, trống, múa… với trình tự: trống rước, tấu nhạc, hát giai, dâng hương, thét nhạc, cung Bắc, gửi thư, dồn đại thạch, luồn vói, hãm… Đan xen còn có trò rối cạn, cắn lưỡi cày, thổi lửa… Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành giáo phường, có quy chế truyền nghề, học đàn học hát, có các lễ như lễ mở xiêm áo (mặc áo đào nương chính thức ra mắt biểu diễn lần đầu), có tiêu chuẩn chọn đào nương và tổ chức các cuộc thi hát mở rộng. So với cải lương, ca trù ít đổi mới thích ứng khi xã hội phát triển, đang bị mai một và cần được bảo tồn.

Hồ sơ về ca trù được Hội đồng âm nhạc UNESCO nhận định biểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện ý thức về bản sắc và sự kế tục nghệ thuật; có tính sáng tạo, chuyển giao nhiều thế hệ thông qua các giáo phường với sức sống riêng; ca trù cần được bảo vệ và khôi phục khẩn cấp, nâng cao nhận thức giá trị, mở rộng đối tượng khán giả, hỗ trợ các nghệ nhân truyền dạy và khuyến khích lớp trẻ có năng khiếu và yêu thích học hỏi để tiếp nối; ca trù cũng được đề cử từ các cơ quan chức năng đến cộng đồng dân cư một cách đồng thuận, tự nguyện và có hiểu biết đầy đủ [17].

Mộc bản triều Nguyễn và bia đá Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Mộc bản triều Nguyễn khắc ngược trên bản gỗ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm (để in sách), là dạng tài liệu gốc về chính sử do các quan văn và nhà viết sử triều Nguyễn biên soạn từ năm 1697 đến 1945. Hiện nay, cả nước còn lưu giữ gần 35.000 mộc bản, mỗi bản duy nhất còn một, có thể in ra trên 150 tác phẩm, nội dung phản ánh đa dạng: 836 quyển ghi chép lịch sử bắt đầu từ thời Hùng Vương, 20 quyển về kiến thức địa lý Việt Nam, 16 quyển phản ánh sách lược các triều đại phong kiến, 151 quyển phản ánh việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy, 500 quyển ghi chép điển chế và pháp luật triều Nguyễn, 93 quyển ghi nhận các cử nhân, tiến sĩ triều Nguyễn, 22 quyển nghiên cứu Nho giáo, 265 quyển sưu tầm tác phẩm thơ văn nổi tiếng cả nước, 50 quyển giải nghĩa luận ngữ… Một trong những nội dung quan trọng là mộc bản đã khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Các mộc bản của tác phẩm “Đại Nam thực lục tiền biên” qua dịch thuật phản ánh Vạn lý Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi với hơn 130 bãi cát cùng nhiều giếng nước ngọt, ba ba, đồi mồi, ốc hoa, hải sâm, vích… Triều Nguyễn cũng từng lập ra đội Hoàng Sa gồm 70 người, ra đảo từ tháng Ba đến tháng Tám ÂL hàng năm tìm kiếm sản vật.

Theo một số nghiên cứu thì năm 1820, vua Minh Mạng thành lập Quốc sử Quán, làm nơi đầu tiên khắc chế mộc bản. Năm 1849, vua Tự Đức cho xây Tàng bản Đường lưu trữ mộc bản. Nhiều triều vua tiếp theo luôn quan tâm việc tàng thư. Quốc Tử Giám tại Hà Nội cũng từng là nơi tiếp giữ và trung chuyển mộc bản về Huế. Đây là kho tàng vô giá trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại. Các mộc bản còn có giá trị lớn về mặt nghệ thuật chữ viết, chạm khắc tinh xảo. Gỗ dùng khắc mộc bản lấy từ cây nha đồng, lê, táo, lồng mức có thớ mềm, mịn, trắng sáng. Mộc bản khẳng định một trong những công lao lớn của triều Nguyễn đối với dân tộc là đã ý thức và chú trọng việc sưu tầm, tổng hợp, ghi lại lịch sử nước nhà các thời kỳ và lĩnh vực bằng văn bản chính thức.

Văn Miếu là khu di tích được bao bọc bằng tường xây gạch Bát Tràng, bên trong chia thành năm khu vực tính từ cổng chính: Văn Miếu Môn có đôi rồng đá thời Lê Sơ hai bên lối vào, Đại Trung Môn gồm có hai cổng mang tên Thành Đức – Đại Tài và Khuê Văn Các cũng có hai cổng có tên là Súc Văn – Bí Văn, Đại Thành Môn có giếng Thiền Môn ở giữa và hai dãy gồm tám ngôi nhà đặt 82 bia đá ghi danh những nhân tài đỗ đạt, khu thứ tư là sân rộng cũng bố trí hai căn nhà tả vu và hữu vu, cuối cùng là nhà Đại bái kiến trúc đẹp và lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm.

Bia đá tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám là chứng tích và kết quả của 82 kỳ thi tiến sĩ thời Lê – Mạc. Tấm bia đầu tiên dựng vào năm 1442, do Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám Thân Nhân Trung ghi lên đó một bài ký. Cùng với quan điểm xem người có tài là “nguyên khí” của quốc gia dân tộc, bài ký còn nêu mục đích: “Việc dựng bia đá là cốt để làm cho thịnh ý mưu trị cầu hiền của các bậc thánh đế thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là phép lớn để rèn giũa người đời và là điều rất may cho Nho học”. Bia năm 1448 chỉ ra nhiệm vụ trước tiên “phải có đào tạo sau mới có nhân tài”. Bia các năm về sau cùng với nhắc lại quan điểm “nguyên khí quốc gia”, còn đề cập nhiệm vụ “phải vun trồng, bồi dưỡng nhân tài”. Tấm bia cuối cùng dựng năm 1780; từ tấm đầu tiên đến lúc này, việc vinh danh nhân tài đỗ đạt đã diễn ra hơn 300 năm.

Điều đặc biệt là trên mỗi bia trong 82 bia tiến sĩ đều có những bài ký bằng chữ Hán ghi lịch sử các khoa thi và quan điểm của các triều vua về giáo dục, sử dụng nhân tài. Hầu hết chữ nghĩa bút tích là của các danh nhân văn hóa, nhà trí thức lớn từng thời kỳ. Đây là những bản gốc duy nhất được thi công và lưu giữ đầy đủ. Cả khuôn viên vườn bia cũng được giữ gần như nguyên vẹn, là cơ sở quan trọng tra cứu tìm hiểu lịch sử. Bia đều có hình dạng dẹp, vòm cong, đặt trên một đế đá hình con rùa khắc chạm to khỏe chắc chắn, thư pháp chữ viết và hoa văn trang trí mang tính tinh tế, tài hoa và giá trị thẩm mỹ cao. Cả mộc bản triều Nguyễn và bia đá Văn Miếu – Quốc Tử Giám không những là tài sản tình thần quý báu của dân tộc mà hòan toàn xứng đáng là di sản của nhân loại [18].

****

Tóm lại, nhìn cả quá trình lịch sử, ở giai đoạn lập quốc có Nhà nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương và Nhà nước Văn Lang do 18 đời vua Hùng khởi nghiệp. Thời kỳ Bắc thuộc có 8 vị anh hùng xưng vương, trong đó An Dương Vương và Lý Nam Đế đã xây kinh đô và đặt quốc hiệu riêng. Ở giai đoạn đất nước độc lập tự chủ, không kể những ấu chúa được truyền ngôi trên danh nghĩa và ngay sau đó phải rời ngôi, có 71 vị vua đã thay nhau trên một ngai vàng. Thậm chí có thời điểm một nước ba vua, còn thêm hai chúa! Vua Lê Thần Tông hai lần trị vì đến 38 năm. Vua Dục Đức triều Nguyễn chỉ ngồi trên ngai vàng ba ngày. Có triều đại kéo dài 215 năm với chín đời vua như nhà Lý, nhưng cũng có triều đại chỉ tồn tại trong bảy năm với hai đời vua như nhà Hồ.

Những lần đổi tên nước và dời đô: thời 18 vua Hùng, Nhà nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu; năm 208 TCN, Nhà nước Âu Lạc do An Dương Vương sáng lập đóng đô ở Hoa Lư; năm 40 hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh; năm 544, Nhà nước Vạn Xuân do Lý Bí sáng lập đóng đô ở Long Biên; thời Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đóng đô ở Đại La; thời Ngô Vương đóng đô ở Cổ Loa; năm 968, Nhà nước Đại Cồ Việt do Đinh Tiên Hoàng sáng lập đóng đô ở Hoa Lư; năm 1054, Nhà nước Đại Việt do Lý Công Uẩn sáng lập đóng đô ở Thăng Long. Năm 1400, Nhà nước Đại Ngu (“Ngu” tiếng cổ có nghĩa là sự thanh bình, an vui) do Hồ Quý Ly sáng lập, kinh đô Tây Đô ở Thanh Hóa. Năm 1428, Nhà nước Đại Việt do Lê Lợi sáng lập đóng đô ở Thăng Long; năm 1802, Nhà nước Việt Nam do Nguyễn Ánh sáng lập, kinh đô Phú Xuân ở Huế. Theo sử sách, “Việt” xác định chủ thể là người Việt và “Nam” xác định không gian địa lý ở phía Nam. Khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đề nghị nhà Thanh sắc phong quốc hiệu là Nam Việt, nhưng do trùng với một địa danh đã có nên đổi thành tên Việt Nam. Tuy nhiên, hai từ “Việt Nam” lại xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIV trong một số thư tịch cổ. Tập “Trình tiên sinh Quốc ngữ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng câu: “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Năm 1820, Nhà nước Đại Nam do vua Minh Mệnh đặt tên nhưng ít được dùng đến, và chấm dứt trước khi Pháp chia nước ta thành ba kỳ. Trong quá trình đô hộ và xâm lược, các triều đại Trung Hoa thường gọi tên nước ta là “xứ An Nam” với hy vọng bộ máy cai trị của họ được an lành ở vùng đất phía Nam, cùng với nhiều lần thiết lập và tách nhập các đơn vị hành chính.

Nổi bật nhất là tinh thần yêu nước, quyết tâm gìn giữ, mở mang bờ cõi và ý thức độc lập tự chủ của các triều vua và các thế hệ cha ông. Bắt đầu từ yếu tố tộc người, việc liên kết đã hình thành dân tộc theo nghĩa rộng trên một lãnh thổ. Lãnh thổ ấy được Nhà nước quân chủ từ trung ương đến địa phương ra sức thống nhất quản lý, ý thức chủ quyền quốc gia ngày càng được củng cố. Lịch sử với ý niệm ban đầu đơn giản là những mốc thời gian – sự việc, về sau càng phong phú các lĩnh vực kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục, đối nội, đối ngoại cùng hàng loạt hệ giá trị khác với biết bao thăng trầm, chìm nổi ẩn hiện… Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các triều đại đã thay nhau bằng các giai đoạn hưng thịnh và suy tàn, đưa đất nước đi lên. Đến trước khi bước vào giai đoạn cận đại, tiền nhân đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, bàn giao lại cho thế hệ sau đất nước liền một dải, dân tộc chung một nhà, tên gọi Việt Nam trở thành niềm tự hào trong mỗi người dân và nêu cao tinh thần tự chủ.

Với chế độ phong kiến, dĩ nhiên không tránh khỏi có một số đánh giá chưa công bằng do ý thức hệ hình thành những quan niệm và tiêu chí mang dấu ấn thời kỳ. Nhưng đáng kính trọng là các nhà chép sử đã rất công bằng và trung thực khi phản ánh sự kiện, không gian, thời gian, nhân vật… Hầu như không hề có hiện tượng chủ quan làm méo mó, cắt xén lịch sử. Ngòi bút của các sĩ phu yêu nước và cả cách truyền miệng của nhân dân không bị một thế lực nào bẻ cong khuynh loát. Vì thế mà người xưa mới thờ cây bút bằng cách dựng một ngọn tháp gọi là Tháp Bút giữa Thăng Long để “tả thanh thiên”: viết lên trời xanh thì không thể viết trắng thành đen và ngược lại. Dù nhiều văn bia và tài liệu sách quý đã mất, ngày nay chúng ta vẫn có gần như đầy đủ: từ vị vua anh minh đến vua suy đồi, từ các bậc nhân tài đến gian thần, từ các thời kỳ cực thịnh thái bình đến thời suy đồi loạn lạc, từ những nhân vật có công đến người có tội, có cả công – tội ở một nhân vật… Chu Văn An thời nhà Trần từng nêu chính kiến khi cầm bút: “Người thức giả phải nói lên sự thật cốt sao cho dân được ấm no, thiên hạ được thái bình, triều đình được vững mạnh”. Nhờ đó mà lịch sử hầu hết là những phản ánh sự thật.

Và làm nên lịch sử không chỉ có các triều vua, đất nước không phải là sở hữu riêng của tập quyền phong kiến. Quan trọng nhất vẫn là toàn dân đã làm nên lịch sử, cả dân tộc là chủ nhân:

“Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết,

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm nên đất nước

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh giặc

Để đất nước là đất nước của nhân dân

Đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại”

(Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)

Thực tế diễn ra và được lưu truyền cho thấy lịch sử không phải là bảng tổng kết hay báo cáo điểm tô riêng triều đại hay phủ chúa, càng không mang dấu ấn chủ ý cá nhân chiếu sáng chỗ này và che lấp hay tạo góc khuất chỗ khác… Kể cả các triều vua cũng chỉ để lại những nhân vật và sự kiện nằm trong chuỗi dài liên tiếp các chặng đường. Cho nên đoạn thơ trên là phát hiện lịch sử về “đất nước của nhân dân”, nhân dân làm nên lịch sử.

Ngày nay, có một số sự kiện, nhân vật, không gian và thời gian thất truyền, chưa được sưu tầm đầy đủ, còn bị đánh giá dưới những lăng kính khác nhau. Cho nên, mục đích của việc học và nghiên cứu lịch sử dân tộc là tìm kiếm, chứng minh và trả lại những giá trị chân thực. Cần xem lịch sử là tài sản chung để các thế hệ soi vào, tìm những bài học, hướng đi cho dân tộc ở thời kỳ đương đại, và cả mai sau. Từ đó, chúng ta mới có thể tiếp cận sự thật, tìm thấy sự đồng thuận trên chặng đường tiếp theo, chấp nhận cùng đi trên con đường như cha ông đã trải qua một quá trình dài.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong sách. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s