CHẶNG ĐƯỜNG HIỆN TẠI VÀ TRIỂN HƯỚNG TƯƠNG LAI

Những vấn đề đối mặt

Về những vấn đề đối mặt nêu ra dưới đây, công luận khách quan và những người đối lập với đường lối Đảng Cộng sản cho rằng thực trạng xuất phát từ độc tài chuyên chế, trục lợi, bè nhóm… Cán bộ đảng viên ủng hộ Đảng Cộng sản cho rằng đó là hậu quả của chiến tranh, của bao vây cấm vận, đây đó còn thiếu kinh nghiệm quản lý cùng với cơ chế điều hành yếu kém… Dù muốn hay không, Đảng và Nhà nước Việt Nam phải trả lời bằng sự thật, không thể che giấu và đổ lỗi mãi, càng không thể không chấp nhận do chủ quan lãnh đạo.

Tham nhũng, lạm quyền

Trung ương Đảng từng xây dựng đề án đấu tranh chống tham nhũng, các tỉnh đều lập ra cơ quan phòng chống tham nhũng. Mười nhóm tham nhũng hàng đầu được xác định ở Việt Nam là: địa chính – nhà đất, hải quan, cảnh sát giao thông, tài chính – thuế, xây dựng, cơ quan cấp phép xây dựng, y tế, kế hoạch đầu tư, quản lý giao thông, cảnh sát kinh tế. Đó là chưa kể các hợp đồng quốc phòng, ký kết khai thác tài nguyên quốc gia, biển thủ trong các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, việc phòng chống trong thời gian dài cho thấy hiệu quả không cao, tham nhũng ngày càng diễn ra phức tạp và tinh vi.

Năm 1997 trong vụ Tamexco, Phạm Huy Phước và Ngô Văn Hổ khai hối lộ hàng chục nghìn USD cho các quan chức ngân hàng, Bộ Thương mại, Ủy ban nhân dân quận Tân Bình. Vụ Lẩu Lý Sáng trốn thuế 40 tỷ đồng cũng nhờ cán bộ kiểm hóa ngành hải quan Lê Văn Quang tiếp tay, thỏa thuận chia đôi số tiền. Vụ Minh Phụng – Epco nhờ dùng tiền “bôi trơn”, các công ty con được vay trên 3.000 tỷ đồng từ ngân hàng nhà nước. Ở thời điểm kết thúc xét xử, số tiền và tài sản nợ thu hồi và hoàn trả cho các bên bị hại hơn 78 tỷ đồng, còn phải tiếp tục thu hơn 3.900 tỷ đồng. Trong lúc đó, Công ty Epco lại làm thủ tục phá sản!

Trong vụ Tân Trường Sanh, nguyên Trưởng phòng Điều tra chống buôn lậu thuộc Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh Phùng Long Thất dưới trướng “bố già” Trần Đàm, cùng hơn 70 người, trong đó 51 người là cán bộ đảng viên, bị buộc tội. Số tiền đã thu hồi hơn 21 tỷ đồng, xác định phải thu tiếp gần 920 tỷ đồng. Trần Đàm bị phạt tử hình và phải nộp trên 900 tỷ đồng, nhưng sau đó chuyển xuống tù chung thân. Công luận còn phản ánh trong lúc phiên tòa diễn ra cùng với lãnh đạo Tổng cục Hải quan phát biểu quyết tâm chấn chỉnh cán bộ thì chuyện nhận hối lộ vẫn “vô tư” diễn ra ở các cửa khẩu! Với hai vụ Minh Phụng – Epco và Tân Trường Sanh, số tiền không thể thu hồi lên đến 5.000 tỉ đồng.

Vụ Công ty tiếp thị thương mại nông nghiệp – công nghiệp thực phẩm với sai phạm kéo dài từ 1995 đến 2001 do bao che chưa từng có từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Giám đốc Lã Thị Kim Oanh chiếm đoạt và cố ý gây hại hơn 100 tỉ đồng. Bằng việc lập nhiều dự án và được duyệt bố trí ngân sách bởi các bộ ngành trung ương, công ty này đã dễ dàng vay tiền ở bốn ngân hàng nhà nước khác nhau. Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nguyễn Quang Hà đã ký bảy công văn xác nhận nhu cầu và bảo lãnh cho công ty vay ngân hàng mà không cần thẩm tra dự án. Vay xong, thay vì triển khai dự án, số tiền trên bị chiếm dụng tiêu xài và biếu xén. Hậu quả là công ty nợ gần 140 tỷ đồng cả gốc lẫn lãi. Nhiều lãnh đạo trung ương cũng nhận các khoản “lại quả”, “bôi trơn” rất lớn trong vụ này.

Năm 2003-2004, Thứ trưởng Bộ Thương Mại Lê Văn Dâu và Vụ phó Vụ xuất nhập khẩu thuộc Bộ Thương Mại Lê Văn Thắng đã ký các văn bản tạo ra tình trạng kinh doanh hạn ngạch phân bổ, tiếp nhận hồ sơ xin hạn ngạch và đòi lót tiền mới ký cấp hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ. Số tiền hai vị này đòi hối lộ từ các công ty hơn 24.000 USD, khi bị tố cáo phải nộp lại gần như toàn bộ tại cơ quan điều tra. Năm 2004, tại Tổng Công ty dầu khí Việt Nam, hơn 43 quan chức liên quan vụ tham nhũng bạc tỉ. Sự việc hình thành từ năm 1996, khi Phó Tổng Giám đốc phụ trách thương mại Vietsovpetro Dương Quốc Hà có tài sản: bốn căn nhà (trong đó 3 biệt thự) và sáu lô đất định cư diện tích lớn ở Vũng Tàu. Trong vụ khác, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao Lương Quốc Dũng có khối tài sản mà các cơ quan điều tra đánh giá trên 150 tỉ đồng. Năm sau, thêm vụ Giám đốc Cảng Hàng không miền Trung Nguyễn Lai xuất công quỹ mua hai chiếc xe cao cấp Mercedes và BMW. Khi bị điều tra, ông này đã tự tử.

Vào tháng 5-2004, một nhà báo lão thành từng công tác ở báo Nhân Dân trả lời cuộc phỏng vấn Đài RFA, cho biết có nhận được từ trong nước bản sao bức thư của nguyên Trung tướng Đặng Quốc Bảo gửi Bộ Chính trị tố cáo Chủ tịch nước sở hữu 5 khách sạn cao cấp, 6 ha đất ở khu du lịch Đồng Mô và Hà Tây, 2000 m2 đất ở khu du lịch Tuần Châu, Quảng Ninh, hàng triệu USD tiền mặt gửi ngân hàng nước ngoài, nâng cấp nhà riêng hết 3 tỉ đồng.

Bộ Chính trị đã mở cuộc họp nội bộ, sau khi nghe chất vấn về sự chênh lệch vô lý và khuất tất đến mức không thể chấp nhận được giữa khả năng thu nhập và thực tế những khối tài sản khổng lồ, Chủ tịch nước cười và nói: “Đảng ta khuyến khích đảng viên làm kinh tế, tôi cũng muốn trước khi về hưu, kiếm lấy một chút làm vốn cho vợ con sau này”. Cũng lúc này, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Minh Triết trong buổi nói chuyện đã công khai trước nhiều người rằng tham nhũng ở Việt Nam đang trong tình trạng “dột từ trên nóc dột xuống”.

Trong cuốn sách có tựa đề: “Tools to support transparency in local governance” (Dịch là: Công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương), những tác giả cộng tác với Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đưa ra định nghĩa được công nhận và sử dụng rộng rãi: “Tham nhũng là lạm dụng chức vụ cho lợi ích riêng. Chức vụ là một vị trí công tác dựa trên cơ sở niềm tin, mà từ đó một người được nhận một thẩm quyền hành động nhân danh một định chế nào đó”. Các nước với các cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập căn cứ định nghĩa này nhận diện và truy ra tham nhũng. Trong khi ở Việt Nam lại bắt kê khai hoặc tìm các khối tài sản lớn, một biện pháp không khó để đối phó. Vì sao Nhà nước Việt Nam đã ký Công ước chống tham nhũng cuối năm 2003, nhưng năm 2009 mới phê chuẩn? Sáu năm đó xem như Việt Nam chưa chính thức cam kết tuân theo luật pháp quốc tế. Sáu năm làm cho bao nhiêu tài sản tham nhũng chuyển sang người thân đứng tên hay gửi ra ngân hàng nước ngoài, bao nhiêu vụ nhận hối lộ các dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, bao nhiêu vốn vay sử dụng sai mục đích và đối tượng? Tất cả được kịp thời “tiêu hóa” do chủ trương trong nước chỉ lo chống “phần ngọn” và nỗ lực hợp tác quốc tế chỉ ra tham nhũng cũng bị “cản đường”. Sáu năm để thực hiện hai động thái từ ký đến phê chuẩn chắc chắn là có khuất tất trong hàng ngũ lãnh đạo.

Cũng trong thời gian ấy, năm 2005 Việt Nam ban hành Luật phòng chống tham nhũng trong nước, nội dung tiến bộ và gần như đầy đủ so với Công ước quốc tế. Nhưng luật đã được thực thi như thế nào? Ông Jairo Acuna Alfaro, cố vấn LHQ về chính sách cải cách hành chính và chống tham nhũng tại Việt Nam cho biết trong khi LHQ đề nghị phải khởi động Công ước bằng “Lộ trình minh bạch” thì Việt Nam thực hiện bằng phương thức “Văn hóa bí mật” với biểu hiện rất khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính xác về các lĩnh vực công. Trong khi TI xác định quy luật hoạt động tham nhũng qua công thức: “Tham nhũng = Độc quyền + Bưng bít thông tin – Trách nhiệm giải trình” (Corruption = Monopoly + Discretion – Accountability) thì ở Việt Nam “Văn hóa bí mật” đã dung dưỡng, che giấu, cộng thêm thật nhiều hai yếu tố đầu qua việc xem tham nhũng là chuyện xử lý nội bộ, giảm đi gần đến zero yếu tố thứ ba qua việc chưa thấy cơ quan, đơn vị, tập đoàn kinh tế nào phải giải trình công khai ngân sách trong điều kiện Việt Nam cũng chưa có Luật về quyền được tiếp cận thông tin.

Dịp ban hành Luật phòng chống tham nhũng, trong cuộc trao đổi với phóng viên báo Tuổi trẻ, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đề nghị các cơ quan phòng chống tham nhũng trước hết phải nhìn lại chính mình trong “cuộc đấu tranh quyết liệt” này. Ông đặt câu hỏi: ai ăn hối lộ, chẳng lẽ người ta đi hối lộ dân thường? Người nhận hối lộ là người có chức quyền, trong khi tổ chức chống tham nhũng có quyền giám sát hẳn hoi lại không tôn trọng và không dựa vào dân nên chống tham nhũng không thể hiệu quả, ngày càng đan xen đa chiều, nối chặt giữa các cấp. Vì thế mà sau thời gian dài xem tham nhũng là quốc nạn và đẩy mạnh phòng chống, đến nay vẫn cứ là quốc nạn! Theo ông, để xóa bỏ tình trạng dân chủ hình thức bao che, cần “tôn trọng dân và phải có cơ chế đảm bảo cho dân giám sát”. Tuy nhiên, sau khi hồi hưu, dinh cơ sang trọng nhiều tầng và trang trí nội thất đắt tiền bên trong của cựu Tổng Bí thư lại là sự kiện bị chỉ trích trên báo chí tự do. Với nghịch lý giữa nói và làm trong trường hợp này, còn ai có thể tin ai trong công cuộc phòng chống tham nhũng?

Theo số liệu từ tạp chí Cảnh sát Nhân dân, từ năm 1993 đến 2005, cả nước đã khởi tố điều tra 6.763 vụ, gần 14.000 tội phạm kinh tế, trong đó có 2.029 vụ với trên 4.000 người phạm tội tham nhũng, tham ô có 2.709 vụ, thiệt hại trên 9 tỷ đồng; cố ý làm trái có gần 4.000 vụ, thiệt hại 3.709 tỉ đồng; lạm dụng tín nhiệm có 1.640 vụ, thiệt hại 1.831 tỉ đồng; hối lộ có 178 vụ với tài sản nhận 12 tỉ đồng. Một tạp chí khác của Đảng Cộng sản có bài viết nhận xét tội phạm tham nhũng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại về tiền của càng lớn. Số vi phạm có chức vụ từ đảng viên thường, đến cán bộ cao cấp càng nhiều, phạm vi đối tượng càng rộng. Tham nhũng từ các cơ quan kinh tế lan vào hệ thống quản lý nhà nước, bảo vệ pháp luật, kể cả cơ quan đảng. Tham nhũng không còn đơn lẻ, cá biệt mà có sự tham gia của nhiều người, nhiều ngành, nhiều cấp; hình thành các đường dây. Hậu quả về kinh tế từ tham nhũng đã rõ, nhưng hậu quả về tinh thần xã hội, nhất là niềm tin của nhân dân giảm sút, không thể đo đếm được.

Ông Trần Văn Thanh là lãnh đạo Công an Thành phố Đà Nẵng điều tra và lập hồ sơ tố cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh tham ô hàng chục tỷ đồng. Ông Thanh ngay sau đó “được chuyển công tác” ra Bộ Công an mà thực ra là “điệu hổ ly sơn”. Nhưng ông vẫn kiên quyết tố cáo. Trong khi nhân dân không được công khai cho biết hồ sơ nội dung gì thì ông bị quy tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xúi giục khiếu nại tố cáo. Khi tòa triệu tập, ông phải có mặt trong tình trạng hôn mê nằm trên xe đẩy! Người dân theo dõi vụ án thiếu thông tin, bị cơ quan pháp luật bao che. Cả luật sư Cù Huy Hà Vũ nhận lời bào chữa cũng thất vọng vì tòa án cố tình kéo dài trả lời, gần ngày xét xử thì từ chối hẳn.

Luật sư Hà Vũ cho rằng việc triệu tập bị cáo đang hôn mê đến tòa là một “hành động vô cùng tàn bạo và man rợ, một phiên tòa chưa từng có trong lịch sử thế giới”. Ông đề nghị cách chức và truy tố chánh án Nguyễn Văn Quận về “tội làm nhục người khác”“tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật”. Nhưng chỉ thấy ông Quận im lặng chuyển công tác. Ông cho rằng đây là phiên tòa “mang hàm ý đe dọa người dân, đe dọa những người chống tham nhũng… được tạo nên nhằm tiêu diệt tướng Thanh”. Còn nhân dân khẳng định: không thể một vị tướng ngành công an không có bằng chứng trong tay mà dám kết tội, đồng thời Nguyễn Bá Thanh không thể không được bao che từ cấp cao. Rõ ràng, pháp luật trở thành vũ lực trong tay bè phái mạnh hơn, hành xử theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”. Các “đồng chí” với nhau còn xử sự như thế, nói gì đến thân phận dân oan hay người ngoài đảng dám đứng ra tố cáo?

Trong vụ PMU.18, quá trình xét xử liên tục “đảo chiều”. Thứ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải Nguyễn Việt Tiến với tài sản: hai biệt thự tại khu đô thị cao cấp Ciputra và khu Trung Hòa – Nhân Chính, hai lô đất 600 m2 ở Tây Hồ, các trang trại và đất làm khách sạn ở Chí Linh, Hải Dương… Riêng với dự án mở rộng cảng Cái Lân, ông làm “thất thoát” 6 tỷ đồng. Vị này bị giam tháng 4-2006 để điều tra việc cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Còn có tình tiết: Phạm Tiến Dũng giúp Tổng Giám đốc Bùi Tiến Dũng xây nhà mà không lấy chi phí 600 triệu đồng. Trên đời bỗng dưng có ai tốt đến thế! Nhưng theo Viện kiểm sát tối cao, việc này do cấp dưới tự nguyện “trả hộ” nên không cấu thành tội đưa – nhận hối lộ. Một người không hiểu nhiều về pháp luật cũng có thể khẳng định ngay kết luận trên thiếu trách nhiệm, đồng lõa, bao che tham nhũng. Lại thêm Bùi Thu Hạnh là em gái Bùi Tiến Dũng, bị truy tố về tội lập hợp đồng thuê xe, thuê trụ sở khống khi triển khai dự án nâng cấp Quốc lộ 18. Biển thủ tiền công: Vũ Mạnh Tiên, Lê Thanh Hòa, Nguyễn Thanh Sơn, Bùi Thu Hạnh chiếm đoạt tổng cộng gần 150 tỉ đồng.

Về Nguyễn Việt Tiến, sau 18 tháng tạm giam, Viện kiểm sát tối cao cho tại ngoại, đình chỉ điều tra và rút truy tố tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả, đề nghị phục hồi các quyền và lợi ích cá nhân. Sở dĩ có bước lùi này là do Bộ Giao thông – Vận tải có văn bản đề nghị chỉ nên xử lý hành chính, mà trên nữa còn có ai “ấn nút điều khiển” thì báo chí đã bàn tán sôi nổi. Vụ án như thách thức dư luận, từ tội trạng “đầu voi”, đến tuyên phạt chỉ còn “đuôi chuột”. Tổng Giám đốc Bùi Tiến Dũng chỉ phạm tội “cố ý làm trái”: để các đơn vị cấp dưới “mượn” bảy xe ô tô sử dụng sai mục đích, gây thiệt hại 2,6 tỷ đồng. Nguyễn Việt Tiến không những “trắng án” mà còn được khôi phục tư cách đảng viên, sau đó mới bị kỷ luật trong Đảng và bị cách chức trong cơ quan công tác.

Ngược lại, những người đấu tranh đưa Nguyễn Việt Tiến ra công lý và thông tin tình hình vụ án lại bị kết tội: Cục trưởng Cục Cảnh sát C.14 Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc và cấp dưới bị quy tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, nhiều phóng viên và ban biên tập các báo Thanh niên, Tuổi trẻ… bị kết tội “trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng các tin bài về vụ PMU 18, trong đó có những thông tin sai sự thật nghiêm trọng”.

Một cuộc điều tra xã hội học nêu câu hỏi đối với cán bộ: nếu có người đưa hối lộ thì ông (bà) xử lý sao? Trả lời: 47% nhận hoặc lưỡng lự (trong đó 6,4% nhận ngay vì là “chuyện thường tình”), 26,2% nhận hay không tùy trường hợp, 14,2% khó trả lời. Để nhanh việc giấy tờ, các doanh nghiệp phải chi ra từ 1-10% thu nhập. Viện nghiên cứu phát triển (IDS) trước đây có tổ chức buổi tọa đàm chống tham nhũng. Theo nhiều ý kiến, nguyên nhân của tham nhũng là do tiền lương và thu nhập của công chức cán bộ bất hợp lý, việc bố trí cán bộ vào khâu trọng yếu còn theo yêu cầu từ tổ chức dẫn đến “đi cửa sau”.

Theo giáo sư Hoàng Tụy, quan trọng nhất vẫn là thanh toán còn phổ biến bằng tiền mặt: “Đáng lẽ từng đồng xu từ ngân sách đều phải thông qua tài khoản, ngân hàng, đều để lại dấu vết thì sẽ ngăn chặn được rất nhiều”. Vì thế, chống tham nhũng dù được hô hào quyết liệt nhưng không chuyển biến tình hình. Giữa năm 2008, dự án nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng do một tổ chức nước ngoài phối hợp với Ban Dân chủ và Pháp luật thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được triển khai. Dự án nhằm đánh giá ba năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng và tìm giải pháp hiệu quả.

Kết quả phỏng vấn hàng nghìn người dân, cán bộ chính quyền và đoàn thể ở chín tỉnh cho thấy chân tướng tham nhũng. Tham nhũng phổ biến trong xã hội, có tính hệ thống, ăn sâu nhiều tầng bậc. Cụ thể, công chức chưa coi vị trí công tác là phục vụ hưởng lương mà chọn vị trí đảm bảo có thu nhập ngoài lương. Trước đây, tham nhũng được cho là sự tha hóa của một số cán bộ, rồi do lương thấp, quản lý không chặt… Nhưng lần này nguyên nhân bao trùm: thể chế pháp lý bảo vệ bao che cho quan chức nhà nước, lạm dụng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cho phép cấp huyện và tỉnh được thu hồi và cấp đất, quyền thỏa thuận giá đền bù cho nhân dân thuộc về chính quyền, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước chạy vạy lo lót trục lợi…

Một cán bộ mặt trận ở Đà Nẵng cho rằng tham nhũng có tính hệ thống: liên kết ngang cùng cấp, liên kết dọc cấp trên và dưới, cả liên kết chéo giữa các ngành. Nhận xét ấy không chỉ có trong nước, cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trao đổi với ông Võ Văn Kiệt cũng từng cho rằng: “Tham nhũng của các ngài đã trở thành một căn bệnh cấu trúc hóa vào trong hệ thống”. Hệ thống ấy bắt đầu ngay ở khâu các cơ quan tổ chức cán bộ đảng và nhà nước chìm ẩn hiện tượng chạy chức chạy quyền. Về quản lý đất đai, một cán bộ lão thành ở Thái Bình cho rằng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang tiến hành “trên lưng người nông dân”. Một lãnh đạo cao cấp ngành công an cho rằng việc xét cấp đất dễ như cấp mớ rau, con cá để nhận những khoản “lại quả”.

Dự án cũng cho thấy cơ chế xin – cho thời bao cấp vẫn tồn tại, là nguyên nhân của tham nhũng: xin nhận dự án, đấu thầu công trình, mở bệnh viện tư, trường đại học, xin đất xây dựng… Về khu vực kinh tế quốc doanh, các tập đoàn thuộc nhà nước được cấp vốn và được vay, thua lỗ được xóa nợ… Ban quản lý tập đoàn là cán bộ đảng viên, dựa vào điều kiện có sẵn mở các công ty con, công ty cháu dựa vào điều kiện công lo làm giàu riêng. Hiện tượng này tương tự các xí nghiệp quốc doanh loại bỏ kế hoạch 1 do nhà nước giao chỉ tiêu để vun vén riêng bằng kế hoạch 2, 3 trước thời đổi mới, riêng quy mô và tác hại còn lớn hơn nhiều lần. Không phải bây giờ người ta mới nhận ra điều này, ngay từ năm 1995 tướng Trần Độ đã bác bỏ chủ trương bảo vệ các đơn vị kinh tế quốc doanh. Ông chất vấn: tại sao luôn ưu tiên nhấn mạnh kinh tế quốc doanh là chủ đạo, trong khi ai cũng biết đó là khu vực kém hiệu quả nhất và là “ổ tham nhũng” lớn nhất? Hơn 15 năm trôi qua, “ổ tham nhũng” ấy không được cải tổ và công khai, vì bên trong vẫn tồn tại việc thâu tóm lợi ích quốc gia.

Theo Hà Sĩ Phu, về cuối đời ông Phạm Văn Đồng tâm sự: “Cả đời làm Thủ tướng, tham nhũng như rươi mà tôi chưa cách chức được một cán bộ nào! Hiện nay ta chống tham nhũng nhưng cũng chỉ chống được từ vai trở xuống thôi!”. Tháng 11-2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp phóng viên báo Tuổi Trẻ bên lề kỳ họp quốc hội, đã có một phát biểu biết giữ mình trên chiếc ghế: “Hơn ba năm nay, tôi chưa kỷ luật ai”. Nhưng cũng ở thời điểm này, Đề án 112 [32] đang bị pháp luật xử lý. Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đình Thuần làm trưởng ban điều hành, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm tin học Văn phòng Chính phủ Lương Cao Sơn làm ủy viên thư ký, cùng 22 người bị truy tố tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn”.

Cụ thể, ban điều hành đề án đã thiếu minh bạch, làm thất thoát 4,7 tỷ đồng mua sắm trang bị. Ông Thuần đã ký hơn 100 hợp đồng bỏ qua nguyên tắc đấu thầu để các bên “lại quả” cho ban quản lý. Khoản thất thoát bị chia thành mười phần: hai phần làm quỹ nhưng không rõ quỹ gì, ba phần chuyển ông Thuần, năm phần còn lại vào tay ông Sơn và các cán bộ khác. ADB [33] đã quyết định dừng việc cho vay thực hiện đề án. Đây là nguồn không đầu tư trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất xã hội và vay còn phải trả nợ. Sự việc lại xảy ra ngay cơ quan chính phủ với nhiều cán bộ liên kết, ở thời điểm phát biểu trên.

Thử tưởng tượng trong thời gian dài, các lãnh đạo cấp cao không cách chức một ai, vết dầu loang của tham nhũng đã lan rộng biết chừng nào. Phát biểu “dĩ hòa vi quý” ấy biểu hiện thỏa hiệp với cái xấu và cái ác, thiếu chức nghiệp lẫn đức nghiệp! Ngay từ năm 1929, Phạm Quỳnh – một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn – trong một bài tiểu luận bằng tiếng Pháp, đã đề cập về xu hướng chính trị giả dối của phương Tây. Ông nói về nền chính trị thực dân mà soi vào quốc nạn tham nhũng trong Chính phủ Việt Nam ngày nay không gì khác: “Đó là thứ chính trị được hiểu là một sự khai thác các dục vọng tầm thường, nhanh chóng trở thành một nền công nghiệp trong tay những kẻ sống nhờ vào đó, coi đó là nghiệp sống, và người ta gọi bọn họ là các chính trị gia… Lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, lòng ái quốc, sự hòa hợp xã hội, đó là những lời lẽ được dùng để biện hộ cho sự buông thả mọi loại dục vọng và mọi thói ích kỷ”.

Gần đây, Nhật Bản chuyển đến cơ quan điều tra ở Việt Nam hồ sơ vụ Công ty tư vấn quốc tế PCI khai hối lộ hơn 2 triệu USD cho ông Huỳnh Ngọc Sĩ – Giám đốc quản lý Dự án xây dựng đại lộ Đông – Tây Sài Gòn. Cảnh sát Đức phát hiện một lượng tiền mặt rất lớn của một cá nhân từ Việt Nam chuyển vào Ngân hàng Thụy Sĩ. Cảnh sát Úc điều tra Công ty Securency chuyển hơn 12 triệu USD hối lộ cho các quan chức cao cấp Việt Nam liên quan đến dự án in tiền polymer. Giới lãnh đạo Công ty xuất khẩu Nexus Technologies Inc chuyên tìm đối tác ở Hoa Kỳ đấu thầu các dự án của Chính phủ Việt Nam đặt mua hệ thống và thiết bị kỹ thuật chuyên dụng quân sự khai trước Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ việc hối lộ các quan chức Việt Nam từ năm 1999 đến 2008 hơn 250.000 USD để chen chân vào các hợp đồng. Hối lộ không những lan tràn trong nước, nay còn xuyên quốc gia và tính bằng USD.

Những thực tế trên là cơ sở để Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) xếp hạng “Chỉ số cảm nhận tham nhũng” (CPI) với kết quả sau: năm 1997 (lần đầu Việt Nam có mặt trong bảng) với 2,79 điểm/10 ở hạng 43/54, năm 2004 với 2,6 điểm/10 ở hạng 102/145 (ngang nhau với Philippines, Uganda, Zambia), năm 2009 ở hạng 120/180 quốc gia. Chỉ số xếp căn cứ từ kết quả của 10 viện nghiên cứu độc lập, có cả các tổ chức quốc tế và WB [34]. Chúng ta nghĩ gì khi trong cuộc tọa đàm chống tham nhũng tại Thái Lan, một giáo sư ở Đại học Thammasat đặt câu hỏi với đoàn Việt Nam: “Các bạn đã đánh bại những kẻ thù bên ngoài rất mạnh nhưng nay các bạn có đánh bại được kẻ thù tham nhũng không?” Một giáo sư người Nhật cũng nêu ý kiến: “Toàn bộ cơ cấu làm việc ở Việt Nam trong một ngày mà ngừng tham nhũng hoàn toàn, không tham nhũng hối lộ gì hết thì không làm việc được. Nó như dầu bôi trơn máy, nếu như tịt dầu đi thì máy cháy”. Chúng ta nghĩ gì khi tại hội nghị gặp mặt Việt kiều cuối năm 2009, Chủ tịch nước chỉ rõ đối tượng và nguyên nhân tham nhũng chính là các quan chức và lề lối quản lý lỏng lẻo của nó.

Trong phát biểu, người đứng đầu đất nước tự vạch ra ba vấn đề: từ nay các nước đánh giá tham nhũng chỉ nên nói đảng viên có chức quyền ở Việt Nam nhất thế giới; các giá trị con người của dân tộc vẫn tốt đẹp ngoại trừ con người đảng viên Đảng Cộng sản thoái hóa biến chất; nội dung pháp luật thì nghiêm nhưng không ai khác ngoài các cơ quan sử dụng công cụ pháp luật đã phá vỡ tính nghiêm minh ấy. Đúng ra, nếu Chủ tịch nước nói về việc xây dựng nhà nước với cơ chế minh bạch, điều hành xã hội bằng pháp luật và thông tin trung thực thì đã đón nhận nhiều tràng vỗ tay. Lý giải sa lầy lúng túng ấy cũng là tình trạng xử lý thiếu hiệu quả trong phòng chống tham nhũng hiện nay.

 

Môi trường và tài nguyên đang báo động

Ô nhiễm môi trường đã âm thầm diễn ra từ thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp với việc lạm dụng các loại thuốc trừ sâu, sau này là thuốc tăng trưởng và các hóa chất. Bước vào đổi mới, ô nhiễm công nghiệp diễn ra trên diện rộng. Khi nhà nước chủ trương cho các công ty và doanh nghiệp thuê đất từ 20 đến 50 năm mở nhà máy, khu chế xuất, lại còn được chọn những nơi “địa lợi” như gần các các trục lộ và nguồn nước tự nhiên, ô nhiễm nước, đất đai, không khí, tiếng ồn… càng có cơ hội lan tràn. Khi hậu quả đã rõ thì phải mất hàng chục năm sau mới xong khắc phục, trả lại môi trường trong lành.

Ở Sài Gòn, Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp kiểm tra 13 đơn vị sản xuất, có 11 đơn vị gây ô nhiễm nhiều năm. Các dòng sông và kênh rạch kênh cả nước như kênh Thị Nghè ở Sài Gòn, sông Tô Lịch ở Hà Nội từ lâu đã trở thành dòng nước đen nhiễm bẩn nặng nề. Trong vụ kiện Công ty Vedan ở Đồng Nai, nếu người dân không lên tiếng, chính quyền không những tiếp tục im lặng mặc cho sông ô nhiễm, mà còn tặng bằng khen cho Vedan với thành tích góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng! Cũng ở Đồng Nai, 47 doanh nghiệp bị ghi vào danh sách gây ô nhiễm môi trường, qua gần một năm kiểm tra lại chỉ có 5 doanh nghiệp đủ điều kiện rút tên ra khỏi danh sách.

Do quy định việc kiểm tra xử phạt ô nhiễm môi trường thuộc về cơ quan quản lý cấp tỉnh thành mà không trực tiếp tại địa phương, nên việc chấn chỉnh tình hình hết sức hạn chế. Mọi thứ thải bỏ, độc hại nhất là hóa chất, đều đưa vào nguồn nước tự nhiên, thấm xuống các mạch nước ngầm, con người khai thác sinh hoạt và ăn uống. Ở thành thị, người dân ra đường phải bịt kín khẩu trang nhằm tránh bụi công trình xây dựng, xe tải chở đất, các loại xe cũ xả khói. Các công trình điện – nước – cây xanh chưa bao giờ bắt tay nhau, dẫn đến sửa công trình này làm hỏng công trình nọ và ô nhiễm khu dân cư. Nạn đào đường dựng lên liên tục các “lô cốt”  giữa phố. Các khu quy hoạch treo kéo dài…

Khi nhận thấy tác hại, chủ trương dời khu công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi nội ô lại cũng chỉ là biện pháp trước mắt. Các khu công nghiệp ra bên ngoài càng dễ gây ô nhiễm rộng lớn, thải nuớc bẩn ra các sông mà hầu hết không qua hệ thống xử lý làm sạch. Trăm sông về biển, cụ thể Sài Gòn lại hứng chịu mặt trái của chủ trương này. Trong kỳ họp Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa năm 2009, một đại biểu kết tội: “Thành phố hành động chưa dứt khoát, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng, tỉnh Bình Dương vô trách nhiệm. Tôi phê phán lương tâm đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp khi đã làm giàu trên sự tàn tạ của bao nhiêu con người”.

Cả đồng bằng sông Cửu Long cũng trở thành vùng ô nhiễm rộng lớn khi hàng năm phải hứng chịu hơn 800.000 tấn chất thải, 150 triệu m3 nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Tại Cần Thơ, cấp độ ô nhiễm nguồn nước tự nhiên ở sông Hậu, rạch Sang Trắng (Ô Môn), rạch Bò Ót (Thốt Nốt)… đều đáng báo động. Về nuôi trồng thủy sản, do chạy theo lợi nhuận, nhiều ao đầm tự nhiên ven biển bị khoanh vùng, nguồn nước không lưu thông, phá vỡ thế cân bằng môi sinh hàng trăm năm mới có, nhiều sinh vật dần tuyệt chủng. Năm 1960, cả nước có 0,48% diện tích canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nay đã sử dụng ở 100% diện tích với trên 1.000 loại thuốc, mà hứng chịu nặng nhất là nông dân và nông sản từ những khu vực canh tác.

Nói đến đồng bằng sông Cửu Long, công luận hiện nay quan tâm việc Trung Quốc đang tiến hành xây dựng 8 nhà máy thủy điện công suất lớn, kiểm soát gần 20% lượng nước thượng nguồn. Bốn nước thành viên Ủy Hội sông Mekong (gọi tắt là MRC) gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam mặc dù phản đối Trung Quốc nhưng cũng hiện có 11 dự án xây đập thủy điện. Việc thi nhau chặn dòng chảy sẽ làm biến đổi môi sinh toàn bộ những vùng đất hai bờ con sông đi qua các quốc gia, quan trọng nhất là hạ nguồn.

Từ trước đến nay, 1/3 diện tích đồng bằng Nam bộ nhiễm mặn theo chế độ thủy triều tự nhiên. Với việc chắn giữ nguồn nước sông Mê Kông, vào mùa khô các thủy điện phải giữ nước, sẽ làm cho khoảng 50% diện tích ở phía Đông vựa lúa lớn nhất cả nước có nguy cơ bị nhiễm mặn do triều cường tiến sâu. Lượng phù sa, cá và các nguồn lợi thủy sản nước ngọt khai thác trong sông cũng sẽ giảm. Mùa mưa, khi thủy điện xả lũ cả đồng bằng lại có nguy cơ bị lũ lụt cục bộ nhấn chìm. Mùa nắng, diện tích đồng ruộng càng về phía Tây càng có nguy cơ bị thiếu nước, trở về hoang hóa. Tác hại thu nhỏ của việc thi nhau chặn dòng chảy sông Mê Kông trong tương lai hiện đã được nhìn thấy ở Việt Nam qua chủ trương xây các đập thủy điện khu vực miền Trung khi tiến hành xả lũ. Điều này cho thấy lợi ích của tập đoàn kinh tế bất chấp lợi ích toàn dân và môi trường sống nói chung.

Về chất thải công nghiệp, ước tính môi trường cả nước phải nhận 130.000 tấn/năm. Ngoài ra, còn có 7 triệu tấn chất thải rắn ở khu đô thị, 12.600 bệnh viện thải 21.000 tấn rác y tế. Trong khi việc khắc phục ô nhiễm môi trường gần như bị bỏ ngỏ, thì ngành văn hóa lại chủ trương phát triển du lịch sinh thái, tìm về thiên nhiên hoang dã những vùng còn trong lành. Vấn đề qua du lịch nhân rộng ý thức giữ cho môi trường vững bền chỉ là khẩu hiệu, thực tế lại tập trung cho kinh doanh, thu nhập! Thậm chí có nơi du lịch đến đâu, cảnh quan môi trường bị thải rác và phá nát đến đó.

Ô nhiễm còn từ bên ngoài nhập vào. Các tàu biển nhập rác thải công nghiệp để tái chế thu lợi, biến Việt Nam thành bãi rác lớn. Thứ nhất tại nghèo, thứ hai vì thiếu hiểu biết tác hại rác thải, thứ ba là thiếu nhận thức xây dựng môi trường phát triển vững bền. Mặt khác, chủ trương muốn giải quyết việc làm và thu nhập, rút ngắn tụt hậu bằng “đi tắt đón đầu” mở cửa mời gọi các cỗ máy công nghệ lạc hậu theo vào trong nước cũng gây ô nhiễm. Một nhà nghiên cứu môi trường đã nhận định: “Vừa phát triển nhanh vừa bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường là điều không tưởng”.

Về khai thác tài nguyên, cát ở các sông bị khai thác quá mức bán vật liệu xây dựng, bất chấp hậu quả sạt lở và thay đổi thủy lưu, gây mất ổn định và nguy hại nhiều khu dân cư. Công ty kỹ nghệ khoáng sản Quảng Nam khai thác vô tội vạ số lượng lớn cát xây nhà, vẫn không thực hiện báo cáo tác động môi trường theo yêu cầu. Ở Cần Thơ, xuất khẩu cát 6 tháng đầu năm 2009 bằng khối lượng 10 năm trước cộng lại. Ở Tiền Giang, sa tặc giết hại thanh tra môi trường khi bị phát hiện hành vi trộm cát. Than đá ở Quảng Ninh bán sang Trung Quốc với số lượng lớn, gọi là “than thổ phỉ”. Các ngành thuộc độc quyền nhà nước như dầu khí, than, nhiệt điện, thủy điện… trong quá trình khai thác không được người dân biết đến và cũng không thấy tập đoàn nào công khai phương án bảo vệ tái tạo tài nguyên. Gần đây, giới khoa học cảnh báo dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận với các lò phản ứng hạt nhân công suất 4.000 MW đến năm 2025 mà hậu quả không lường của nó trong trường hợp bất trắc chưa có phương án dự phòng.

Nhiều khu rừng cả nước vẫn tiếp tục bị chặt phá. Rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, miền Trung ngàn đời nay là “rừng vàng”, ngày nay tại kỳ họp quốc hội có khái niệm “rừng nghèo”. Báo chí phản ánh sau cơn lũ ở miền Trung xuất hiện gỗ lâm tặc khai thác âm thầm trong rừng sâu “trôi ra dày đặc sông Bung!”. Không ít kiểm lâm bị lâm tặc hành hung chém trọng thương và giết hại. Năm 1945, cả nước có khoảng 14 triệu ha rừng thì nay chỉ còn một nửa (trong một nửa này đến 70% rừng nghèo). 13 triệu ha đất bị suy thoái, trở thành đất trống đồi trọc chủ yếu do hậu quả tàn phá rừng. Người ta cũng ước tính trong 50 năm qua, có 120 loài thú và 200 loài chim ở Việt Nam bị diệt chủng.

Đầu năm 2010, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã gửi bức thư đăng trên mạng điện tử cảnh báo chủ trương từ chính phủ dẫn đến các tỉnh thành cho 10 doanh nghiệp các nước Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê gần 300.000 ha rừng đầu nguồn thời hạn 50 năm. Hai ông cho rằng đây là một “hiểm họa cực lớn” nhiều mặt. Về môi sinh, chủ nhân rừng có thể khai thác trắng và trồng mới. Từ đó, các hồ chứa nước tưới tiêu sẽ cạn, nhà máy thủy điện thiếu nước quay tua-bin, lũ quét bất ngờ không thể lường được hậu quả. Về di dân, bên thuê rừng cũng có thể đưa nhân công đến khai phá, trồng trọt, định cư lập làng… Những phần lãnh thổ do vậy sẽ mất đi trước sự xuất hiện các đơn vị cộng cư nước ngoài ngay tại Việt Nam. Về quốc phòng, rừng cho thuê chiếm 87% diện tích xung yếu biên giới, trong trường hợp chiến tranh quân đội khó có thể can thiệp làm chủ tình hình kịp thời.

Hai vị tướng đề nghị với những khu rừng đã ký kết hợp đồng, cần thuyết phục chủ nước ngoài khoán lại cho người dân tại chỗ. Nơi chưa ký hợp đồng thì đình chỉ cho dù phải bồi thường, tiến hành xây dựng cơ chế quản lý, chính thức giao đất khoán rừng cho hộ gia đình. Một chủ trương khai thác tài nguyên đất nước rộng lớn và quan trọng như thế mà Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến hành, hầu như dân chúng rất ít được biết và có tiếng nói quyết định. Thu hẹp thông tin trong trường hợp này chắc chắn là vụ lợi và lạm quyền. Khi vấn đề bị đưa ra công luận, cuối tháng 2-2010, truyền thông Việt Nam đưa tin Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các tỉnh dừng cho thuê rừng và tin trao tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho tướng Đồng Sĩ Nguyên ở tuổi 87 mà dịp 3-2 đã qua và không trong dịp lễ trọng quân đội. Nếu hai vị tướng không công khai phản đối, đã không có việc làm trên. Chủ trương ban đầu thực hiện trong im lặng trót lọt, chỉ dừng lại sau khi bị lên án. Cho nên, đưa tin của giới truyền thông lộ rõ xoa dịu khi không thể tiếp tục bất chấp công luận. Làm những việc ấy chỉ có thể là đối phó dập tắt chứ không phải đã nhận thấy sai lầm bằng tâm trong sáng.

Đáng quan tâm là chủ trương khai thác bauxit. Ba bức thư của nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Bộ Chính trị không được hồi âm công khai. Hàng ngàn ý kiến phản đối của các bậc lão thành cách mạng, các nhà khoa học, trí thức và nhiều thành phần xã hội xuất hiện trên trang web bauxit.info, mà những thông tin này không được báo chí “lề phải” đăng tải, đã thể hiện thái độ của người dân không còn chấp nhận bị hạn chế phản biện và sự lạm quyền của nhà nước trong khai thác sử dụng tài nguyên quốc gia. Hơn 3.000 chữ ký đề nghị không khai thác bauxit cùng hàng trăm chia sẻ của người đọc trên các trang web.

Đây là ý kiến của một kỹ sư: “Nếu một ngày nào đó thực hiện kịch bản chiến tranh bất ngờ như năm 1979, họ sẽ nổ quả bom bùn đã gài sẵn ở Tân Rai làm các tỉnh miền Đông và Thành phố Hồ Chí Minh chết khát…”. Các nhà khoa học cảnh báo lượng bùn đỏ thải ra trong quá trình đào rửa quặng sẽ tràn lan phá hủy môi trường, giết chết thảm thực vật, làm hoang hóa đất đai vĩnh viễn. Nếu xây hồ chứa chất đào thải khai thác và sơ chế thì đúng là hình thành những “quả bom bùn”. Quá trình luyện quặng còn sử dụng sulfur dioxide rất độc hại. Nhưng theo Đảng Cộng sản, những phản biện ấy là “diễn biến hòa bình”, là “chống lại chủ trương chung”, cho nên trang web đăng ý kiến phản biện của xã hội đã bị “lưu manh tin học” phá hoại nhiều lần.

Tại Trung Quốc, những vùng khai thác bauxit đều có nhiệt độ môi trường tăng, bệnh lạ xuất hiện. Vì thế, nước này đã chuyển phần lớn đầu tư khai thác bauxite sang Guinea và các khoáng sản khác ở Sudan, Nigéria, Angola, Zambia, Congo, Libéria… thuộc châu Phi. Mục tiêu khai thác của Trung Quốc là nhanh và nhiều, bỏ qua khôi phục môi trường bền vững, đã bị nhiều nước phản đối. Bauxit Tây Nguyên sẽ không ngoài mục tiêu đó. Một quy luật chung là không có vấn đề gì chỉ đem lại lợi ích mà không kèm theo tác hại, thậm chí còn “lợi bất cập hại”.

Vấn đề ở chỗ Bộ Chính trị từ lâu đã “đi đêm” với Trung Quốc về dự án khai thác bauxit, khi thực hiện bị phản đối kịch liệt mới đưa ra để hợp thức hóa. Tại kỳ họp quốc hội tháng 5-2009, nhiều đại biểu công khai phản biện và đề nghị nên dừng. Nhưng do cam kết không thể rút lại, Bộ Chính trị vẫn quyết định khai thác. Để mở đường, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng phát biểu: “Cho đến lúc này, dư luận trong nước cũng như trên thế giới, kể cả những người khó tính, còn ai nói đến vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên nữa. Điều đó cho thấy, khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. Không hiểu vị lãnh đạo này căn cứ vào đâu, trong khi không thấy dư luận nào trong nước ủng hộ ngoài một số đảng viên, trên thế giới càng tuyệt nhiên không.

“Rào cản” cuối cùng trong giới lãnh đạo cũng bị dọn sạch sau chuyến thăm Trung Quốc trở về và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt bút ký vào Quyết định 167/2007/TTg, gọi là “Đại dự án”. Trong một thư phản đối, nhà văn Nguyễn Đình Trọng mỉa mai: “Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện”. Có nhận định cho rằng nhiều khoản lớn nợ vay đến hạn, nay phải lấy tài nguyên quốc gia để trả! Hãy nghe chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc tại kỳ họp quốc hội giữa năm 2009: “Trong tư duy của chính phủ có dự trữ cho tương lai, có để dành cho con cháu không, hay có chút của giả nào tổ tiên để lại làm cho bằng hết? Đất đai, than đá, dầu khí… hiện chiếm một tỉ trọng rất cao trong thu ngân sách là một biểu hiện”.

Là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu, nhưng Việt Nam cũng đối mặt với an ninh lương thực, một vấn đề mang tính toàn cầu. Gạo ở Việt Nam xuất khẩu đạt số lượng lớn trước hết là do nỗ lực của nông dân, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thông thoáng mở rộng thị trường. Nhưng mặt trái của nó cho thấy người nông dân bị “trói chặt” mọi sinh hoạt bởi tiền mặt và chỉ còn biết bán lúa. Gần 100 công ty ra sức tranh mua vùng miền, tranh bán giá thấp ra các nước, nên giá mua lẫn giá bán không ổn định. Trong khi đó, Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, với khoảng 10 công ty thu mua hoạt động đều đặn và thống nhất, quan tâm chế biến gạo chất lượng cao, giữ giá bán ổn định, bảo vệ được lợi ích nông dân.

Đầu năm 2010, Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu 6 triệu tấn gạo sang Philippines với giá 600 USD/tấn (năm 2009 khoảng 450 USD/tấn). Nhưng tín hiệu đáng mừng đó của lãnh đạo đất nước lại là khó khăn của người nông dân: năng lực kho chứa ở Việt Nam hiện chỉ đạt tối đa 1,8 triệu tấn vào mùa, muốn xây đủ hệ thống sân phơi kho chứa đảm bảo cần phải có số vốn khoảng 4.000 tỉ đồng. Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nhiều năm liền kém là do khâu phơi phóng, bảo quản, kể cả dư lượng vi sinh những hóa chất trong quá trình canh tác tồn vào sản phẩm. Vì không có điều kiện tích trữ tìm thị trường với giá cao hơn, vào mùa thu hoạch nông dân phải chấp nhận bán lúa cho các công ty thu mua với giá thấp. Chưa kể đồng tiền bị mất giá, giá mua các mặt hàng ăn uống và sinh hoạt tăng, thiên tai bất ngờ… Người nông dân được lợi gì giữa khó khăn vây bủa mà nhà nước cho là tín hiệu đáng mừng đó?

Vấn đề quan trọng hơn là đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp bởi sự xuất hiện của các khu công nghiệp và công trình xây dựng. So với sau năm 1975 nhiều làng phải dời lên đồi ở để cải tạo và mở rộng đất sản xuất, thì việc biến đất ruộng thành đất xây dựng công trình hôm nay là một chủ trương phản lại chủ trương trước kia, chỉ vì chạy theo quyền lợi trước mắt. Trong khi đó, chính sách hỗ trợ nông dân trồng lúa, sản xuất và chế biến nông sản vẫn lạc hậu, bao tiêu, tạo thương hiệu và tìm thị trường cho nông sản càng không được quan tâm. Dân số đang trên đà tăng đến mức 100 triệu người, khiến nguồn lương thực sử dụng trong nước sẽ tăng. Việt Nam cũng nằm ở khu vực nắng lắm mưa nhiều, khí hậu thất thường, nhất là bão lũ và hạn hán từng gây ảnh hưởng bất ngờ nặng nề cho nông nghiệp.

Ngày nay, cũng như các quốc gia khác, Việt Nam chịu ảnh hưởng của hiện tượng “hiệu ứng nhà kính”, “hâm nóng toàn cầu”. Các loại dịch bệnh gây hại trên diện rộng đối với người, vật nuôi, cây trồng, cạn kiệt nguồn nước ngọt và nước sạch, cạn kiệt năng lượng… là những thách thức quan trọng trước mắt lẫn lâu dài. Cung cấp lương thực như thế nào để đảm bảo là bài toán nan giải đang đặt ra trong một tương lai gần.

Engels từng nhận xét về CNTB giai đoạn đầu: “Nền văn minh phát triển tự phát, không có sự hướng dẫn một cách có ý thức khoa học thì sẽ để lại đằng sau nó những bãi hoang mạc”. Cũng theo Engels, để giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên: “Tất yếu phải xóa bỏ CNTB, thiết lập CNCS”, vì ông cho rằng chỉ có CNCS mới làm được việc này. Chưa nói chuyện Engels chính trị hóa lĩnh vực khoa học môi trường, chỉ đề cập việc Đảng Cộng sản áp dụng nguyên vẹn quan điểm trên, tiến hành cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên bằng cách giải quyết trước tiên mâu thuẫn giữa con người với con người.

Sau khi đánh đổ tư bản, việc quản lý cải tạo môi trường nay lại rơi vào “tự phát”, “không có sự hướng dẫn một cách có ý thức của khoa học” ? Môi trường bị tàn phá và ô nhiễm trầm trọng là hậu quả của quá trình Đảng Cộng sản chỉ quan tâm bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên nhằm củng cố thể chế, coi thường cảnh báo chuyên môn, không kiên quyết chấn chỉnh kịp thời vi phạm pháp luật. Đó còn  là biểu hiện tái lặp hạn chế cách giáo dục xưa: chỉ tạo ra độc đạo cho trí thức bình luận chữ nghĩa ca ngợi chế độ hơn là đầu tư vào khoa học công nghệ thiết thực dân sinh. Mâu thuẫn đã không được giải quyết, những người phát động cách mạng vô sản phải chịu trách nhiệm như thế nào trước lịch sử hay tiếp tục bị “xóa bỏ” ?

Hố ngăn cách giàu nghèo và bất công xã hội

Theo Hồ Chí Minh, khi ra nước ngoài, ông nhận thức: trên thế giới chỉ có hai hạng người, đó là người bóc lột và người bị bóc lột. Người bóc lột khác người giàu ở chỗ họ là một nhóm nhỏ trong người giàu, làm giàu bằng chiếm đoạt bất chính. Nhưng qua những đợt cải tạo kinh tế, tất cả những người giàu dưới con mắt chính quyền cách mạng đều là bóc lột, cho nên tất cả bị tịch thu tài sản. Ngược lại, người bị bóc lột cũng khác người nghèo ở chỗ họ chỉ là một nhóm trong số những người nghèo, trong mối quan hệ chủ – thợ hay mua – bán sức lao động, họ bị bóc lột. Nhưng để có lực lượng làm cách mạng, tất cả người nghèo đều được kêu gọi là người bị bóc lột. Sau khi thiết lập công bằng xã hội, lý luận cho rằng sẽ không còn người bị bóc lột, mà chỉ còn người nghèo và được giúp xóa đói giảm nghèo. Nhưng hãy xem trong số người nghèo, có người bị bóc lột hay không, và ai bóc lột ai. Mấy chục năm xây dựng CNXH, rồi đổi mới, hội nhập, Việt Nam vẫn là nước nghèo đói tụt hậu so với thế giới. Người ở những phân tầng thấp nhất vẫn chiếm số lượng rất đông. Cho nên, gọi là phân tầng xã hội – mâu thuẫn xã hội, giàu – nghèo, bóc lột – bị bóc lột… chẳng khác gì nhau ngoài tiêu chí đánh giá duy nhất về vật chất. Hồ Chí Minh nhận thấy điều đó ở nước ngoài cách đây cả trăm năm, rồi phát động cách mạng để cải biến xã hội, đến nay tại Việt Nam vẫn diễn ra bóc lột.

Năm 1993, tiêu dùng bình quân đầu người của gia đình giàu nhất cao gấp năm lần so với gia đình nghèo nhất. Năm 2004, chênh lệch này tăng lên 6,3 lần, nay vẫn tiếp tục gia tăng. Những “đại gia” càng nhiều, cùng với nhiều người kiếm sống vỉa hè là một sự phân hóa tuyệt đối, mâu thuẫn càng cao. Ở các nước TBCN, phân tầng xã hội cho thấy giá trị một cá nhân không thể bị “cào bằng”. Một người thuộc trình độ, năng lực hay xuất phát điểm nào thì chấp nhận xếp vào thang bậc ấy. Nếu bản thân nỗ lực sẽ tự chuyển lên những phân tầng cao hơn. Dĩ nhiên vẫn còn những bất công xã hội, nhưng phân tầng nhằm chứng minh năng lực, nguồn gốc tài sản và giá trị cá nhân hay nhóm xã hội.

Còn ở Việt Nam, phân tầng xã hội đầy bất cập. Đó là một cuộc tranh giành bằng mọi khả năng, thậm chí thủ đoạn, cả sự lãnh đạm thờ ơ trước cái xấu và nỗi khổ của người nghèo. Hãy nhìn vào thu nhập trong lĩnh vực biểu diễn: hát một số bài hay dẫn chương trình trong vài giờ đã thu nhập ở mức từ 20 đến 60 triệu đồng (dĩ nhiên để có vài giờ đó là quá trình chuẩn bị). Giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm mang lại trong vài tiếng đồng hồ được đo lường xác định bằng cách nào? Sau khi bị công luận lên tiếng, nhà nước tiến hành điều chỉnh bằng đóng thuế thu nhập cá nhân, nhưng đó lại là việc làm “đánh trống bỏ dùi”.

Lại có nhiều người giàu lên nhờ cổ phần hóa, có nhiều đất và được đền bù nên không cần bất cứ năng lực nào. Kết cuộc không ít trong số đó trở về lại xuất phát điểm ban đầu, chưa kể còn tệ hại hơn. Không ít người giàu nhờ vào khai thác, lợi dụng các mối quan hệ. Dễ thấy là việc tìm kiếm và ký kết các hợp đồng khi mà cơ chế xin – cho vẫn tồn tại ở một dạng khác, thậm chí còn bền chặt hơn thời bao cấp. Cả xã hội bàn tán bình chọn 100 người giàu nhất trên sàn giao dịch chứng khoán, nhà nước tuyên dương các doanh nhân thành đạt, đại gia mua xe đắt tiền hay sắm máy bay riêng, chuyện thưởng tết năm 2009 ở các công ty làm ăn khá mức từ 100 đến 150 triệu đồng/người. Trong khi đó trên 60% dân số nông thôn Việt Nam thu nhập bình quân chưa quá 50.000 đồng/ngày! Báo cáo gần đây của Chương trình phát triển LHQ về an sinh xã hội ở Việt Nam cho thấy nhóm 20% gia đình giàu nhất chiếm gần 40% lợi ích xã hội và 35% trợ cấp giáo dục trong khi nhóm 80% gia đình nghèo nhất chiếm 7% lợi ích và 15% trợ cấp giáo dục.

Trước đây, mạng “Việt Báo” có thông tin so sánh giữa một nữ diễn viên đóng phim và một cô bé phụ bán phở. Một bên dư thừa vật chất cao cấp, còn ở tuổi đi học đã xe máy, điện thoại, du lịch… tốn không biết bao nhiêu tiền. Một bên phải thức dậy rất sớm trong thế giới chén bát bếp núc tiệm phở, làm việc nhiều năm vẫn không tích lũy được đồng dư, lại bị đánh đập nhục mạ tàn nhẫn bởi chủ thuê mà không có đoàn thể hay tổ chức nào đứng ra bênh vực. Cuối cùng, bài báo kết luận: “Đành rằng không nên và cũng không thể có một nền “công bằng cào bằng” hay “công bằng tuyệt đối” nhưng càng không thể để có sự bất công sâu sắc trong một xã hội “công bằng – dân chủ – văn minh”.

Mạng “Dân Trí” lại có một so sánh khác: năm 2006 hơn 16 triệu người trong nước thu nhập khoảng 5.000 đồng/ngày, so với thu nhập của cán bộ công chức thì chênh lệch từ 10 đến 30 lần. Nếu “đủ dũng cảm” so sánh mức thu nhập nhóm 16 triệu người với tốp 100 người giàu nhất thị trường chứng khoán, chênh lệch lên tới nhiều trăm lần! Bài trên mạng “Dân trí” mà tiến thêm so sánh thu nhập của người nghèo và những quan tham nhũng vụ nào cũng tính bằng tiền tỉ, chênh lệch còn cả ngàn lần!

Theo ngành kiểm toán, lương của người đứng đầu Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) trên 70 triệu đồng/tháng, sau đó đính chính còn 36,4 triệu đồng/tháng nhưng thực ra tổng thu nhập thực tế vẫn là con số đầu, hơn thu nhập của người lao động phổ thông gấp hàng chục lần! Sở dĩ có mức lương đó là do nhà nước không công khai rõ ràng các quy định về bậc ngạch lĩnh vực, lương và những khoản ngoài lương hay chức vụ công tác, hiệu quả sản xuất và đóng góp sản phẩm của các ngành cho xã hội. Hãy quan sát ở một nhà hàng về tiền lãi một tờ vé số đứa trẻ đường phố bước vào chào bán và tiền trả bữa nhậu bình thường của một nhóm quan chức, tỉ lệ giữa tìm ra tiền và tiêu tiền chênh nhau 1/1.000 lần, ngay tại một không gian và thời gian!

Một mẩu thông tin trên mạng báo điện tử Đảng Cộng sản: “Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua đã góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 32% năm 1991 xuống còn 22,5% năm 2005, năm 2008 chỉ còn 12,1%. Đến nay, cả nước còn gần 2,4 triệu hộ với khoảng 10,5 triệu người nghèo”. Có hai vấn đề cần quan tâm về thành tích này. Một mặt, đồng tiền trượt dài xuống dốc và giá thị trường leo cao, trong khi chuẩn đánh giá nghèo vẫn giữ nguyên, kết cuộc người nghèo được gì? Mặt khác, “thực hiện công bằng xã hội” chỉ được hiểu giúp cho một số người nghèo mà không phải là thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo, người nghèo đỡ vất vả hơn thì người giàu đã giàu hơn rất nhiều. Mới đọc thông tin nghĩ là đáng mừng, thực ra chỉ là kết quả khiêm tốn nhằm ứng phó khốn khổ với tình hình. Đảng vẫn mắc một căn bệnh kinh niên: chỉ tô đẹp xã hội của mình, không dám nhìn thẳng và nêu thẳng sự thật đang để lại hậu quả bức xúc trong đa số người nghèo.

Trong khi đó, một nhà nghiên cứu nước ngoài lại nhìn thấy những “thắt nút” vĩ mô của kinh tế Việt Nam: cơ sở hạ tầng kém, tham nhũng có hệ thống, yếu kém thực thi luật, công tác nhân sự và cán bộ có vấn đề, thủ tục hành chính cồng kềnh chậm trễ, nguồn nhân lực không đáp ứng… Tất cả đều là hạn chế chủ quan từ đường lối lãnh đạo. Cho nên, dù đạt thành tựu về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Việt Nam cũng chỉ cải thiện được một số tình trạng khẩn cấp. Bất công xã hội vẫn tiếp tục tăng lên. Người nghèo vẫn “đầu tắt mặt tối” thì nhiều đảng viên chức quyền đời sống khá ổn định, thậm chí trở thành những ông chủ thật sự với đồng tiền dư dả, mua sắm xa hoa. Thực tế đó sẽ để lại hậu quả nhất định, vì các nhóm xã hội không thể cùng tồn tại và đoàn kết trong tình trạng bất công. Engels từng viết: “Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động” [35].

Tổ chức thiện nguyện Hàn Quốc Good Friends cho biết đầu năm 2010 này, Thủ tướng Kim Yong-il phụ trách kinh tế Bắc Triều Tiên thông qua cuộc họp cán bộ cao cấp đã có lời xin lỗi nhân dân do việc đổi tiền cuối năm 2009 gây ra “rối loạn và bất ổn”. Trong khi đó, Việt Nam từng mấy lần đổi tiền, nay thêm quan chức thâu tóm cơ hội làm giàu và buông lỏng quản lý xã hội, là nguyên nhân gây đói nghèo. Khi bất công lan rộng, chính quyền các cấp thực hiện thăm tặng quà, cho vay vốn, xây nhà tình thương, tổ chức hội thảo bàn nhau nên giúp người nghèo cần câu hay con cá…, rồi xem đó là thành quả từ chủ trương đúng. Đảng và nhà nước vẫn né tránh, chưa bao giờ công khai nguyên nhân và xin lỗi do đã gây ra như những người đồng nhiệm ở Bắc Triều Tiên!

Giải thích sự nghèo đói của nông thôn, như đã đề cập có vị lãnh đạo đến nay vẫn còn viện dẫn do đất nước phải gánh chịu nhiều cuộc chiến tranh, rồi trình độ dân trí hay mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập… Các vị lãnh đạo này trước đây cũng từ chiến tranh, sống bằng củ khoai bát cơm những vùng giải phóng. Ngày xưa, họ thiếu mọi thứ, nay thì thừa mọi thứ: biệt thự sang trọng, văn phòng máy lạnh, xe riêng đắt tiền, khu nghỉ mát, trang trại, cơ sở sản xuất kinh doanh… Trong khi người dân vùng xa xôi hẻo lánh càng nghèo, lãnh đạo đất nước không những không nghèo, mà do có chiến tranh và bước ra từ chiến tranh, nay được hưởng đặc quyền đặc lợi nên càng giàu.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nguyễn Duy viết bài “Ánh trăng” kể về hành trình quay ngược lại lý tưởng đã chọn của các lãnh đạo cộng sản. Lúc thiếu thời, họ sống với nông thôn hiền hòa, lúc vào rừng kháng chiến xem vầng trăng là “tri kỷ”. Nhưng sau hòa bình chính là thời kỳ:

“Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường” 

Nhà văn Dương Thu Hương cũng từng khẳng định các quan chức cấp cao cộng sản ngày nay đang “bán rẻ tất cả tài nguyên của tổ quốc, vơ vét tài sản của dân để làm giàu những trương mục ngân hàng” không phải ở trong nước. Mức độ tích lũy trong im lặng ấy có thể “nuôi sống huy hoàng nhiều thế hệ con cháu” của họ mà không phải lao động cực nhọc. Bà còn cho rằng trong trường hợp đất nước bị lâm nguy, chế độ tiêu vong, các quan chức này “sẽ xách gói chuồn thẳng”, mà một trong những nơi đến có thể là Hoa Kỳ, vì trong khi “đạo đức giả” hô hào chống Mỹ, họ lại gửi con cháu “sang Mỹ học lâu rồi”.

Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, Marx viết rằng: “Tư tưởng tách rời lợi ích thì nhất định nó sẽ tự làm nhục nó”. Nhục như thế nào, trước hết hãy nhìn vào một số cuộc biểu tình. Tháng 6-2006, nông dân Bến Tre kéo lên Sài Gòn phản đối bị tịch thu ruộng đất. Đoàn người mang theo khẩu hiệu, nội dung chống tham nhũng hối lộ và đòi trả lại công lý. Trước đó, hàng ngàn đơn khiếu kiện đã gửi đến chính quyền, nhưng người dân vẫn khiếu kiện vượt cấp do không được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng. Tháng 1-2009, hàng ngàn nông dân nhiều xã ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) mang theo cuốc, xẻng, gây gộc kéo ra khu đất 500 ha thuộc dự án xây dựng Khu đô thị, thương mại và du lịch Văn Giang, cản đường không cho xe máy san ủi mặt bằng. Họ gọi chính quyền là kẻ cướp giữa ban ngày, vì nhiều người không đồng ý nhưng vẫn bị cưỡng chế phải giao đất với giá đền bù rẻ. Sau đó, nhiều người còn kéo lên Văn phòng Quốc hội tại Hà Nội đòi công bằng.

Các cuộc biểu tình trên chỉ là một số trong rất nhiều cuộc diễn ra cả nước những năm gần đây, kể cả các cuộc quy mô lớn ở Thái Bình và Tây Nguyên trước đó. Năm 2005, trong thư gửi Bộ Chính trị, Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ ra thực tế qua hai cuộc kháng chiến, Đảng Cộng sản không thể có vai trò nếu không huy động được “tối đa sức mạnh của dân”. Khi hòa bình, đảng cầm quyền xa rời dân, còn “đứng trên dân” và trở nên độc tài độc đoán. Năm 2007, trong phiên họp quốc hội, Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời chất vấn cho biết trên đất nước 70% dân số nông dân, đứng hàng thứ nhì xuất khẩu gạo thu về 1,4 tỉ USD/ năm, nhưng hàng trăm ngàn nông dân thiếu đói và “chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm”.

Giáo sư Đào Thế Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng khái niệm và quyền lợi liên minh công – nông được xác định khi tiến hành cách mạng bây giờ chẳng còn ý nghĩa gì. Theo ông, chính quyền địa phương các vùng nông thôn hầu hết đảng viên là “bọn cường hào mới” được cấp trên bao che, tạo điều kiện thi hành cưỡng bức và tước đoạt ruộng đất một cách tùy tiện đi liền với “chính sách đền bù nhảm nhí, bèo bọt chỉ bằng 1/10, có khi chỉ 1/20 của giá trị thực”. Vì thế, không những nông dân mà cả nông thôn Việt Nam cũng bị bỏ rơi: “Nạn dân oan, nạn ly nông, nông thôn thành bãi rác… đang là quốc nạn trong sự thờ ơ, trong cả sự đồng lõa của đảng cầm quyền”.

Những lý giải trên cho thấy mục tiêu cách mạng của Đảng Cộng sản đã bị chính họ im lặng chối bỏ. Đó là sự phản bội liên minh công – nông, phản bội quyền lợi dân tộc. “Tự làm nhục” ở chỗ lạm dụng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, lấy danh nghĩa nhà nước trưng dụng ruộng đất nhưng lại tư lợi. “Tự làm nhục” ở chỗ trước đây, nhiều người phải dành dụm mới mua tậu được ruộng đất, đến cộng sản nắm quyền họ bị quy vào dạng địa chủ cường hào và bị tiêu diệt, đất đai bị xung vào công hữu. Nhưng chính sách mới về đất đai bất công gấp nhiều lần xã hội cũ, các cấp chính quyền không những không bị tiêu diệt mà ngược lại còn ra tay trấn áp, bỏ tù người dân dám đứng ra bảo vệ quyền lợi của mình! Tự làm nhục” chính là những người đứng vào hàng ngũ làm cách mạng hôm qua, hôm nay trở thành hàng chục nghìn dân oan đã chết hoặc đang sống nhưng không biết kêu cứu nơi đâu. “Tự làm nhục” như tướng Trần Độ viết về thực tế sau cách mạng, thế lực xóa bỏ cái ác là thế lực ác nên cái ác mới lại xuất hiện: “Ai hay biến đổi, ác luân hồi”.

Còn đây là giải thích tổng quát của tiến sĩ Wolfgang Klenner phụ trách bộ môn Kinh tế học Đông Á tại Đại học Ruhr-University Bochum (Đức). Ông cho biết việc thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam không theo hệ thống vận hành, quản lý không hiệu quả. Vì thế, quyền lợi kinh tế thị trường bị thâu tóm trọn vẹn bởi “thành phần quyền chức hay những kẻ thiếu trách nhiệm xã hội”. Đó là những người nắm thông tin chủ trương, khai thác những lỗ hổng của quá trình tư hữu hóa lỏng lẻo thiếu kiểm soát, khuynh loát các nguồn lợi, nên đã giàu lại càng giàu. Từ đó, nguyên tắc cơ chế thị trường mang lại cơ hội cho tất cả mọi người đã trở thành cho một số ít người nhanh chân. Ông từng tin rằng cuộc sống của người dân các nước XHCN là công bằng, không chấp nhận hiện tuợng giàu nghèo. Nhưng ông bị ngộ nhận: “Thực tế ngược lại khiến tôi ngạc nhiên, sự cách biệt giàu nghèo quá lớn, thiếu các quyền lợi về an sinh xã hội cho dù là người già, người bệnh hay người nghèo”. Thiếu nhiều nhất các quyền lợi trên là nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc – nơi mà các lãnh đạo từng được cưu mang thời còn chiến tranh.

Trong hoàn cảnh đó, Đảng Cộng sản phát động xã hội thực hành tiết kiệm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh. Người buôn bán nghèo, những đảng viên là cán bộ công chức chỉ biết đồng lương thấp kém, những công nhân làm thuê, nông dân… thu nhập không có dư phải nghe những bài học tiết kiệm và thực hành theo. Có cơ quan hưởng ứng đặt ở chân cầu thang thùng tiết kiệm, trong đó chỉ toàn tiền giấy mệnh giá thấp nhất. Đảng viên ở các chức vụ và lĩnh vực có điều kiện thu nhập cao dễ tham ô, người giàu lên do sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật, người thuê và bóc lột nhân công… vẫn tiêu tiền không tiếc và chẳng phải học bài học tiết kiệm nào. Một nhà nghiên cứu nước ngoài đã cho rằng xã hội tiêu dùng và hưởng thụ ở Việt Nam hiện nay “theo xu hướng thỏa mãn nhu cầu của số ít chứ không phải nguyện vọng của số đông”.

Cuộc phát động thực hành tiết kiệm có ý nghĩa và hiệu quả đến đâu khi đói nghèo vẫn là gánh nặng trong xã hội. Chưa tính các khoản trước đây, trong tháng 4-2010, Ban Giám đốc điều hành WB phê duyệt tiếp 682 triệu USD cho Việt Nam thực hiện 5 dự án giảm nghèo và hỗ trợ y tế các tỉnh miền núi, cải thiện vệ sinh môi trường và cấp nước sạch các đô thị, nông thôn… Ở giai đoạn đầu, hơn 350.000 hộ sẽ hưởng lợi từ các dịch vụ y tế, hơn 118.000 hộ tiếp cận nước sạch. Nhưng bài học cho thấy từng có nền kinh tế quốc gia Đông Nam Á các thập kỷ trước chấp nhận vay mà đầu tư không hiệu quả, không tạo ra nội lực sau vay, kế hoạch hoàn trả không được tiên liệu sắp xếp từ đầu… đã bị khủng hoảng kinh tế. Cuộc vận động tiết kiệm có thể sẽ dành dụm được một đồng nhưng tiêu mất cả 100 đồng mà nợ vẫn sẽ hoàn nợ.

Hàng năm, Đảng Cộng sản cũng chủ trương dành một ngày gọi là “Ngày vì người nghèo”, trong khi đảng viên có chức quyền và người có điều kiện thuận lợi ngày nào, năm nào cũng có thể nghĩ cách tham nhũng làm giàu. Các báo cáo vẫn nhắc nhiều thành tựu xóa đói giảm nghèo, thậm chí thành tựu càng nổi bật khi Việt Nam trình bày tại LHQ để một số nước nghèo tìm hiểu học tập. Trong khi đó, thu nhập mức 750 USD/người/năm được xem là nghèo đói chậm phát triển thế giới, thì những năm trước đây GDP ở Việt Nam không vượt quá 600 USD/người/năm.

Để xóa bỏ mâu thuẫn xã hội trong phân phối và thu nhập, lãnh đạo đất nước nêu ra các biện pháp: phát triển lực lượng sản xuất và đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hoàn thiện chính sách tiền công tiền lương, chống chủ nghĩa bình quân, chống thu nhập bất hợp lý và bất chính, điều tiết nhằm hạn chế thu nhập chênh lệch dẫn đến phân hóa hai cực đối lập, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo… Nhưng chính sách tiền công tiền lương vẫn trời vực, nạn phân biệt lý lịch dẫn đến hậu quả càng thậm tệ hơn chủ nghĩa bình quân, công nghiệp hóa – hiện đại hóa chủ yếu cho các tập đoàn kinh tế quốc gia của đảng viên chức quyền. Như thế nào là thu nhập bất hợp pháp và bất chính trong khi tiền bạc và tài sản của cán bộ đảng viên cao cấp ngày càng lớn ra? Như thế nào là làm giàu hợp pháp khi người có điều kiện liên kết nhau tránh luật, bóc lột đa số người lao động? Khi nào thì “phân hóa hai cực đối lập” vốn giãn ra ngày càng xa mới chịu dừng lại, đừng nói sẽ nhích gần lại?

 

 

Nền kinh tế phe cánh “tư bản đỏ”

Vào khoảng năm 1990, các doanh nghiệp bị thua lỗ phá sản được nhà nước cứu vớt vực dậy nhằm củng cố chỗ dựa vật chất. Năm 1994, doanh nghiệp không còn đứng vững bị giải thể, các đơn vị còn lại sáp nhập thành tổng công ty theo mô hình keiretsu Nhật Bản và chaebol Hàn Quốc. Ở Hàn Quốc, các chaebol cũng được nhà nước đầu tư vốn nhưng kèm theo lộ trình giảm dần đến chấm dứt, buộc phải tự cạnh tranh và xuất khẩu sản phẩm ra thị trường thế giới trong thời gian nhất định. Trong khi các tổng công ty Việt Nam sản xuất chỉ nhằm thay thế dần nhập khẩu mà không dám vươn ra ngoài, nhiều năm liền luôn được đầu tư, kể cả thua lỗ. Nói đúng hơn, tổng công ty là sân sau an toàn cho các quan chức vẫn kế hoạch hóa tập trung sau khi đã xóa bao cấp, tiếp tục độc quyền công nghiệp nặng và đặc quyền khai thác tài nguyên quốc gia.

Khi tham gia vào WTO, nhìn thấy yếu kém của tổng công ty, nhà nước lại cải cách và lập ra 19 tập đoàn kinh tế mà tiền thân của nó là 18 tổng công ty năm 1991 và Tổng Công ty kinh doanh – đầu tư vốn Nhà nước (SCIC) năm 2005. Quá trình trên cho thấy phương thức hay mô hình có thể thay đổi nhưng chủ sở hữu điều hành là những đảng viên cấp cao vẫn giữ nguyên, hoàn toàn khác với cải tạo công thương sau năm 1975 ở miền Nam. Từ đó đến nay, hầu như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị cột chặt bởi các tập đoàn kinh tế. Bên cạnh chức năng chính theo ngành, các tập đoàn còn tham vọng đầu tư lấn sân sang các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, viễn thông…

Đó là chưa kể hiện tượng “con hát mẹ khen tạo ra rào cản đối với các công ty nước ngoài muốn vào Việt Nam, hưởng lợi nhuận siêu ngạch qua chênh lệch giá cổ phiếu thỏa thuận giữa các công ty mẹ và công ty con “cùng phe”. Các công ty con không có nguồn vốn nào ngoài dựa vào “thương hiệu” công ty mẹ và nắm được thông tin nội bộ đã trúng lớn nhiều cổ phiếu mà số tiền dành dụm tham gia của các nhà đầu tư nhỏ lẻ ngoài êkip này biến thành “vật tế” không phải cho “hàng thần” mà cho những “đại gia”. Trong quá trình đó, những vị lãnh đạo tập đoàn và nhà nước được hưởng lợi lớn nhất và kín nhất, riêng người tiêu dùng và người dân chỉ có thể càng nghèo thêm. Đó mà không phải là những tập đoàn phe cánh tư bản đỏ?

Các tập đoàn này trong quá trình hoạt động lại vẫn tiếp tục gây nợ và lỗ vốn, còn lớn hơn thời bao cấp. Đơn cử Tập đoàn Vinashin nợ gần 4.000 tỷ đồng, chiếm 91,4% tổng nợ quá hạn trong các tập đoàn. Nhiều đại biểu quốc hội đặt câu hỏi trách nhiệm các đơn vị gây nợ và cảnh báo thất thoát sẽ không được làm rõ thu hồi nếu kéo dài, đổ tại khách quan cho đến khi giải thể và người đứng đầu thôi giữ chức vụ dưới khái niệm “hạ cánh an toàn”. Đối với Tập đoàn EVN, nhà nước từng ngăn cản đề xuất kinh doanh tự chủ theo thị trường, bởi như vậy người nghèo sẽ càng bất lợi trong tiêu dùng điện. Nhưng nhà nước không can thiệp khi EVN đầu tư quá mức vào thủy điện, càng mở rộng sang kinh doanh viễn thông, tài chính, bất động sản… Cũng trong khi đó, lại chính nhà nước phân bổ nguồn vốn vay xóa đói giảm nghèo từ WB đưa điện đến vùng sâu vùng xa! Đó mà không phải là biểu hiện của tập đoàn phe cánh tư bản đỏ?

Diễn biến của các tập đoàn kinh tế sẽ theo quy luật nào? Mô hình chaebol đến năm 1990 trở thành “gã khổng lồ” có ảnh hưởng quan trọng, buộc Nhà nước Hàn Quốc phải thường xuyên cung cấp vốn và các điều kiện duy trì. Nhưng trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, chaebol phải tan rã. Mô hình keiretsu với hệ thống ngân hàng đóng vai trò sức mạnh đầu tàu, tuy từng thúc đẩy phát triển kinh tế Nhật Bản nhưng những hậu quả mà nó để lại phải giải quyết đến 20 năm sau. Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo: “Việt Nam đang lặp lại một số khía cạnh của hai hệ thống keiretsu và chaebol”.

Năm 2007, bản phúc trình về phát triển con người của LHQ tập trung ba yếu tố chính là tuổi thọ trung bình, học vấn và mức sống, thì Việt Nam xếp thứ 132/138 quốc gia, chỉ trên Lào (133), Campuchia (137) và Miến Điện (138). Một phúc trình về chất lượng sống cũng cho thấy Việt Nam đứng thứ 116/182 quốc gia. Hãy so sánh Việt Nam và các nước xung quanh về thu nhập bình quân đầu người năm 2009: Việt Nam 836 USD, Indonesia 1.918 USD, Thái Lan 3.850 USD và Singapore 35.163 USD. Về chỉ số năng lực cạnh tranh ở Việt Nam từ 2007 đến 2009 lần lượt là: 104 – 91 – 92/178 quốc gia, thuộc nhóm thứ hạng thấp. Mặc dù có một số thành quả trong xóa đói giảm nghèo và nhìn chung cuộc sống tốt hơn, nhưng người giàu bỏ người nghèo phía sau, cơ hội kinh tế và an sinh không được phân phối công bằng, các nước giàu bỏ lại Việt Nam tụt hậu. Đó là hậu quả để lại của nền kinh tế phe cánh.

Đầu năm 2008, một nhóm giáo sư và nhà nghiên cứu Đại học Harvard (Hoa Kỳ) gửi tận tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tài liệu khảo cứu công phu thực trạng nền kinh tế phe nhóm kèm theo nhiều đề xuất cho thập kỷ đến. Tài liệu đưa ra nhận định:  “Đáng tiếc là Việt Nam không những không rút được những bài học từ việc nghiên cứu các nền kinh tế đi trước, mà trái lại còn lặp lại nhiều sai lầm của các nước Đông Nam Á, Đông Á và Trung Quốc”. Tài liệu cho biết sau những năm đầu đổi mới, giới lãnh đạo Việt Nam sa vào thỏa mãn, lạc quan trước thu hút đầu tư nước ngoài và ngợi ca của cộng đồng quốc tế. Nhưng đằng sau đó, quyền lực kinh tế và chính trị bắt tay nhau không gặp bất cứ ngăn cản nào, những nhà làm chính sách và các nhóm lợi ích riêng không có bất kỳ sự cách ly nào, đã hình thành “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, hiện tượng từng phổ biến ở các nước Đông Nam Á.

Bài học được nêu ra là các nước thành công như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… ít chịu áp lực chính trị, nhà nước luôn duy trì khả năng áp đặt kỷ cương đối với các nhóm lợi ích, thậm chí kiên quyết can thiệp khi các nhóm này cản trở phát triển. Nhà nước chỉ đầu tư đối với doanh nghiệp thành công mà không chia ngân sách cho tất cả các tập đoàn, từ chối cấp vốn và các phương tiện ngay cả với tập đoàn có thế lực chính trị nếu kế hoạch không khả thi, không đem lại lợi ích xã hội, hay từng có dự án thất bại. Nhưng ở Việt Nam, những nhóm có thế lực chính trị vẫn lợi dụng dự án đầu tư công để trục lợi và làm giàu bất chính, trong khi nhà nước với tư cách là chủ đầu tư đã để dự án triển khai lệch ra khỏi lợi ích cộng đồng, thậm chí nguy cơ đến an ninh quốc gia. Còn có cả hiện tượng cá nhân và nhóm thế lực chính trị biến tài sản quốc gia thành sở hữu riêng, quan ngại nhất là quy hoạch đất đai và cổ phần hóa nội bộ.

Cũng năm 2008, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy tổng nợ nước ngoài vào khoảng 22 tỉ USD, bằng 29,8% GDP. Trong đó, chính phủ vay trực tiếp 19 tỉ USD và bảo lãnh 3 tỉ USD. Nguồn vốn ODA do được ưu đãi lãi suất bằng 0 hoặc không đáng kể nên trong năm 2009 Nhà nước Việt Nam vay 200.000 tỉ yên. Nợ gốc còn phải trả, trong khi đã có ý nghĩ sử dụng vốn như “tiền chùa”, đầu tư không đúng dự án, sai đối tượng thụ hưởng. Việc vay nợ thường không công khai minh bạch dùng vào việc gì và hiệu quả ra sao, kế hoạch hoàn trả bằng nguồn nào, cuối nhiệm kỳ ai chưa xong trách nhiệm và bàn giao tiếp ai nhận trả. Cho nên không những tụt hậu, Việt Nam còn trở thành “con nợ” mà tài nguyên đất nước, tiền thuế và lao động trẻ phải gánh trả. Trước hiện trạng ấy, đảng cầm quyền không thể không tự nhận vai trò lãnh đạo điều hành xã hội quá yếu kém, chỉ tư lợi riêng mình!

Tháng 04-2009, chính phủ quyết định cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay 17 nghìn tỉ đồng. Đây là nguồn vốn trung – dài hạn mà nhà nước hỗ trợ 4% cho các doanh nghiệp trả lãi ngân hàng trong hai năm. Lãi suất tăng hay giảm theo thời điểm, tỉ lệ trên không đổi. Tại một phiên họp thường kỳ, Thủ tướng chỉ đạo “cần đề phòng gói kích cầu bị lợi dụng”. Nhưng mặt trái của chỉ đạo là chỉ dẫn: các đường dây dịch vụ ngầm kết nối người vay với hội doanh nghiệp và ngân hàng hoạt động mạnh thêm! Ngân hàng lại cũng không “mặn mà” với chủ trương này, vì doanh nghiệp vừa và nhỏ vay mức vốn không lớn, khoản “lại quả” không cao. Có vốn kích cầu, doanh nghiệp mở rộng sản xuất, chưa tạo ra việc làm và thu nhập, đã thấy giá hàng hóa và dịch vụ tăng cao. Nghịch cảnh giữa giàu và nghèo, giữa tiêu xài xa xỉ và thắt lưng buộc bụng, giữa cho con đi học ở các thành phố hay du học và không tìm đủ tiền đóng học phí… ăn sâu, lan rộng bên dưới sự ngự trị các quan hệ kinh tế phe cánh.

Cả nước nhìn chung vẫn khai thác tài nguyên, bán rẻ sức lao động, gia công sản phẩm nghèo hàm lượng chất xám như giày dép, dệt may, chế biến gỗ… Hiện tượng này các nước Đông Á phát triển đã trải qua cách đây 30 năm. Các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng Việt Nam đang cần chiến lược đủ sức cạnh tranh hội nhập hơn là gói kích cầu giải pháp tình thế vực dậy sản xuất và phát động “người Việt dùng hàng Việt” mà vẫn không ngăn được hàng ngoại nhập. Đầu tư cần dành cho công nhân nâng cao năng lực lao động hơn là cho giới chủ và cơ sở của họ. Nhưng thực tế ngược lại: người lao động bị doanh nghiệp tư nhân bóc lột, doanh nghiệp không được chen vào sân chơi riêng của các tập đoàn kinh tế. Công nghiệp tư nhân tạo hơn 90% việc làm và gần 70% sản lượng công nghiệp chỉ được quan tâm bằng một số gói kích cầu. Trong lúc đó, nguồn vốn lớn hơn nhiều lần vẫn dành cho các tập đoàn, quyền quyết định giá sản phẩm trong tay một nhóm lãnh đạo.

Chủ trương hình thành đội ngũ doanh nhân (trước đây gọi là tư sản dân tộc) không những qua cho vay vốn, mà còn lập ra các hội doanh nghiệp, bình chọn tôn vinh doanh nhân thành đạt… Để phân tán chỉ trích đảng viên có chức quyền giàu lên, cần hình thành một giai tầng gồm các doanh nhân giàu ở một ngưỡng cho phép. Trong số các doanh nhân đó, một phần không nhỏ lại chính là đảng viên hoặc thân tín gia tộc với đảng viên. Các công ty, doanh nghiệp tư nhân này còn là cơ sở để các quan chức liên hệ làm ăn, vận động tiền của qua tổ chức lễ hội, cùng những chia chác lợi ích ở các địa phương. Đảng viên chức quyền làm giàu bất chính càng có môi trường hoạt động lớn hơn!

Hiện tượng phe cánh khuynh loát kinh tế để tư lợi, biến tướng qua nhiều giai đoạn, ngày càng hoành hành. Nhưng hầu như mấy chục năm nay, báo chí trong nước chưa từng chỉ đích danh tên gọi và phân tích đúng bản chất của nó. Gần đây, một nhóm nghiên cứu nước ngoài lại nêu khái niệm “Nền kinh tế phe cánh” tại Việt Nam. Nó xuất phát từ tư duy tiểu nông làng xã, tư tưởng phường hội, chủ nghĩa gia tộc kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”, cộng với thế lực ngầm chia nhau lãnh địa ẩn trong bóng tối. Các đảng viên chức quyền chiếm những chiếc ghế quyết định quyền và tiền, cấu kết với giới chủ tư nhân ở ba mặt: cùng hùn hạp góp vốn kinh doanh và dựa vào nhau; cùng che chắn, tiếp tay và hợp thức hóa các phi vụ; kết hợp đưa người vào đơn vị kinh tế nhằm lũng đoạn và tranh thủ thâu tóm quyền lợi.

Tạp chí Forbes cho thấy thực trạng “đỉnh cao – vực thẳm” của quá trình Việt Nam áp dụng mô hình quản lý đất nước từ Trung Quốc. Số lượng 5 triệu “tư bản đỏ” Trung Quốc chỉ chiếm 0,6% trong 1,3 tỷ dân, nhưng nắm giữ 70% tài sản quốc gia.“Tư bản đỏ” Việt Nam khoảng 650.000 người cũng ngự trị trên sự thiếu thốn, nghèo đói, bệnh tật của khoảng 85 triệu đồng bào, nắm giữ khai thác tài nguyên và mọi nguồn thu. Khi chính phủ công bố sẽ tư nhân hóa 100% doanh nghiệp nhà nước, có thể chủ trương này lại tiếp tục tạo ra môi trường lẫn lộn công tư, tranh nhau chiếm đoạt tài sản mà phần thắng thuộc về cá nhân có địa vị quyền thế, chỉ cốt hình thành thêm những “tư bản đỏ” với mức độ liên kết rộng lớn hơn. Còn tạp chí Foreign Policy thì có bài viết của Bill Hayton với nhận định: “Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đang biến CNTB ở Việt Nam thành doanh nghiệp gia đình”.

Nhìn vào nền kinh tế đất nước ở tầm vĩ mô, thành quả không phản ánh mặt trái, thậm chí mặt trái bị giấu kín, do đó càng không đánh giá rõ khả năng tác động tích cực từ lãnh đạo đất nước. Cuối năm 2009, Tổng cục Thống kê họp báo công bố tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 5,32% so với kế hoạch. Nhưng ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, trong một trả lời phỏng vấn báo chí lại cho biết “tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp”, tăng trưởng “theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm” diễn ra không đồng đều, thiếu bền vững mà biểu hiện là tỷ giá hối đoái và lạm phát, chi tiêu công gia tăng, nhập siêu tăng theo giá nguyên liệu thị trường cung ứng toàn cầu, môi trường bị phá hoại nghiêm trọng… Ông nhận định bằng cách này thì “càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi”. Đó chính là hậu quả trong quá trình phe cánh tư bản đỏ điều hành nền kinh tế.

Đạo đức và chuẩn mực xã hội xuống cấp

Các báo Pháp Luật, Công An, An Ninh, những bản tin công cộng truy nã tội phạm, các chuyên mục an ninh trật tự trên phương tiện thông tin đại chúng… đều cho thấy khả năng của ngành công an trong việc phát hiện và triệt phá các băng nhóm tội phạm. Nhưng thực tế này cũng phơi bày những trang đen tối bạo lực và tệ nạn. Đài Truyền hình Việt Nam hàng năm tổ chức thi phóng sự, vài năm trước phóng sự quay ở Hải Phòng đoạt giải nhất phản ánh nạn hút chích vứt kiêm tiêm đầy mặt đất ở những góc xó không ai quan tâm đến. Các giải khác phản ánh phá rừng, ô nhiễm môi trường…

Hàng cuối tuần, chuyên mục điểm các hiện tượng tiêu cực xã hội, phim cảnh sát hình sự… trên VTV cũng đầy rẫy tệ nạn, có cảm giác như chúng rình rập khắp nơi. Đập vào mắt người xem là nghiệp vụ xử lý của công an, nhưng cũng có người đặt câu hỏi: vì sao càng xử lý, tội phạm càng nhiều? Phải chăng, kết quả xử lý ấy là phần nổi của tảng băng mà nguyên nhân sâu xa của “phần chìm” đã không được đề cập: pháp luật thiếu nghiêm minh ngay từ bản thân cơ quan nắm giữ và thực thi pháp luật, dẫn đến một bộ phận người dân tự do vô tổ chức xã hội, bất chấp lợi ích người khác.

Tệ nạn xã hội còn thấy qua hàng loạt trại giam, trung tâm giáo dục. Có tỉnh vùng rừng núi xây dựng và sử dụng cả chục nhà tù, trại giam, trại cải tạo! Dĩ nhiên xã hội nào cũng có tội phạm, nhưng mức độ cao liên tiếp là đáng báo động. Lại thêm hiện tượng công an bắt tay với xã hội đen mà quy mô lớn nhất là vụ án Năm Cam, giả dạng côn đồ đàn áp giáo dân và những cuộc biểu tình khiếu kiện tập trung, trấn áp thu hồi đất trong khi đền bù rẻ mạt, công an giao thông với nạn chặn xe kiểm tra vòi tiền… Năm 2009, tòa án các cấp phải xử đến 290.000 vụ án lớn nhỏ các loại, ân xá trước hạn 20.000 tù nhân – những con số đều tăng cao so với năm trước. Nói như cha ông ta, đó là tình trạng “Thượng bất chính, hạ tất loạn”.

Ngành văn hóa cũng đề ra năm tiêu chí xây dựng con người mới XHCN, nhưng chưa bao giờ thấy người dân quan tâm hoặc nghe tổng kết, đánh giá đúng thực tế. Con người mới ấy như thế nào, hãy đọc lại tác giả Hà Sĩ Phu trong “Chia tay ý thức hệ”. Ông cho rằng bước qua khỏi chế độ phong kiến, con người phải hướng theo các giá trị phổ quát của thế giới hôm nay”. Đó là: văn minh công nghiệp và tin học, kinh tế thị trường, dân chủ pháp trị. Trong khi chủ trương chập chờn, nghĩ đến một thứ con người mới XHCN giả định nào đấy, thì hậu quả là dứt con người ra khỏi văn minh nhân loại và nếu không trở nên bóng ma ảo tưởng, cũng thành kẻ lưu manh, thiếu văn hóa từ gốc. Theo ông, thông thường một nền văn hóa có thể bị băng hoại khi chính trị và kinh tế xuống dốc, nhưng đối với nền văn hóa vô sản thì tự nó đã có khiếm khuyết ngay cả lúc còn thịnh trị”.

Ở nông thôn, trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới, các thiết chế và cơ sở như nhà văn hóa, bưu điện văn hóa, trung tâm văn hóa, ấp văn hóa, làng văn hóa… được lập ra. Nhưng những nơi ấy cũng chỉ tuyên truyền chính trị, họp ban thôn ấp, cán bộ tuyên giáo nói chuyện ra dân, họp các đoàn thể, biểu diễn văn nghệ. Chưa kể có địa điểm đóng cửa im lìm. Nói cách khác, ở đâu và khi nào xuất càng nhiều sự kiện, hoạt động, cơ sở vật chất… ghép với từ “văn hóa” tưởng phong phú và đa dạng, lại là nơi là lúc càng nghèo nàn văn hóa, độc nhất văn hóa của đảng cầm quyền, làm biến mất bản sắc văn hóa làng. Có nơi còn tái lập hương ước, nhưng nội dung cũng lồng ghép mục tiêu chính trị. Tất cả những cơ sở và thiết chế văn hóa ấy được xây dựng bằng tiền thuế của dân, vì sao hầu như chỉ để phục vụ tuyên truyền cho đảng?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Dũng từng phản ánh sự biến dạng của bộ mặt nông thôn Việt Nam với nhận định nguyên nhân xuất phát từ cơ chế và chính sách quản lý xã hội, nhất là mọi giá trị bị cột chặt bởi đồng tiền trong nền kinh tế thị trường không ổn định ngày nay. Ông cũng nhắc đến truyện ngắn “Trinh tiết xóm Chùa” của Đoàn Lê. Đọc truyện, sẽ thấy một vùng nông thôn với tình trạng hủy hoại các giá trị truyền thống mà suy cho cùng không phải do những người tại chỗ, càng không phải là trường hợp hy hữu. Thời kỳ mở cửa ở Trung Quốc, Lý Xương Bình viết tác phẩm “Tôi nói thật với Thủ tướng” có đề cập hiện trạng “tam nông”: nông thôn thật khổ, nông dân thật nghèo, nông nghiệp thật nguy hiểm. Hiện trạng ấy không khác gì nông thôn Việt Nam hôm nay.

Ở Tây Nguyên, khi cồng chiêng bị thu mua lấy đồng gần hết, ngành văn hóa bỏ tiền mua lại và mời các nghệ nhân hướng dẫn lớp trẻ theo học. Việc này được cho là khôi phục bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhưng người Tây Nguyên bị mất đất, rừng bị khai thác trắng, nhà rông xây bằng bê tông cốt thép “đắp chiếu trùm mền”, du lịch và phim ảnh mang đến những lai căng, lễ hội không còn do chính người bản địa tổ chức, các phong tục bị mai một, những người có tinh thần độc lập dân tộc bị đàn áp và bắt giam… thì việc khôi phục trên cũng chỉ là hình thức. Hãy nhớ rằng UNESCO không công nhận nhạc cồng chiêng mà công nhận không gian văn hóa cồng chiêng của những chủ nhân vùng Tây Nguyên. Không gian ấy bị phá nát thì linh hồn nhạc cồng chiêng còn chỗ trú ngụ chăng?

Trong xã hội cộng sản, các giá trị âm nhạc cổ truyền như nhã nhạc, quan họ, ca trù… đều chịu số phận bị chính trị hóa hoặc quan điểm xem là “tàn dư” nên lọai trừ một thời. Về nguyên nhân, nhà văn Nguyên Ngọc từng nhận định: “Gốc của di sản là làng, mang di sản ra khỏi làng di sản sẽ chỉ còn xác mà không có hồn!”. Trong một trả lời phỏng vấn báo chí, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền còn có một nhận xét đáng quan tâm: “Hiện nay, toàn người biết hát quan họ, chứ gần như không còn liền anh, liền chị chính cống thuở xưa. Quan họ đoàn chỉ coi các nghệ nhân quan họ gốc như một thứ tài nguyên để khai thác được một số việc. Còn lại thì toàn bộ sự chuyển giao của tinh hoa nghệ thuật quan họ bị chặt đứt”. Ông cũng cho rằng nhiều nét văn hóa đặc sắc của quan họ như hát canh, kết chạ, ngủ bọnđã mất, quan họ đang bị biến dị thành ngửa nón xin tiền.

Ngay sau đó, ông Hiền bị lãnh đạo ngành văn hóa các cấp kiến nghị cấp trên xử lý kỷ luật vì đã “xúc phạm ghê gớm đến người dân các làng quan họ” và yêu cầu phải công khai xin lỗi. Nhưng hiện tượng trên là có thật, từng bị báo chí phản ánh. Giáo sư Ngô Đức Thịnh còn cho biết: “Chúng ta nói với UNESCO có hát canh, kết chạ, ngủ bọn. Còn nữa đâu!”. Để bảo lưu ý kiến của mình, ông Bùi Trọng Hiền đã khẳng định: “Đến nay vẫn không một ai chính danh đăng đàn đối thoại với tôi về mặt khoa học”. Ngẫm lại mới thấy việc lên án, phê phán các nhân tố và hiện tượng giết chết giá trị di sản của cha ông không phải là dễ, đôi khi còn lãnh nhận hậu quả do dũng cảm nói lên sự thật!

Theo các nhà nghiên cứu, năm 1945 Hà Nội còn trên 2.000 nghệ nhân đàn hát ca trù. Ngay sau đó, tất cả phải giải nghệ, thay vào là chủ thuyết đề cương văn hóa mới. Hậu quả kéo dài nặng nề dẫn đến năm 2006, cả nước còn 21 người, nay còn dưới 10 người đều cao niên. Với tổng số 99 thể cách ca trù xưa, các nghệ nhân chỉ còn biết khoảng 15 thể điệu, tài liệu và băng đĩa sưu tầm chưa đầy 30 thể điệu. Trong khi hồ sơ ca trù của Nhà nước Việt Nam thể hiện rõ phương án bảo vệ và được UNESCO đánh giá cao thì dân dã nôm na nhận xét: “Mất bò mới lo làm chuồng”.

Cách xây dựng hồ sơ chỉ như phát động phong trào, báo cáo thành tích, thậm chí tiếp tục để cho di sản bị thương mại hóa biểu hiện quyết tâm chứ không có thành tâm giữ gìn. Quyết tâm mà không có thành tâm rất dễ dẫn đến phá hoại. Vì sao các thế hệ lãnh đạo không phải chịu trách nhiệm trước sự biến mất rất nghiêm trọng không thể phục hồi nhiều giá trị vật thể lẫn phi vật thể chủ yếu do quan điểm Mác-xít? Trong khi đó, không ít phát hiện, phục dựng, tôn tạo và kêu gọi bảo vệ văn hóa Việt Nam lại do các nhà nghiên cứu độc lập ở nước ngoài tiến hành.

Những vấn đề nhức nhối của xã hội ngày nay thường được các cơ quan ngôn luận xem như hiện tượng cá lẻ, do đó thiếu trách nhiệm xử lý đúng mức, đúng tầm, đúng ngọn nguồn. Đến khi khối ung nhọt vỡ ra, phương tiện thông tin đại chúng lại làm như rất trách nhiệm “gióng lên hồi chuông cảnh báo”: bạo lực và tệ nạn xã hội thâm nhập vào trường học và cả gia đình, các quan hệ xã hội bị định đoạt bởi giá trị vật chất, khai thác internet ở giới trẻ phần lớn là game chat lừa nhau, tạo ra thứ ngôn ngữ gãy nát lóng bồi và nghĩa đen thô thiển giết chết Tiếng Việt phong phú trong sáng…

Người ta không tưởng tượng nổi ngày nay lại có chuyện học trò đánh thầy cô, bạo hành giữa nữ sinh với nhau, mua bán và dụ dỗ ép dâm đối với nữ sinh, con đánh hoặc kiện cha mẹ… Phải chăng sự đảo lộn này cũng tương tự tiền lệ đã có từ cải cách ruộng đất? Các loại “tặc” cũng xuất hiện bất cứ ở đâu có quyền lợi vật chất có thể chiếm đoạt được: sa tặc, lâm tặc, đinh tặc, hải tặc, xa lộ tặc, cẩu tặc… Và phải chăng sự ngang nhiên này cũng có từ những chiến dịch cưỡng đoạt tài sản đã diễn ra? Theo nhà văn Nguyễn Khải, xã hội cộng sản là xã hội: “kẻ vô luân nói chuyện đạo đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công, người hống hách lại là tên nịnh bợ bậc nhấtAnh dốt thường làm ra vẻ thông thái, thằng nhác rất thích xuất hiện như người anh hùng, một chính khách đầu óc rỗng tuếch luôn tỏ ra uyên bác bằng những lời vô nghĩa”.

Trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trở nên lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm lẫn nhau. Truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam bị tác động bởi mặt trái của di dân và chuyển dịch cơ cấu lao động từ thành thị ra nông thôn, từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ việc làm mang tính nghĩa vụ và đạo đức sang bị thu hút vào việc làm có tiền, từ trong nước ra nước ngoài… Việc hình thành mô hình gia đình hai thế hệ thay cho gia đình nhiều thế hệ trong chính sách kìm hãm bùng nổ dân số, gia đình thiếu thuyết, gia đình sống thử, rồi tác động tiêu cực của đời sống vật chất… cũng ảnh hưởng không nhỏ. Cái mới tốt đẹp chưa thấy, cái cũ vẫn còn giá trị đã bị ngang nhiên chà đạp, thậm chí bứng bỏ tận gốc.

Các Luật bảo vệ – chăm sóc – giáo dục trẻ em, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình cùng các văn bản hướng dẫn, phát động phong trào, việc làm… xuất hiện như một nỗ lực chậm chân. Vì thế, phụ nữ và trẻ em vẫn bị bạo hành. Theo AsiaNews, từ năm 1998 đến nay, khoảng 4.500 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị cung cấp cho các đường dây mại dâm. Từ các ngả Campuchia, Lào và nhất là Trung Quốc thu nhận đến 65%, phụ nữ và trẻ em bị đưa sang châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Trẻ em bị giao bán trực tuyến trên mạng điện tử. Phụ nữ bị đẩy vào chốn mại dâm chỉ còn là ô-shin và nô lệ tình dục. Trong khi đó, hoạt động can thiệp và phối hợp chặn đứng buôn người từ Nhà nước Việt Nam với các nước lân cận không hiệu quả.

Chính sách xuất khẩu lao động và nạn buôn bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài nói trên được điều hành bởi một số “đầu mối” “đường dây” săn lùng, thu tuyển. Về hình thức có thể dễ chấp nhận hơn, nhưng về bản chất không khác mộ phu đồn điền thời Pháp: càng thu tuyển nhiều, càng kiếm lợi cao. Đã có dư luận cho rằng đây là kiểu trá hình của chế độ nô lệ ở thời đại ngày nay dưới tên các gọi “khai thác thị trường sức lao động”, xóa đói giảm nghèo”. Tại một buổi điều trần, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng – Giám đốc điều hành Ủy ban cứu người vượt biển có trụ sở tại Virginia công bố: “Chúng tôi có chứng cứ cho thấy những giới chức cao cấp trong Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có can dự vào vấn đề buôn người hoặc là bao che cho những kẻ buôn người”.

Trong số phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài, 88% thuộc hoàn cảnh kinh tế khó khăn, 33% không nghề nghiệp hoặc thu nhập không ổn định. Ngành công an cho biết hơn 1.200 đối tượng hoạt động phi pháp đang bị điều tra theo dõi, nhưng con số ngoài vòng pháp luật còn cao hơn nhiều. Theo quy định, mức xử lý hành chính tổ chức môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái pháp luật, trái thuần phong mỹ tục chỉ từ 1 đến 2 triệu đồng/lần – một khoản phạt rất nhỏ so với mối lợi quá lớn. Vì thế có đối tượng bị xử phạt đến 7 lần vẫn tái phạm.

Năm 2006, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra số liệu: gần 1 triệu trẻ tham gia vào các hoạt động kinh tế với việc làm nặng nhọc và độc hại, 22,6% trẻ dưới 15 tuổi phải giúp việc gia đình, 71,6% bỏ học đi làm, 43,1% trẻ làm những việc đơn điệu với 85 giờ/tuần. Cùng với các làng trẻ em, làng SOS đã thành lập, vào tháng 3-2010 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phải tiếp tục ký với các tổ chức viện trợ nước ngoài dự án trị giá 2,5 triệu euro hướng đến việc đưa 5.000 trẻ ra khỏi các hình thức lao động tồi tệ. Trong khi đó, phương tiện truyền thông Việt Nam vẫn nêu cao khẩu hiệu: “Hãy dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất” mà chưa bao giờ tổ chức điều tra và nêu những số liệu như ILO và báo chí tự do.

Thực trạng trên cho thấy xóa đói giảm nghèo vẫn chưa đạt kết quả tốt đẹp như báo cáo, pháp luật vẫn bị động và lạc lõng trước thực tế hội nhập, đoàn thể phụ nữ trong hệ thống chính trị càng bất lực trong khi phụ nữ và trẻ em bị đẩy ra khỏi mái ấm gia đình, ra khỏi làng quê, đất nước. Phần lớn các yếu tố tốt đẹp từng hình thành gia đình Việt Nam đang trở nên mỏng manh xao động như ánh sáng ngọn nến, muốn thắp lên và giữ cho tỏa sáng giữa giông bão hôm nay là một lo lắng thách thức từng giờ từng ngày!

Hãy nhìn vào một góc nhỏ trong di sản của cha ông. Các giá trị dân chủ xã hội ngày xưa thường là sống có lòng nhân, thương người, tình nghĩa, dân vi bản, dân là nước có thể làm nổi hay lật thuyền, khoan thư sức dân để sâu rễ bền gốc trong trị vì… Lê Quý Đôn từng chỉ ra những dấu hiệu của những thời kỳ xã hội suy đồi:

“Trẻ không kính già

Trò không trọng thầy

Binh kiêu tướng thoái

Tham những tràn lan

Sĩ phu ngoảnh mặt…”

Đối chiếu những dấu hiệu của các vương triều tiêu cực xưa với thực trạng xã hội hiện nay, sẽ thấy nhiều hiện tượng trùng lặp. Trong khi Đảng và Nhà nước Việt Nam chối bỏ các giá trị dân chủ phương Tây với lý do không tương thích, đến các giá trị truyền thống Việt Nam phải chăng không những trở nên xa lạ mà còn bị đảo ngược và loại bỏ nốt?

Về tình trạng tham nhũng và bắt người trái phép lâu nay, có người đặt vấn đề ở một góc nhìn khác: phải chăng đây là cơ sở đánh giá đạo đức chế độ? Tham nhũng không chỉ là bất công hay tội phạm, bắt người trái phép không chỉ là sai pháp luật, mà chính là đức trị và uy tín cầm quyền đã xuống dốc. Chỉ có xã hội với hệ thống cầm quyền bất lương mới có tù nhân lương tâm. Tù nhân lương tâm là những công dân dũng cảm dám nói lên tiếng nói con người phản ánh trung thực xã hội, hướng đến tự do. Trường hợp Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức cùng nhiều người khác đang bị buộc tội và giam giữ là tù nhân lương tâm, là dấu hỏi lớn chất vấn phẩm chất của một đảng cầm quyền.

Toàn xã hội nhiễm nặng tính Đảng cũng làm chuẩn mực đạo đức tự nhiên và yếu tố “nhân chi sơ” ở con người bị biến dạng. Sáng tác và biểu diễn văn hóa nghệ thuật, ca ngợi và thần thánh hóa các lãnh tụ, tất cả các lễ hội đều lồng ghép tuyên truyền chính trị và thương mại, giáo dục trong nhà trường cũng bị chính trị hóa. Các phương tiện truyền thông đại chúng đều chỉ thông tin trên một nguyên tắc. Các hình thức cổ động trực quan nơi công cộng và đường phố đều nêu chủ trương đường lối. Người ta khó tìm thấy một tác phẩm nghệ thuật đáng giá ở nơi nghỉ ngơi hay vui chơi để có thể thưởng thức. Một thư viện đúng nghĩa là môi trường học thuật để khảo cứu khách quan và phong phú kiến thức càng không thể đạt chuẩn.

Và nếu để ý sẽ thấy từ khi ra đời đến nay, lĩnh vực nào kèm theo đảng tính cộng sản, đều màu đỏ đi liền. Thời còn hoạt động bí mật: các “Khu đỏ” tắm máu: phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, Phú Riềng Đỏ, công hội đỏ, nông dân đỏ, thanh niên đỏ, cứu tế đỏ… Thời xây dựng XHCN ở miền Bắc: tranh ảnh appich cổ động đỏ, nhạc đỏ, thơ đỏ, băng-rôn khẩu hiệu đỏ…Ngày nay, đảng viên có chức quyền trở thành “địa chủ đỏ”, “tư bản đỏ”. Trong việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, gia nhập thêm lớp trẻ vào hàng ngũ Đảng gọi là “hạt giống đỏ”, “lý lịch đỏ”. Mới tuổi thiếu nhi đã mang khăn quàng đỏ… Đảng kỳ đỏ, cờ tổ quốc đỏ, cờ Đoàn cờ Đội màu đỏ, báo điện tử Đảng Cộng sản phông nền đỏ… Cộng sản Việt Nam từng đánh nhau với cộng sản Khmer Đỏ…

Mỗi lần thêm khái niệm “Đỏ” là một lần đánh dấu sự hy sinh bằng xương máu và những mất mát vô hình khó thấy. Trong hội họa, màu đỏ là gam màu mạnh và nóng, thường dùng cho chủ đề cảnh báo. Trong các câu chuyện cổ tích và thần thoại, màu đỏ gắn với hành quyết, khát máu. Màu đỏ là màu của những cuộc chiến quyền lực tranh giành bá chủ võ lâm… Và do đó, màu đỏ không thể nào là biểu tượng bình yên. Nhưng đằng sau hình thức được ra sức nhuộm đỏ ấy lại là những thực trạng xám xịt bị che giấu, lẩn khuất nhiều thời kỳ. Đó là sự thật của một Đảng đỏ.

Chỉ riêng bàn một chữ “Lễ”, cũng đủ thấy bất cập. Cả xã hội đầy lễ hội chính trị: 3-2, 30-4, 19-5, 27-7, 2-9, 22-12, ngày truyền thống, lễ phát động các cuộc thi, các cuộc vận động, lễ ra quân, lễ ra mắt, khai mạc, khánh thành, sơ tổng kết, đại hội các cấp các ngành, gặp mặt, tuyên dương… Các lễ hội dân gian cũng bị chính trị hóa bởi phần lớn đạo diễn thực hiện theo yêu cầu đơn đặt hàng của ngành văn hóa, mà không phải là các nghệ nhân hay bậc cao niên ngay tại địa phương làm chủ lễ. Một số lễ hội khác bị lợi dụng buôn thần bán thánh, tràn ngập yếu tố đồng tiền hay phục hồi các hủ tục nặng nề.

Lễ hội trong nhà nước thì lập dự trù kinh phí cao, tổ chức tiết kiệm để có dư – một cách hợp thức hóa việc rút tiền của dân đóng thuế vào. Nghĩa trang liệt sĩ và các đài tưởng niệm cách mạng như đã đề cập thì hoành tráng khắp nước và các đoàn trịnh trọng đến viếng thường xuyên. Những nghĩa trang nhân dân thì ngược lại. Lễ mà phân biệt lý lịch đến cả người chết, chỉ có thể do những người cộng sản nghĩ ra! Hãy nhớ rằng trong đời sống tâm linh dân tộc, ngày 16 ÂL hàng tháng nhà nào cũng cúng cho các vong hồn “thập loại chúng sinh” với quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận” mà không phân biệt bất cứ ai, nay vẫn duy trì.

Tại Lễ giỗ vua Hùng năm 2009 có chuyện bán lẻ chiếc bánh chưng đạt giải nhất vừa tham gia cuộc thi làm vật sản dâng tiến mà người bán cho là “lộc thánh”. Đã lộc thánh còn rao bán và thậm chí trả giá rẻ đắt! Nếu Lang Liêu sống lại, ông không thể tưởng tượng nổi “tấm lòng hiếu thảo” của hậu sinh với tổ tiên! Chưa hết, trước sân đền nơi thờ Lạc Long Quân còn có bảng danh sách ghi tên các đơn vị và cá nhân đóng góp! Tượng đài Chiến thắng Điện Biên là “đồ cúng”, nhưng chưa cúng đã bị “ăn” trước bằng hình thức rút ruột công trình nên tượng nứt bệ sập. Từ Festival Huế đến Lễ hội chùa Hương, các bước khởi động cũng lộ rõ “ăn theo”, lợi dụng thu nhập qua hình thức tài trợ và ký kết hợp đồng. Các dịp lễ riêng tư gia đình, nghi lễ vòng đời người… cũng đi liền với chữ “lộc”. Quan chức càng cao, lễ càng lớn, lộc càng nhiều.

Đầu năm 2010, Lễ hội Nghìn năm Thăng Long bắt đầu sôi động việc chuẩn bị và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin. Hàng chục tượng đài, bia kỷ niệm được dựng mới, các khu phố cổ được trùng tu, nhiều quyển sách được đặt viết, các sông và lòng hồ được nạo vét, cầu Văn hóa qua sông Hồng, Công viên nghìn năm, Tháp nghìn năm, Thư viện và Bảo tàng Hà Nội… Trên VTV Truyền hình Việt Nam có hình thức đếm ngược số ngày như cách đếm ngược số giây trên đồng hồ tháp Bibang đón giao thừa ở nước Anh. Hàng loạt bộ phim truyện lịch sử, phim truyền hình nhiều tập (Ngàn năm thương nhớ Thăng Long 120 tập, Ký sự Thăng Long 104 tập, Danh tướng Trần Thủ Độ, Huyền sử Thiên đô) sẽ được trình chiếu cùng với biểu diễn các loại hình nghệ thuật sân khấu…

Quan trọng hàng đầu là bộ phim nói về vua Lý Thái Tổ, dự trù chi phí 200 tỷ đồng, được quay tại Hoa Nam Trung Quốc. Trong các bài bình luận, nhà báo Bùi Tín cho rằng chủ trương Năm hữu nghị Việt Trung và tổ chức lễ hội nghìn năm trong bối cảnh 2010 với hai mục tiêu ý nghĩa đối lập nhau là “tréo cẳng ngỗng”, việc nhờ Trung Quốc dựng phim lịch sử Việt Nam chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc là “giao trứng cho ác”, việc Việt Nam thuê Trung Quốc chỉ đạo nghệ thuật và huy động hàng ngàn diễn viên khối đông người Hoa đóng phim ngay trên đất Trung Quốc là hiện tượng “Lý Công Uẩn bị bắt cóc”. Biết bao tiền của để làm một đại lễ dân tộc chỉ ở một địa điểm mà hình thức vừa Việt – vừa Tây – vừa Tàu. Đây là dịp chia chác ngân sách và kêu gọi tài trợ không hơn kém.

Ngày xưa, Lý Công Uẩn dời đô còn chinh thân đi xem địa hình, họp bàn thăm dò ý kiến quần thần, tự tay viết thảo lời chiếu dụ thuyết phục bằng lý trí, tình cảm và trách nhiệm đối với dân tộc. Còn bây giờ, đại lễ tổ chức kỷ niệm chính sự kiện này mà linh hồn là bộ phim về Lý Công Uẩn lại phải nhờ đến ngoại lực thực hiện. Chữ “Lễ” chỉ còn là một cái vỏ của hình thức hào nhoáng và vụ lợi. Cho nên, xuất phát từ chế độ “sính lễ”, đảng viên và một bộ phận người dân cũng làm theo. Phải chăng đó cũng là biểu hiện của “điềm suy xã tắc”?

 

 

 

Chủ quyền đất nước

 

Biên giới đất liền

Về biên giới đất liền, nhìn lại toàn bộ lịch sử, việc Trung Quốc lấn chiếm nhằm nới rộng lãnh thổ thường diễn ra với các nước giáp biên, nhất là Việt Nam. Năm 1885, sau khi chặn đứng tranh giành đất đai của nhà Thanh tính theo tả ngạn và hữu ngạn sông Nhị, Pháp lấy Đồng Đăng và nhà Thanh lấy Nam Quan làm bản doanh, hai bên cử đoàn khảo sát phân định đường biên. Từ 1945 đến trước 1969, biên giới “núi liền núi sông liền sông” được Đảng Cộng sản hai nước duy trì. Khi chiến tranh Xô – Trung diễn ra, Trung Quốc xem Liên Xô là kẻ thù, cho rằng bạn của bạn là bạn, bạn của thù là thù. Việt Nam là bạn của Liên Xô nên Việt Nam cũng là kẻ thù của Trung Quốc.

Trung Quốc từng gây khó khăn khi Liên Xô chuyển vũ khí sang miền Bắc bằng tàu hỏa liên vận. Đồng thời, tại Hữu Nghị Quan, khi giúp khôi phục đường sắt về Hà Nội, Trung Quốc đặt điểm nối đường ray hai nước sâu vào nội địa Việt Nam trên 300m. Các hình thức xâm canh, các công trình quân sự cũng chủ động lấn sang. Trong cuốn sách “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay” của NXB Sự thật 1979, có đoạn: “Năm 1955 – 1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỉ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành của Trung Quốc”. Đã biết một láng giềng hàng ngàn năm từng thôn tính và xâm lấn, giới lãnh đạo Việt Nam còn nhờ vẽ bản đồ với một lòng tin!

Trung Quốc xâm lấn bằng cách nào? Cuốn sách cho biết: thác Bản Giốc ở khu cột mốc 53 trên sông Qui Thuận, từ lâu Trung Quốc vẫn công nhận là của Việt Nam. Nhưng cuối tháng 2-1976, Trung Quốc huy động trên 2.000 người, có bộ đội lập “hàng rào bố phòng” quanh khu vực thác, cấp tốc xây dựng đập chắn nước kiên cố ngang qua sông và công bố chủ quyền Cồn Pò Thoong. Trước đây, Bộ Văn hóa – Thông tin phát hành tập ảnh phong cảnh đất nước, trong đó có Bản Giốc. Hiện báo chí Trung Quốc quảng cáo tour du lịch mà một trong các điểm đến cũng tại khu vực thác đã lấn chiếm.

Như đã đề cập, sau 1975 đường lối ngoại giao Việt Nam nghiêng về Liên Xô. Trung Quốc nhận định Việt Nam không những vô ơn, mà còn là “tiểu bá” phía Nam sẽ cùng với “đại bá” Liên Xô ở phía Bắc bao vây Trung Quốc. Vì thế, Trung Quốc kết nối quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và các nuớc trong năm 1978, khởi động cuộc chiến dạy một bài học. Khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đường lối ngoại giao của đảng cầm quyền trong nước trở lại thân thiết với Trung Quốc, từng bước bị cột chặt và trở nên bạc nhược.

Tháng 12-1999, sau 54 năm cầm quyền, Nhà nước Việt Nam mới ký xong Hiệp ước về biên giới đất liền, thêm 9 năm sau mới tuyên bố hoàn thành cắm mốc đất liền dài 1.347 km. Năm 2001, khởi đầu cắm mốc ở Móng Cái – Đông Hưng. Bảy năm sau, cắm thêm 1.991 mốc. Mỗi bên độc lập thực hiện các chuyến bay dọc biên giới chụp không ảnh, rồi đối chiếu. Kết quả 900/1.647 km đường biên trùng nhau, 445 km với 160 điểm không trùng. Giải pháp xử lý là chia đôi như chia bánh. Một bộ phận làng xóm Trung Quốc sang Việt Nam và ngược lại. Bản Ma Lý Sàng, nghĩa trang ở Lào Cai, rừng hồi Quảng Ninh, phần lớn thác Bản Giốc… do đó thuộc về Trung Quốc.

Vấn đề là Trung Quốc đã lấn sang, nay chấp nhận mất một số đất đã lấn, lại được thêm một số đất từ chia đôi phần không xác định. Kết cuộc, Trung Quốc vẫn được trọn vẹn đất đã lấn. Về đàm phán, trong những buổi chính thức, Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi, đưa đi tham quan. Khi phái đoàn Việt Nam mỏi mệt muốn ra về, họ kéo lại bắt đầu vấn đề chính. Về các tài liệu và sách in trước đây, nay phía lãnh đạo Việt Nam im lặng, không tiếp tục điều chính mình phản đối trước kia nữa – lời nói và hành động bất nhất, sự thật trở thành không sự thật dễ như sấp ngửa bàn tay. Nhưng sự thật vẫn còn đó!

Biển đảo

Biển Đông với chín nước bao quanh là khu vực hàng hải đông đúc thứ hai sau Địa Trung Hải. Việt Nam có 28 tỉnh thành có bờ biển, tổng cộng cả nước bờ biển gần 3.500 km. Theo quy định quốc tế, Việt Nam chiếm 2/3 diện tích biển Đông với 3.000 đảo, gấp ba lần đất liền. Trường Sa và Hoàng Sa đều gần đất liền Việt Nam so với đất liền Trung Quốc. Theo Hòa ước Pháp – Thanh, người Pháp đã quản lý hai quần đảo này, dựng bia chủ quyền. Việt Nam cũng từng ban hành hai văn bản quan trọng công nhận chủ quyền hai quần đảo vào năm 1933: Dụ số 10 của vua Bảo Đại quyết định Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, Nghị định số 4702-CP của Thống đốc Nam Kỳ Krautheimer quyết định Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa.

Sau khi Pháp rút quân, Trung Quốc đập phá các bia, xóa bỏ dấu tích làng mạc, nghĩa trang người Việt. Tại Hội nghị San Fransisco 1951, các nước bỏ phiếu công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc có mặt đều không phản đối. Năm 1956, hải quân Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm. Hai năm sau, Trung Quốc công bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Trước 1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận không phân chia ranh giới biển với Trung Quốc, mà chỉ có Hiệp định thành lập khu hợp tác đánh cá chung, trong đó Việt Nam được 53% diện tích. Về sau, vấn đề được đặt ra thì Trung Quốc trả lời: gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác. Đồng thời, để cùng chống Mỹ, tháng 9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi một công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, chấp nhận một văn bản của Trung Quốc công bố lãnh hải tính từ đất liền ra 12 hải lý, bao trùm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1961, Nhà nước Việt Nam Cộng hòa ở phía Nam căn cứ luật pháp quốc tế, ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Từ năm 1964 đến năm 1970, một số trận chiến giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa diễn ra. Năm 1973, khi Hiệp định Paris ký kết, Hoa Kỳ rút Hạm đội 07 ra khỏi khu vực. Lợi dụng tình thế, Trung Quốc chiếm một số đảo. Trong trận hải chiến tháng 1-1974, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Những ngày sau đó, tại Sài Gòn buổi tang lễ trọng thể gồm hàng trăm người ngậm ngùi tưởng nhớ 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa  hy sinh đã diễn ra.

Một trong những người con anh dũng của tổ quốc là Hạm trưởng Hộ tống hạm HQ-10 Ngụy Văn Thà. Trong khói hương và nhạc tang, công lao của các anh hùng bảo vệ đất nước đã được ban lễ tang xướng ghi: “74 anh hùng tử sĩ Hoàng Sa, những người con yêu của tổ quốc, những người lính biển đã ra đi và không bao giờ trở lại. Người thì ở lại Hoàng Sa cùng với Hộ tống hạm HQ-10 để làm chứng tích cho chủ quyền của đất nước trên vùng lãnh hải này. Người thì trôi dạt trên biển cả, tất cả đã chìm sâu trong lòng của biển mẹ Việt Nam”…. Cũng lúc này, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phía Bắc tuyên bố: “Các nước liên quan (Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa) nên giải quyết mâu thuẫn bằng đàm phán trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và quan hệ láng giềng”, xem như không có trách nhiệm đối với Hoàng Sa thuộc Việt Nam bị Trung Quốc chiếm.

Giữa tháng 3-1988, hải quân Trung Quốc bắn chìm ba tàu vận tải của hải quân thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam. Thêm 74 chiến sĩ thế hệ sau hy sinh, một số đảo trong quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc chiếm giữ. Nối liền các sự kiện càng nổi rõ thôn tính Việt Nam là chính sách lâu dài và thường trực của Trung Quốc, bất kể vào thời kỳ hay thể chế nào. Với Trung Quốc, lợi ích dân tộc luôn ở vị trí hàng đầu cho dù phải cưỡng chiếm lợi ích dân tộc khác. Nhưng giới lãnh đạo Việt Nam đã bị mắc lừa qua lời kêu gọi cùng bắt tay chống kẻ thù chung và thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản.

Ngày nay, dựa vào Công hàm 1958, Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã chấp nhận vùng biển có hai quần đảo trên thuộc Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc cũng ra sức chứng minh bằng khảo cổ, công bố bản đồ hình chữ U chín vạch hay khái niệm lãnh hải đường lưỡi bò kéo dài xuống phía Nam. Báo cáo của Trung Quốc tại LHQ sở hữu 80% diện tích biển Đông. Trong nước, Trung Quốc tuyên truyền với người dân rằng Tây Sa (Hoàng Sa) không còn là vấn đề bàn cãi, còn Nam Sa (Trường Sa) là cơ nghiệp ngàn năm trước để lại cho con cháu đời sau. Tháng 11-2007, Quốc Vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Thành phố Tam Sa (Hoàng Sa, các đảo ở Trường Sa) thuộc tỉnh Hải Nam và là vùng biển đảo nằm trong chiến lược xây dựng căn cứ hải quân nước xanh (ngoài khơi xa). Tháng 6-2009, Trung Quốc xây dựng sân bay quân sự trên đảo Vành Khăn, buộc các công ty nước ngoài thăm dò dầu khí với Việt Nam rút đi, tiến hành tập trận với tình huống giả định tàu Việt Nam ngăn cản hoạt động tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc và họ ra tay.

Từng xảy ra các vụ đánh đuổi, bắt giam đòi tiền chuộc đối với ngư dân Việt Nam khai thác trên vùng biển bị Trung Quốc chiếm. Tháng 8-2009, trong sự kiện ngư dân miền Trung bị bắt ở Hoàng Sa và sau đó thả ra, thông tấn xã Việt Nam đưa tin: “25 ngư dân Quảng Ngãi đã từ Trung Quốc trở về”. Tàu của ngư dân bị tàu khác đâm chìm ở ngoài khơi thì truyền thông đại chúng trong nước xác định đó là “tàu lạ” và không thấy lực lượng hải quân can thiệp bảo vệ. Theo dõi những tin tức trên và nhiều diễn biến khác, nhà văn Dương Thu Hương đã chia sẻ: “Cũng như tất cả những người Việt Nam khác có băn khoăn về tương lai của đất nước, tôi lo nhất là họa Bắc thuộc lần thứ hai của Tàu sừng sững trước mặt mình”.

Chưa hết, báo điện tử Đảng Cộng sản còn đưa tin hải quân Trung Quốc tập trận, trong đó gián tiếp công nhận hoạt động này nằm trên lãnh hải Trung Quốc. Dư luận người Việt trong và ngoài nước phản đối kịch liệt, trang báo đảng bị nhà nước của đảng phạt hành chính 30 triệu đồng và âm thầm gỡ bài xuống mà không có một lời đính chính, tổng biên tập cũng không bị cách chức. Một trò diễn phạt như lấy tay che mặt trời. Khi Việt Nam công bố Hoàng Sa thuộc Đà Nẵng và bổ nhiệm nhân sự đứng đầu chính quyền huyện đảo thì Trung Quốc ngay sau đó cũng có quyết định thành lập đơn vị hành chính thôn đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) và Triệu Thuật (Đảo Cây) tại Hoàng Sa.

Lãnh hải đường lưỡi bò của Trung Quốc tiềm tàng một “Bạch Đằng Giang trên biển” ngày nay (Ảnh: UNCLOS và CIA)

Để có thể giải quyết chủ quyền biển đảo một cách dứt điểm, Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ đưa vấn đề ra tranh luận trước Hội đồng LHQ. Xem một You-Tube trên mạng, trong chuyến đến Trường Sa, một đoàn viếng thăm làm lễ tưởng niệm các chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh năm 1988. Sau lễ, những tràng hoa, vật dụng sinh hoạt hàng ngày được thả xuống biển với niềm tin tâm linh sẽ gửi được sang “thế giới bên kia” cho những người lính đã hy sinh. Một mặt đoàn viếng thăm tri ân trân trọng nhưng phân biệt giữa những chiến sĩ đã hy sinh vì biển đảo năm 1974 và 1988, mặt khác Việt Nam lại im lặng và gián tiếp công nhận chủ quyền biển đảo bị cưỡng chiếm thuộc Trung Quốc, phải chăng những vật dụng và vòng hoa mang thả xuống biển kia là ngụy tín?

Gần đây, luật sư Cù Huy Hà Vũ kiến nghị lãnh đạo đất nước xây dựng đài tưởng niệm tất cả những người lính hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa các thời kỳ. Nhưng cũng như việc kiện Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị lại rơi vào im lặng. Việc lúng túng trả lời cho thấy đảng cầm quyền đã đảng hóa lịch sử dân tộc trong thời gian dài, bao che Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc xâm hại chủ quyền đất nước để có chỗ dựa dẫm tồn tại. Giới lãnh đạo Việt Nam nghĩ gì về những người lính nhà Nguyễn, những người lính Quân đội Việt Nam Cộng hòa, những người lính Quân đội nhân dân Việt Nam đã máu đổ và trầm mình xuống biển vì Hoàng Sa và Trường Sa; nghĩ gì về Công hàm 1958 và sự bạc nhược của mình hiện nay? Công và tội – nhất định lịch sử sẽ soi sáng, dân tộc sẽ phán quyết!

Đường lối ngoại giao

 

Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đang đóng một vở kịch. Mở đầu chiến tranh 1979, lãnh đạo Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Dạy cho Việt Nam một bài học”. Việt Nam kết tội Trung Quốc là “phản thầy hại bạn”. Sách của NXB Sự thật trước đây không còn, nhưng ở Việt Nam lại có cuốn sách dịch từ Trung Quốc ca ngợi Đặng Tiểu Bình, nhân vật từng gọi Việt Nam là “côn đồ”, nay lại là “một trí tuệ siêu việt!” Với biển đảo, bước đầu lãnh đạo trong nước im lặng, chỉ đạo công an kết tội và bắt giam người dân phản đối Trung Quốc. Về sau, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng lên tiếng để trấn an dư luận, mà không có bất kỳ hành động cụ thể nào giành lại chủ quyền. Càng khó hiểu hơn khi Bộ Chính trị vẫn đề cao “4 tốt”, “16 chữ vàng” và có các chuyến viếng thăm “nồng ấm tình hữu nghị” đến Trung Quốc.

“Năm hữu nghị Việt – Trung” 2010 mở đầu bằng hoạt động Đảng Cộng sản hai nước tổ chức hội thảo khoa học kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, trong đó tuyên bố: hai bên lúc nóng lúc lạnh, lúc đầm ấm lúc cam go nhưng có cả trăm lý do hợp tác mà không có một lý do mâu thuẫn, rồi lịch sử đã xếp đặt Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng của nhau mà không ai có thể thay đổi được… Nghe những tuyên bố đó để nhớ lại bao trang sử người Việt bị ngàn năm đô hộ, nhớ lại lời vua Lê Thánh Tông căn dặn quan quân xưa: Phải cương quyết tranh biện chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe có thể sai sứ sang tận triều đình của họ, trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất  của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”. Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam còn công nhận lịch sử và kế tục sự nghiệp cha ông, hãy nên tự nhận và tự thi hành mức án thích đáng về tội của chính mình.

Theo ông Dương Danh Dy, nguyên Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, thì Việt Nam “không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải chúng ta không có lý, không phải người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên”. Phía Trung Quốc cũng cho biết hai nước đã “thỏa thuận bỏ lại quá khứ và mở ra tương lai”. Giữa Việt Nam và Trung Quốc có “nghĩa lớn” gì? Khép lại chuyện cũ càng không có nghĩa là cắt xén hay làm sai lệch lịch sử. Ngay cả phương tiện thông tin đại chúng và báo chí trong nước có lúc ca ngợi mối quan hệ, lại có lúc phản đối Trung Quốc lấn chiếm biển đảo và khẳng định chủ quyền. Giải thích như thế nào về thái độ bất nhất này? Chỉ có thể trong Bộ Chính trị tồn tại những nhóm quan điểm và lợi ích khác nhau. Tiếng nói thông qua Bộ Ngoại giao mâu thuẫn từng thời điểm là biểu hiện ra ngoài phải xoay chiều theo sự phản ứng trái ngược trong nội bộ ấy.

Hàng ngàn năm qua, thế hệ cha ông ra sức ngăn cản Hán hóa bao nhiêu, thì ngày nay yếu tố này diễn ra trên cả nước, ở mọi bình diện và mức độ: các chương trình hợp tác của nhà nước, các cuộc gặp chính thức qua ngoại giao, trao đổi các đoàn cán bộ nghiên cứu và học tập, “hàng Tàu” làm chủ thị trường, quân đội Trung Quốc chiếm biển đảo bằng vũ lực, tiền polymer giả với số lượng lớn xâm nhập vào mạch máu kinh tế trong nước nguồn gốc từ biên giới phía Bắc, hàng hóa ào ạt vào Việt Nam, phụ nữ và trẻ em bị bắt cóc sang Trung Quốc… Thế hệ trẻ khó thoát ra khỏi tần suất dày đặc những sách truyện và phim ảnh Trung Quốc. Trong bài thơ “Một ngày khác mọi ngày”, nhà thơ Bùi Chí Vinh viết:

          ”Chào một ngày đất nước tự tiêu vong

Cỗi rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc

Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm,

                          Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc

Panô giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di,                      

                         Thành Long phơi phới toét miệng cười…”

Ẩn số của đường lối ngoại giao không ổn định ấy tuy chưa giải mã chính thức, nhưng cũng có thể nhận định ở ba vấn đề.

Thứ nhất, theo một nhà ngoại giao Việt Nam, trong chiến tranh Trung Quốc đã viện trợ và đổi lại Hà Nội có một số lời hứa về đất liền và biển đảo mà không lường được hậu quả hàng chục năm sau. Vì thế, đất nước bị xâm lấn, lãnh đạo vẫn im lặng. Mặt khác, việc hợp tác với Trung Quốc trên các lĩnh vực nếu không phải là vấn đề cấm kỵ, vì sao không công khai để đón nhận ý kiến công luận? Từng có sự kiện Hồ Chí Minh là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và có vợ người Trung Quốc, Công hàm 1958, việc kéo dài cắm mốc trên bộ và thiếu phản ứng khi biển đảo bị lấn chiếm, dự án khai thác bauxit, dự án cho thuê rừng… bị che giấu và lần lượt lộ ra. Còn bao nhiêu sự kiện nữa nằm trong “thâm cung bí sử” do tính chất “nhạy cảm” chưa công bố? Phải chăng đó mới chỉ là “khúc dạo đầu”, Đảng Cộng sản Việt Nam lo sợ sụp đổ nếu những thông tin khác tiếp tục bị hé lộ nên phải “ngậm bồ hòn làm mật” với nước lớn?

Thứ hai, sau khi nhìn lại hệ thống XHCN còn vài nước, Đảng Cộng sản đã nhận ra vấn đề nhưng để giữ độc quyền cai trị chỉ còn cách duy nhất bám vào Trung Quốc. Duy trì mối quan hệ ấy, hệ thống chính trị Việt Nam có thời gian dần chuyển hóa thích nghi hoàn cảnh mới, thậm chí các cá nhân lãnh đạo có thể tồn tại cả khi nghịch cảnh diễn ra. Nhà nghiên cứu Kornai János cho rằng: “Đảng Cộng sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà Đảng Cộng sản ngự trị về cơ bản mang tính TBCN, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường”. Đảng Cộng sản Việt Nam hiện cũng không khác là một “bản sao” từ Trung Quốc.

Thứ ba, xin dẫn lại ý kiến của Fareed Zakaria trong tác phẩm “Thế giới hậu Mỹ”. Tác giả cho biết nội dung cuộc gặp, trong đó: “Một quan chức Việt Nam nói với tôi (tác giả): chúng tôi đã trắng mắt ra rồi. Trung Quốc đã đô hộ Việt Nam suốt mấy ngàn năm. Kể từ đó, Trung Quốc đã chiếm đóng Việt Nam tới ba chục bận”. Ông cũng kể rằng vị quan chức này thừa nhận Trung Quốc có vai trò quan trọng cứu vãn kinh tế, là nhà xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Gần đây, có thông tin để cứu nguy khủng hoảng, Việt Nam đã im lặng đàm phán với Trung Quốc và được vay ưu đãi một khoản rất lớn. Vậy thì làm sao các nhà thầu trong đó có bauxit? Nói cách khác, Trung Quốc đang cột chặt Việt Nam bằng một luận điểm của Marx ở cách hiểu thực dụng nhất: “Vật chất quyết định ý thức”.

Đảng Cộng sản Việt Nam từng phê phán đường lối cứu nước của Phan Bội Châu là “đuổi beo cửa trước, rước hùm cửa sau” khi nhà cách mạng họ Phan chủ trương đồng minh với Nhật. Nhưng ngày nay, Bộ Chính trị chủ trương “rước hùm” Trung Quốc không phải bằng “cửa sau”, mà vào ngay bằng cửa trước thông qua hoạt động ngoại giao và chủ trương chính thức. Như đã đề cập ở phần về cuộc chiến tranh biên giới 1979, có thể nói đến giai đoạn này thì “thù trong – giặc ngoài” đã quá rõ ràng. Cho nên “chống diễn biến hòa bình” hiện nay là cách “gây mù”, đánh lạc hướng công luận chỉ trích cấu kết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Quan hệ giữa hai bên đang “nồng ấm” là nguyên nhân không thể đưa vấn đề biển đảo ra tranh biện rõ ràng trước LHQ. Diễn biến trên cho thấy đường lối đối ngoại Việt Nam tiếp tục chắp nối giai đoạn, nghiêng ngả phe phái, thiếu lập trường, đi đến đối đầu và tai họa. Trong thời kỳ dài, Việt Nam thiếu hẳn một đồng minh nước lớn ổn định. Hậu quả là đổ máu và mất đất, thiệt hại lớn nhất thuộc về nhân dân và quân đội nhân dân. Bước đi ngoại giao của Việt Nam luôn tiềm tạo nhiều hiểm nguy!

Cũng theo Fareed Zakaria, trong vài chục năm đến sẽ diễn ra cuộc chuyển giao quyền lực lần thứ ba từ châu Mỹ sang châu Á với vai trò mới của Trung Quốc và Ấn Độ (lần thứ nhất đã diễn ra ở châu Âu, lần thứ hai châu Mỹ đang nắm quyền lực chi phối toàn cầu). Từ đó, Hoa Kỳ sẽ chuyển trọng tâm ngoại giao của mình sang châu Á. Việt Nam nằm trong khu vực, nhưng nhiều thời kỳ cho thấy cơ hội đến và khả năng nắm bắt khai thác cơ hội là hai vấn đề tách biệt nhau. Thêm đầu năm 2010, khi Việt Nam giữ chức Chủ tịch ASEAN, hàng loạt thách thức từ lợi ích từng quốc gia trong khối đã bộc lộ mà sau cái bắt tay ngoại giao, thực chất vẫn là cạnh tranh khốc liệt. Nhật báo kinh tế Les Echos nhân Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 16 tại Hà Nội có bài viết nhận định chủ trương xây dựng cộng đồng kinh tế tự do ASEAN đến năm 2015 là “không tưởng”. Tập hợp mười quốc gia này có trình độ phát triển khác nhau, đường lối chính trị và lợi ích dân tộc cũng khác không những trong lịch sử mà cả hội nhập ngày nay. Singapore thu nhập 35.000 USD/người/năm trong khi Campuchia hay Lào vẫn nông nghiệp lạc hậu. Trong khi các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi và tự hào về việc Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN thì chính phủ vẫn không thể hiện nhận thức nguy cơ và hành động ra sao.

Lúc này, khu vực tự do mậu dịch ASEAN – Trung Quốc, khu vực lớn thứ ba thế giới sau châu Âu và Bắc Mỹ nhưng đứng đầu về quy mô thị trường (chiếm 1/9 tổng sản phẩm) và người tiêu dùng (1,9 tỉ người), chính thức mở cửa. Ngay từ đầu, lợi thế cán cân mậu dịch nghiêng hẳn về Trung Quốc. Việt Nam chỉ là cầu nối cho hàng hóa từ “nhà máy sản xuất của thế giới” tràn vào biên giới phía Bắc, gây sức ép và khống chế xuống tận Nam Á. Người nghèo tiêu dùng hàng giá rẻ của Trung Quốc bất kể ảnh hưởng sức khỏe, sản xuất ở các nước yếu hơn bị bóp chết. Riêng 80% giày dép bán ở thị trường Việt Nam là hàng Trung Quốc, trong khi giày dép làm ra trong nước lại xuất khẩu thông qua điều phối của nhà sản xuất cho thấy công nhân và cả người tiêu dùng Việt Nam đều lệ thuộc. ASEAN không thể đón nhận sức mạnh nào từ Trung Quốc nhằm “kéo các nước trong khu vực” phát triển.

Đường lối ngoại giao Việt Nam còn thể hiện qua so sánh thăng trầm CNCS của Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Trung Quốc mở cửa thành công do: đường lối đúng, bước đi trình tự, giữ vững mục tiêu XHCN, mở rộng dân chủ nhưng không chấp nhận đa đảng đối lập và cạnh tranh chính trị, hội nhập quốc tế nhưng giữ vững độc lập chính trị và đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, Đảng Cộng sản vẫn giữ quyền lãnh đạo, đồng thời có vai trò của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình. Liên Xô cải tổ thất bại do: từ bỏ mục tiêu XHCN, thiếu nhất quán trình tự cải tổ, tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nước đế quốc, tấn công vào hệ tư tưởng Marx, xóa bỏ điều 6 Hiến pháp Liên Xô chấm dứt vai trò độc tôn của Đảng Cộng sản, chấp nhận đa nguyên đa đảng đã đưa các lực lượng chính trị đối lập lên nắm quyền, vô hiệu hóa bộ máy tổ chức và các cơ quan chuyên môn của Đảng, trung lập hóa lực lượng vũ trang, tước quyền lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đồng thời do Gorbachov phản bội tổ quốc…

Đây là so sánh máy móc, thiếu xuất phát từ lịch sử, trình độ, hoàn cảnh dân tộc và khu vực, cũng như sự kiện bất đồng tư tưởng từng có giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc. Cần nhớ rằng trong cuộc họp báo với Tổng thống George Bush năm 2005 ở Slovakia, Tổng thống Putin đã khẳng định: “Nước Nga đã đưa ra lựa chọn của mình theo hướng dân chủ… Đó chính là lựa chọn cuối cùng của chúng tôi, và chúng tôi không có con đường quay trở lại. Không thể có sự trở lại với ngày xưa. Đảm bảo cho điều đó là sự lựa chọn của người dân Nga, chính họ. Những sự bảo đảm từ bên ngoài không thể là điều kiện khả thi đối với nước Nga ngày nay”. Cho nên, so sánh chỉ thêm một ngụy cớ. Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã không mở rộng vấn đề: theo cải tổ Liên Xô sẽ thất bại, không theo cải cách Trung Quốc cũng thất bại. Chính vì cả hai đều dẫn đến thất bại nên Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn một cửa thoát. Ai dám khẳng định nếu không theo mô hình Trung Quốc như hiện nay, dân tộc Việt Nam sẽ thất bại và không còn con đường nào khác?

Chủ trương và hành động duy trì sự tồn tại của Đảng Cộng sản ở Việt Nam hiện nay có đầy đủ trong so sánh trên: không còn dựa vào học thuyết đấu tranh giai cấp của Marx, chỉ dựa vào thực tế tìm một chỗ bám dựa. Nền chính trị Việt Nam lại thêm lần nữa rập khuôn, không đủ khả năng tự lập tự chủ và tự chọn xu hướng tiến bộ cho dân tộc. Nên nhớ rằng trong “tam giác liên minh Việt – Trung – Xô” từng gây ra bao tai họa, nay tai họa có thể tiếp tục. Để thoát ra khỏi lên minh ấy, để tránh lặp lại sai lầm, thượng sách ngoại giao lúc này là cần xác lập quan hệ đồng minh thân cận với những quốc gia dân chủ tiến bộ như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga… Sách trắng ngoại giao phải công khai sự thật, tạo cơ hội bình đẳng và xác lập vị thế ngoại giao cân bằng. Công khai ngoại giao nhằm duy trì nói thật – làm đúng, nói đúng – làm thật, chữa căn bệnh trầm kha bưng bít và thiếu trách nhiệm với dân tộc.

Các chuyến công cán của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay dù đến nhiều nước nhưng tựu trung lại ở ba mục đích: đầu tư và tìm kiếm đầu tư nhằm vượt qua khó khăn và mở rộng hoạt động các tập đoàn kinh tế (khó khăn mà Chủ tịch nước xem như một con thuyền nhỏ đi ra biển lớn, sẽ đến bến bờ vinh quang nếu tất cả mọi người trên thuyền cùng góp tay chèo chống, thay vì nhấn mạnh giải pháp thay thế bằng con thuyền lớn hơn); làm trung hòa và đánh lừa về mối quan hệ phục vụ cho mục tiêu “cố bám” cơ bản vẫn luôn thắt chặt với Trung Quốc; những quan hệ khác là liên kết tìm kiếm vốn vay, công nghệ, mô hình mới (nhưng không thể nhận sự giúp đỡ toàn diện, kéo dài mà không đối ứng).

Cho nên rất lạ ở chuyến đi mà không lạ ở toàn cục khi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết có một phát biểu nhân thăm Cuba tháng 9-2009: “Việt Nam và Cuba như trời đất sinh ra. Việt Nam thức thì Cuba ngủ, Cuba thức thì Việt Nam nghỉ – hai nước ở hai bán cầu đông và tây thay nhau ngày đêm canh giữ hòa bình thế giới”. Đường lối ngoại giao Việt Nam vốn vẫn từng che giấu, tạo ra những trạng huống không rõ ràng trong quá trình từ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo xã hội đến nay.

 

Bài toán nan giải về giáo dục

 

Chủ trương từng xác định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Nhưng qua nhiều năm, cải cách và chấn hưng giáo dục vẫn không đạt yêu cầu. Những hạn chế biểu hiện hàng loạt như một cơ thể xuống sức toàn diện: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, cán bộ quản lý, thầy cô giảng dạy, hệ thống tổ chức… đều có vấn đề cần xem lại. Sách giáo khoa cho học sinh thì thay đổi liên tục, dạy thì nhồi nhét đọc ghi, lại thêm nạn mua bằng cấp, gian lận thi cử, bệnh thành tích, học phí thăng mà chất lượng giáng. Chưa bao giờ như hôm nay, không ít trẻ em ở mái trường XHCN trở nên thiếu trung thực, đối xử thiếu văn hóa, thiếu phản biện và tính sáng tạo, bạo hành và tệ nạn xã hội lan tràn vào trường học, một số thầy cô không giữ đạo đức nghề nghiệp, tình cảm “tôn sư trọng đạo” trong xã hội cũng không còn như trước đây.

Xin đề cập một tác hại âm thầm đã và đang diễn ra. Trong các kỳ thi đào tạo ngành sư phạm, không ít học sinh tìm cánh cửa sau để vào học, không vì xác định tính cao quý và cống hiến của nghề nghiệp, mà đơn giản như tìm một biên chế ở khu vực hệ số lương tương đối cao, bất luận tay nghề cao thấp vẫn ổn định. Cửa sau ấy là chạy điểm, nhờ quen biết nhập hộ khẩu đến các khu vực còn nhu cầu để có điều kiện thi vào dễ dàng, gian lận thi cử, chạy bằng tốt nghiệp, chạy trường… Từ đầu, ngành giáo dục đã không đề ra và nghiêm túc kiểm tra thực hiện tiêu chuẩn chọn lựa đối với những em sẽ trở thành thầy cô sau khi tốt nghiệp sư phạm.

Cứ xem phong cách của một số thầy cô sắp đi dạy, từ quần áo ăn mặc đến nói năng, từ chữ viết nguệch ngoạc còn sai chính tả đến phương pháp sinh hoạt hay tiếp xúc học sinh, từ ngoại hình không mấy chuẩn đến phát âm còn nặng ngọng vùng miền… sẽ thấy ngay ngành giáo dục phải nhận lớp giáo viên như thế nào. Ngành giáo dục chỉ có yếu, nhưng học sinh từ thế hệ này sang thế hệ khác ảnh hưởng mãi những thầy cô như thế. Đối với trường ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, chất lượng giáo viên kém còn diễn ra cả chục năm sau. Đó là hậu quả dài hạn, bào mòn phá hoại ghê gớm mà ngành giáo dục đang bất lực, không dễ dàng sát hạch đào thải khi đã quá muộn.

Các trường cao đẳng và đại học chậm chạp trong bổ sung kiến thức và thông tin mới. Hơn 1/4 thời gian học tập vẫn dành cho lý luận Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thi tốt nghiệp phải có các môn này. Đó là hôc phần mà học giả ở các cơ quan nghiên cứu lý luận và trường Đảng dày công biên soạn giáo trình, giảng viên được trả tiền cao hơn các bộ môn khác mà nhiều người vẫn gọi nôm na chênh lệch ấy là “tiền rủi ro chế độ”. Học sinh sinh viên buộc phải nghe nhưng không vào tai, không tiếp cận được những nguyên lý cơ bản bởi diễn đạt khô cứng, cắt xén luận điểm gốc, giải thích lệch lạc. Giáo dục vẫn phân biệt lý lịch và chịu sự ràng buộc chính trị, vì thế việc đào tạo không thể đạt chất lượng và yêu cầu.

Nhà văn Nguyên Ngọc từng đặt vấn đề môn triết học Marx-Lenin đã được ưu tiên quá nhiều, trong khi hiểu biết về triết học nói chung, lịch sử triết học cả phương Đông lẫn phương Tây bị thu hẹp và thậm chí bỏ qua. Theo ông: “Triết học Marx-Lenin có thể là đỉnh cao của triết học, nhưng chắc chắn không phải là triết học duy nhất, cũng không phải là triết học cuối cùng trong lịch sử tư tưởng nhân loại”. Có thể nói, ở đâu trong chế độ XHCN cũng nghe thấy khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Marx-Lenin vô địch muôn năm”. Một khi chủ nghĩa này được cho là “vô địch” và không bao giờ bị đào thải, cũng có nghĩa quan điểm đào tạo đã đưa nhiều thế hệ đi ngược lại với quy luật vận động và phát triển xã hội.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đưa ra “Chiến lược phát triển giáo dục 2008 – 2020”. Về đại học chất lượng cao, sẽ nâng cấp  bốn trường đại học lớn trong nước về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Nguồn đầu tư thì dự tính vay 400 triệu USD. Giảng viên thì đào tạo 20.000 tiến sĩ từ 2010 đến 2020, trong đó một nửa đào tạo trong nước, qua đó sẽ bố trí 100% tiến sĩ vào các cơ quan đảng và chính quyền tại Hà Nội để trở thành “Thành phố tiến sĩ!”. Có người nhận xét: vấn đề không phải là 20.000 tiến sĩ cùng với những mảnh bằng và cân đai áo mão mang ra trình làng, mà chủ yếu các tiến sĩ cần có “mảnh đất làm khoa học”. Làm khoa học phải có đam mê, có cơ sở nghiên cứu và các trường đại học tầm quốc tế mà không chủ quan ý chí muốn có sẽ có. Không hội đủ điều kiện ấy, dù công nhận hàng loạt tiến sĩ, giáo sư thì “Ta vẫn cứ là Ta!”. Để tiến tới mở đại học chất lượng cao, Bộ đã tổ chức hội thảo và nhận được ý kiến từ những nhà khoa học: ViệtNam hoàn toàn chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Khi gia nhập WTO [36], chấp nhận giáo dục là thị trường, một số đại học trong nước chỉ mời gọi được sinh viên Lào, Campuchia cùng vài nước khác có nhu cầu đào tạo ngoại giao, nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử Việt Nam… Giảng viên Việt Nam được mời đi giảng ở các nước hầu như hiếm. Trong khi các trường đại học nổi tiếng đều tự quản, thì Việt Nam sắp đến vẫn chủ trương 60% công lập không tránh khỏi khó khăn kinh phí đầu tư, tuyển dụng nhân lực, quản trị điều hành. Về khu vực tư lập, những năm gần đây, trong nước rộ lên việc xin giấy phép thành lập tràn lan các trường và trung tâm đào tạo, chủ yếu tranh thủ xin đất, thu các khoản phí vô tội vạ và “bán bằng tốt nghiệp. Có sinh viên còn không biết mình chính thức thuộc trường nào, cả xã hội không biết đâu là năng lực thật – giả trước một tấm bằng tốt nghiệp. Đơn cử kết quả đào tạo lái xe, trong năm 2009 theo số liệu báo cáo ngành công an đã chặn lại kiểm tra và phát hiện đến 1.600 bằng lái xe giả khi các lái xe này trước đó mới chỉ lái công – nông ở đường làng nay đang điều khiển các xe khách nắm giữ hàng chục sinh mạng con người trong tay rong ruổi trên các quốc lộ từ Bắc chí Nam! Còn bao nhiêu bằng lái giả và cả bằng lái thật nhưng kỹ năng không thật? Tai nạn giao thông thảm khốc nhiều năm liền với con số cao chủ yếu là hậu quả của lối dạy nghề này.

Năm học 2008-2009, cả nước có 412 trường đại học và cao đẳng đón nhận 1,7 triệu sinh viên. Tính từ 10 năm trước đến lúc này, có 321 trường nâng cấp và thành lập mới, số sinh viên tăng lên 13 lần. Nhưng hầu hết các trường đều thiếu mặt bằng và phòng học, phải thuê cơ sở hoặc liên kết liên thông. Trong 61.000 giảng viên đào tạo mới, chỉ hơn một nửa có trình độ trên cử nhân. Một số sinh viên phản ánh nhiều kiến thức lạc hậu, thậm chí sai. Một khoa nghiên cứu 60 sinh viên: 5 người tự tìm kiếm mở rộng kiến thức, 55 người sau khi xong học phần còn không nhớ nội dung cơ bản. Theo quy định, mỗi giảng viên dạy không quá 260 tiết/năm, nhưng có giảng viên đạt đến 1.000 tiết/năm! Sau khi quốc hội thực hiện giám sát và nêu số liệu trên, công luận bức xúc đề nghị đóng cửa các trường chất lượng kém, người đứng đầu ngành giáo dục lại cho biết ba vấn đề chưa thể trả lời: chất lượng giáo dục, hiệu quả sử dụng ngân sách, việc chấp hành luật pháp và quy định ở các trường. Vậy chức năng của ngành về quản lý, điều chỉnh, cải cách và phát triển giáo dục ở đâu?

Đầu năm học 2009 – 2010, ngành cũng tổ chức buổi đối thoại trực tuyến. Gần 3.000 câu hỏi được gửi đến, qua một buổi trả lời tại chỗ được 67 câu. Tính cả hứa hẹn trả lời thêm cũng chỉ gần 1/30 ý kiến. Rất nhiều ý kiến đã nhận được trả lời không thỏa đáng, không chạm đến cốt lõi vấn đề. Một sinh viên 21 tuổi hỏi: hiện nay Bộ chỉ đầu tư đổi mới công cụ giáo dục (phương pháp dạy và học, cơ sở vật chất, giáo trình, sách giáo khoa…) mà chưa có định hướng cụ thể phát triển đổi mới con người được giáo dục. Học sinh sinh viên bị ảnh hưởng bởi nhận thức, quan niệm cũ và sai lầm về việc học, quan niệm sống, về đất nước được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia. Tư tưởng thui chột, sai lầm thì dù công cụ giáo dục hiện đại, con người vẫn lạc hậu. Vậy Bộ đã chuẩn bị, xác định gì về phát triển con người một cách sâu rộng? Câu hỏi chỉ nhận được một trả lời vắn tắt và không bao giờ được đề cập lại.

Gần đây, giáo sư Hoàng Tụy có bài viết: “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng”. Ông nhận định: “Căn nhà giáo dục đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở”. Ông phát hiện điều lạ khi các nghị quyết Đại hội Đảng, Hội nghị TƯ 3, 7, 9 đều nêu yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách cải cách giáo dục, nhưng lãnh đạo có trách nhiệm vẫn chưa kiên quyết, chưa khẩn trương, không những thiếu “quan tâm thực hiện” “còn nói ngược lại”. Theo ông, có hiện tượng đó là do không bộ phận tham vấn, giải thích và hướng dẫn phải đổi mới thế nào, vì thế mà đổi mới giáo dục đã đang diễn ra “tùy hứng, tùy tiện, tùy nghi, theo kiểu đầu Ngô mình Sở…”.

Ông cho rằng, hàng chục năm qua, giáo dục Việt Nam như một phòng thí nghiệm khổng lồ ngay trong giảng dạy. Không có bất cứ nhà quản lý hay “kỹ sư tâm hồn” nào phải chịu trách nhiệm trước đối tượng học sinh đem ra thí nghiệm. Mà pháp luật cũng chẳng có quy định nào kết tội sai lầm dài hạn này. Vì thế chẳng ai bị thôi chức thôi việc, chỉ thấy làm sai thì làm lại, loay hoay cải cách đến khi yếu kém biểu hiện toàn ngành. Ông đánh giá về hiện tượng này: “Thí nghiệm đi thí nghiệm lại không biết bao nhiêu lần, tốn kém bạc tỉ và không tính được hết thiệt hại cho các thế hệ học sinh nạn nhân thí nghiệm. Rất khó hiểu tại sao lợi ích của học sinh bị xem thường đến vậy”. Cũng xin nói thêm mạng báo điện tử Tia Sáng đăng bài viết sau đó bị cấm hoạt động, an ninh tư tưởng gọi ông đến làm việc.

Việt Nam đã cải cách được gì trong hơn thập kỷ đổi mới, khi mà giáo dục xuống cấp trầm trọng mới bắt đầu phát động nói không với gian lận trong thi cử và tránh bệnh thành tích trong báo cáo? Hóa ra, mong muốn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hàng chục năm trước nay không thể nào nhích gần hơn đến hiện thực nên phải tiếp tục điều chỉnh lại cho thầy ra thầy, trò ra trò. Xa hơn nữa đã 60 năm, khi mà hôm nay Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới, nhưng cách dạy – học riêng của nền giáo dục cách mạng vẫn không thể nào thực hiện được tâm nguyện của Hồ Chí Minh về một đất nước Việt Nam “vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu” bắt đầu từ việc học của học sinh sinh viên! Cũng như pháp luật và nhiều lĩnh vực khác, thực tế “một mình một sân” của giáo dục cho thấy chặng đường của dân tộc ở giai đoạn cộng sản đã và đang đi chệch ra khỏi xu hướng phát triển chung của nhân loại.

 

Thế giới phẳng và tự do thông tin

Trong tác phẩm “Thế giới phẳng” xuất bản 2006, Thomas L. Friedman khẳng định đó là cuốn sách “tóm lược lịch sử thế giới trong thế kỷ 21”. Dự đoán đi trước thời gian gần một thế kỷ của tác giả có lẽ không sai lệch với xu hướng công nghệ thông tin đang làm cho thế giới phẳng ra hiện nay. Từ mọi lồi lõm địa hình trái đất đến những ngăn cách vô hình của thể chế, đảng phái, các lĩnh vực cuộc sống… đều không còn rào cản khi internet đem đến cơ hội như nhau cho mọi người, mọi trình độ, dân tộc, quan điểm và chính kiến…

Vấn đề ở chỗ thông tin đa dạng mọi mặt, chính xác và kịp thời, mở rộng kết nối bằng cách phá bỏ mọi rào cản từ quan điểm đố kỵ sẽ làm cho nhận thức, hành động và ứng xử phù hợp hơn trong cộng đồng, xã hội. Tác giả cho rằng: “Quá trình làm phẳng thế giới cho phép chúng ta kết nối tất cả các trung tâm tri thức trên hành tinh lại thành một mạng lưới toàn cầu đơn nhất mà nếu hoạt động chính trị và chủ nghĩa khủng bố không cản đường, có thể sẽ mở ra một kỷ nguyên đầy thịnh vượng, sáng tạo, cộng tác giữa các công ty, các cộng đồng và cá nhân”.

Chỉ trong mười năm đầu thế kỷ này, internet đã tạo ra không ít ảnh hưởng sâu rộng: trang quảng cáo miễn phí có tên Craiglist hoạt động liên tục ở 9 thành phố lớn Hoa Kỳ và 500 thành phố thuộc 50 quốc gia khác, trang tự điển bách khoa Wikipedia truy cập miễn phí với hơn 14 triệu bài viết và nhiều tư liệu quý bằng 271 ngôn ngữ và được cộng tác bởi những cá nhân nhiều quốc gia khác nhau, các băng thông rộng được ứng dụng làm bùng nổ video mạng, internet còn thay đổi cả cách tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ hay phản đối bầu cử Iran, mở rộng các dịch vụ dạy học và làm thuê giữa các quốc gia… Trong chuyến thăm Trung Quốc năm 2009, Tổng thống Barack Obama khẳng định internet ngày nay là “một quyền phổ quát của con người trên hành tinh này”. Với Việt Nam, sự xuất hiện internet đã chậm, lại thêm thiếu đa dạn, bị ngăn chặn nên việc tiếp cận khó khăn như trong một “ốc đảo”.  Nhưng tình trạng này sẽ không thể tồn tại lâu hơn.

Gần đây, Đại sứ quán Anh phối hợp với Viện nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Việt Namtổ chức hội thảo chủ đề: “Quyền tiếp cận thông tin – lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”. Hội thảo nhằm hướng tới xây dựng Luật bảo đảm quyền được thông tin. Đó là một quyền của con người, quyền cơ bản của công dân, quyền hiến định trong xã hội dân chủ. Nếu lãnh đạo đất nước cần thông tin thực thi nhiệm vụ thì toàn dân càng cần thông tin để tham gia quản lý nhà nước, làm chủ chính mình và xã hội. Cung cấp thông tin minh bạch, trung thực, kịp thời, đa dạng là trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Quá trình thông tin cần có cơ chế, phương thức, phương tiện đa chức năng, tiện nghi và chính xác. Từ đó, sức mạnh nhà nước sẽ được tăng cường cả hai mặt: phát huy các quyết định và biện pháp hợp lòng dân, đồng thời phát hiện điều chỉnh kịp thời sai lệch, hạn chế, bất cập…

Thông tin làm “san phẳng thế giới” ở mọi hướng, đến với tất cả mọi người rõ ràng luôn là điều lo sợ với những thể chế cai trị bảo thủ, che giấu sự thật, bất nhất giữa nói và làm. Cho nên, chủ trương của Đảng Cộng sản là tăng cường kiểm soát và theo dõi thông tin cá nhân, phá hoại các mạng thông tin phản biện xã hội bằng tường lửa, bắt giam những người điều hành trang mạng và cung cấp bài hay chủ các blog bàn thảo các vấn đề chính trị xã hội. Dịp kỷ niệm 46 năm báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-2009), thông tin cho biết cả nước: “có 15.000 người làm báo và hơn 1000 người làm báo chưa được cấp thẻ đang làm việc tại 700 cơ quan báo chí với gần 850 ấn phẩm, 68 đài phát thanh truyền hình địa phương và khu vực, hàng chục báo điện tử”. Tất cả nhà báo và báo chí trên đều có chung một tổng biên tập – đó là lãnh đạo đứng sau kiểm duyệt nội dung phản ánh.

Nhìn lại sau 35 năm thống nhất đất nước, đến nay chính thể cộng sản Việt Nam đã xây dựng, ngày càng tăng cường kiên cố hệ thống tuyên giáo và truyền thông dày đặc nguồn nhân vật lực chỉ để phục vụ chính trị. Hòa thượng Thích Quảng Độ từng nhận định về xã hội bưng bít và độc quyền bao cấp, phân phối mỗi một sản phẩm thông tin của Đảng Cộng sản đến toàn xã hội: “Chẳng có đảng phái đối lập, không có báo chí độc lập, không có nghiệp đoàn tự do, xã hội dân sự cũng mất quyền hiện hữu. Tôn giáo nào không theo chính quyền đều bị ngăn cấm. Công dân nào lên tiếng đòi cải cách chính trị, đòi hỏi dân chủ hay nhân quyền đều có nguy cơ bị bắt”.

Điều này hoàn toàn có thật. Chỉ riêng hình ảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa đã phản ánh quá đủ không những tôn giáo bị đàn áp mà tự do thông tin cũng bị triệt tiêu. Theo linh mục, phiên tòa xét xử ông không công bằng. Ông cho rằng cách đây hơn 160 năm Marx viết Tuyên ngôn Cộng sản và bộ sách luận về chế độ TBCN ở Anh không bị bắt, cách đây gần 100 năm nhóm Nguyễn Ái Quốc viết bài tại Paris không bị bắt, cụ Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn An Ninh làm báo ở Việt Nam ngay dưới chế độ thực dân không bị bắt. Vậy tại sao ông cũng làm những việc như vậy lại bị bắt? Từ đó, ông công khai kết luận tự do ngôn luận ở Việt Nam ngày nay còn lạc hậu hơn thời mà Đảng Cộng sản gọi là “thực dân, đế quốc” trước đây rất nhiều.

Hiện tượng truyền thông chỉ dành phục vụ đảng phái chính trị vẫn thường thấy là nếu tờ báo “đầu đàn” đăng tải một thông tin, tất cả các báo khác tương tự nội dung xoay quanh quan điểm chung, đề cao phát biểu lãnh đạo. Vụ công khai thông tin nhận tội của những người đấu tranh vì dân chủ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim là một ví dụ. Bắt đầu từ báo điện tử của Đảng Cộng sản nhận định: “Đông đảo nhân dân Việt Nam kiên quyết không để cho những phần tử như Lê Công Định tiến hành những hoạt động sai trái, lật đổ Nhà nước XHCN Việt Nam”, hàng loạt báo chí ngay sau đó đưa tin giống nhau để hình thành dư luận ảo ủng hộ và tạo ra chiều kích rộng lớn của sự việc, làm lạc lõng và biến những người chưa hẳn sai lầm trở thành cá lẻ lạc đường, lời lẽ như đã kết tội bất kể chưa có phán quyết nào trước tòa.

Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông được cơ cấu và giao nhiệm vụ trong tình hình mới đã đưa ra khái niệm “lề phải” chỉ đạo tất cả báo chí trong nước: mọi vấn đề trước khi đăng tải phải qua kiểm duyệt, những thông tin tự đăng và phát ngôn xem như vi phạm và phải chịu phạt hành chính, treo bút, truy tố, vào tù… Điều 03 dự luật Luật báo chí sửa đổi khẳng định: “Báo chí ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân”. Nhân dân được xác định là đối tượng tham gia vào “diễn đàn” và chỉ bàn bạc trao đổi những điều đã nêu ra, chứ không phải đó là phương tiện đăng tải đa dạng, trực tiếp chính kiến và quan điểm của các nhóm xã hội.

Trong khi đó, điều 69 Hiến pháp 1992 ghi: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Rõ ràng, không những Luật báo chí đã diễn đạt sai tinh thần hiến pháp mà luật này trong quá trình phản ánh xã hội đã bỏ qua sự điều chỉnh và tác động định hướng của hiến pháp. Một khi báo chí qua một đầu mối kiểm duyệt duy nhất thì cho dù có hàng trăm tờ báo và hình thức truyền thông cũng không còn tiếng nói nào khác trên diễn đàn. Trong một phỏng vấn báo chí, luật sư Cù Huy Hà Vũ nhận xét: “Nhà nước Việt Nam, từ hồi nào tới giờ, có thể nói là đáng xấu hổ, vô đạo đức ở cái chỗ là nói một đàng làm một nẻo. Nói là nói vậy thôi, như không nên kiểm soát, để cho người dân có quyền tự do phát ngôn, tự do tư tưởng. Nhưng trên thực tế, họ ra sức tìm mọi cách bịt thông tin, tìm mọi cách để đưa người dân Việt Nam trở lại thời kỳ lạc hậu”.

Sau khi Đảng Cộng sản công bố khái niệm “lề phải” cùng những quy định ràng buộc, đời sống dư luận xã hội trong và ngoài nước lại tự xuất hiện báo chí “lề trái” với hàng trăm trang website và các hình thức thông tin khác. Nhờ có hệ thống thông tin này, những sai lầm trong quá trình điều hành lãnh đạo đất nước đã được chỉ ra ngay sau các hội nghị, kỳ họp quốc hội, đợt tiếp xúc cử tri, chuyến viếng thăm… Phó Thủ tướng “lỡ lời” cho rằng trong nước và trên thế giới đồng thuận chủ trương khai thác bauxit, Thủ tướng tuyên bố không trả đất nhà thờ ở Việt Nam cho Tòa thánh Vatican và việc ông bị kiện vụ bauxit, Chủ tịch nước không cần “uốn lưỡi bảy lần” khi trao đổi với Tổng thống Hoa Kỳ hay nhận định về quốc nạn tham nhũng tại hội nghị Việt kiều… đều được bình luận. Báo điện tử của Đảng Cộng sản như đã đề cập do “sơ suất kỹ thuật” đăng tin hải quân Trung Quốc tập trận đã lập tức tạo ra phẫn nộ mà tiêu biểu là ý kiến của giáo sư Nguyễn Huệ Chi: “… Tự nhận là mình gánh trách nhiệm bảo vệ đất nước thì một trang mà để xảy ra sơ suất như thế phải cách chức ông tổng biên tập, đấy là nhẹ nhất”.

Trong một chương trình thời sự đầu tháng 2-2010, để nêu công trạng của Đảng đổi mới nông thôn, VTV1 cho biết khoán 10 bắt đầu từ Đảng (1968) để rồi hai mươi năm sau (1988) được áp dụng rộng rãi đem lại thắng lợi. Nhưng mẩu tin này giấu kín sự kiện ông Kim Ngọc phải trốn tránh “khoán chui”, lại bị Tổng Bí thư Trường Chinh kỷ luật và buộc chấm dứt. Công luận đặt câu hỏi: sự kiện Đảng Cộng sản bảo thủ và trù dập còn rõ ràng đó mà che lấp nhằm tranh công. Thật mỉa mai khi thành tích đó được gọi là xuất phát từ Đảng! Trên các phương tiện thông tin tự do, tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng bày tỏ suy nghĩ, chính kiến đối với mọi vấn đề xã hội. Đó cũng là một biểu hiện và bước tiến mới của đời sống dân chủ. Cũng công bằng mà nói, một số phản ánh trên báo chí “lề trái” quá khích, từ ngữ vượt khỏi văn hóa văn phong báo chí, sự việc hiện tượng một mặt… Từ việc định ra hai lề, hai cuộc hành trình truyền thông hiện nay đang đi ngược nhau, thời cơ gặp nhau có thể hiếm nếu không có sự điều chỉnh.

Thống kê cũng cho thấy một hiện thực khác giữa hai hệ thống thông tin đối lập. Trang mạng Alexa.com xếp hạng kết quả truy cập website thế giới cho biết báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam cấp giấy phép cuối 2005 đứng thứ 116.901, trang bauxitevietnam.info ra đời sau 5 tháng với 6,5 triệu lượt người truy cập xếp xếp thứ 54.235. Trang anhbasam.wordpress.com giữa năm 2009 đứng thứ 358.795, trong khi trang báo Đại Đoàn Kết đứng thứ 847.807. Một số báo điện tử và báo in khác của Đảng và Nhà nước với số lượng truy cập hàng ngày cũng “ế ẩm chợ chiều”, trong khi các blog cá nhân có chính kiến và tiếng nói tự do nhộn nhịp đủ người ủng hộ, thảo luận hay phản đối. Phần để lại ý kiến người đọc (comment) ở trang mạng “lề phải” cũng trống không bởi tranh luận, chất vấn, phản biện ở đó chỉ mang vạ vào thân.

Cuối năm 2009, Tổ chức phóng viên không biên giới qua khảo sát độc lập khách quan, xếp Việt Nam đứng thứ 168/173 nước, nằm vào nhóm mười nước cuối bảng, mất tự do báo chí. So với năm 2008, Việt Nam lùi thêm sáu bậc vì những hành xử “trấn áp truyền thông tự do”. Việc các nhà báo bị giam giữ và bị kết tội khi đưa tin liên quan vụ PMU.18 còn đi ngược lại với tuyên bố của Bộ Ngoại giao: “coi tham nhũng là quốc nạn và xác định chống tham nhũng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng hiện nay”. Một đặc điểm truyền thông của báo Đảng là chấp hành mệnh lệnh từ lãnh đạo, mà mệnh lệnh ấy là ý chí chủ quan, nên truyền thông không thể nào đa dạng và trung thực.

Quá trình làm phẳng thế giới bằng công nghệ thông tin cho thấy, càng tạo ra và duy trì lâu dài các lưỡng cực phải – trái, đúng – sai, địch – ta…, tình hình càng thêm trì trệ, tụt hậu, khó xích lại gần nhau. Một mặt truyền thông trong nước ra sức ngăn cản thông tin từ bên ngoài vào Việt Nam bằng pháp luật, kỹ thuật và việc mở rộng “lề phải”, mặt khác phương tiện thông tin tuyên truyền chính trị như kênh VTV4, báo in, báo mạng, băng đĩa, ấn phẩm… cũng đưa đi nhiều nước trên thế giới. Những “cánh nối tay dài” ra ngoài này lại trước hết ưu tiên tuyên truyền một chiều, che giấu sự thật. Trong thời đại ngày nay, bưng bít và thiếu trung thực làm sai lệch thông tin càng tự nhận lấy lạc hậu và tự cô lập.

Muốn tìm tiếng nói chung, chỉ có thể bằng cách cùng tìm đến một giá trị đúng. Tất cả cộng đồng hay xã hội đều có phản biện, đối lập, thậm chí cả đối đầu. Công nghệ thông tin phải được sử dụng làm thay đổi nhanh tình hình, hóa giải sự đối lập ấy, xử lý mâu thuẫn để thúc đẩy xã hội tiến triển. Quá trình đó hoàn toàn không phải là lật đổ nhà nước, chống lại nhân dân hay lợi ích dân tộc, mà nhằm kịp thời điều chỉnh những chủ trương, việc làm sai lầm. Tiến sĩ Đặng Đình Tân, chủ biên một cuốn sách xuất bản năm 2006, trong đó cho rằng: “Sức mạnh dân chủ là tính công khai của nhà nước trước những thử thách và dư luận và sự lành mạnh của nền dân chủ biểu hiện ở sự tranh luận sôi nổi về dân chủ”. Nhưng thực tế, “tranh luận sôi nổi” nằm trong vòng kiểm soát và được thực hiện bởi hệ thống tuyên giáo, dân vận, báo chí với những đảng viên cộng sản; quá trình tranh luận mang tính kiểm tra giám sát, hướng tới dân chủ và công bằng rộng rãi xã hội hầu như chưa có.

Có ba xu hướng cho thấy việc kiểm duyệt gắt gao báo chí và bưng bít thông tin là biện pháp lỗi thời: trình độ dân trí ngày càng cao, thông tin bùng nổ tạo ra hàng vạn hướng tiếp cận từng cá nhân, Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống toàn cầu càng không thể né tránh những điều đã cam kết thực hiện với cả thế giới mà trong đó có cam kết về quyền tự do thông tin… Đó là cửa mở đầu tiên đi đến các giá trị tự do và dân chủ rộng lớn cho toàn xã hội. Đầu năm 2010, nhà văn Võ Thị Hảo từ Hà Nội đã đưa ra một thông điệp về tương lai đất nước trong thời đại thế giới phẳng: “Sự thật và khát vọng của con người để có được dân chủ và tự do vẫn luôn là một vận động rất mạnh mẽ. Nó cũng như mặt trời, đến lúc thì nó phải lên”.

 

Vấn đề đặt ra đối với Đại hội Đảng lần thứ XI

         

Nhìn lại nhiệm kỳ 2006-2010

Bước vào đại hội lần thứ X năm 2006, vụ án Tổng cục 2 như một dấu hỏi lớn về những bất đồng nội bộ bị “ém nhẹm”. Đối với xã hội, để biểu hiện tinh thần dân chủ công khai, các vị lãnh đạo đưa ra nhiều phát biểu. Chủ tịch nước cho rằng cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá toàn diện thành tựu và yếu kém, rút ra bài học kinh nghiệm, tiếp tục phát triển hoàn thiện đường lối và quan điểm, định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ mới. Đây là “công thức rập khuôn” mà bất kỳ phát biểu và diễn văn nào cũng đều lặp lại, thậm chí đem áp dụng cho chỉ đạo của các đảng phái, những hội nghị cuộc họp khác nhau đều không sai. Phát biểu dạng này tác dụng cụ thể gì trên thực tế?

Nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ khẳng định không thể bầu người bảo thủ, giáo điều vào lãnh đạo. Bầu cử đã diễn ra với điều “không thể” và trong quá trình đương chức không có tiêu chí hay biện pháp phát hiện vị nào bảo thủ giáo điều. Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng đại hội cần lấy chống tham nhũng làm kim chỉ nam hành động và gửi một thông điệp đến cộng đồng quốc tế. Đến nay “kim chỉ nam” chỉ về đâu và có thông điệp nào ngoài quốc nạn tham nhũng bị thế giới chỉ trích? Bí thư Tỉnh ủy An Giang phê bình tổ chức Đảng chỉ quản lý đảng viên tốt mà không quản lý đảng viên tiêu cực, điều này vẫn tiếp tục diễn ra đến cuối nhiệm kỳ. Bộ trưởng Bộ Thương mại chỉ ra Đảng cần đổi mới nội dung chứ không chỉ phương thức lãnh đạo, đến nay chẳng thấy nội dung nào đáng được đánh giá làm chuyển biến tình hình…

Phương tiện truyền thông được huy động dành cho lãnh đạo phát biểu để làm “sáng giᔓghi điểm”. Khi đã yên vị thì hứa xúc tiến. Cuối nhiệm kỳ thì giải trình do khách quan. Không có vị nào nhớ và chịu trách nhiệm về “lời nói gió bay” của mình đã không thành hiện thực. Điều này đã bị phát hiện ngay trước đại hội X khi cựu Trung tướng Đặng Quốc Bảo công khai trong một cuộc họp góp ý văn kiện: “Báo cáo chính trị được dự thảo không ngang tầm! Đảng đang lâm vào khủng hoảng về tư duy, về lý luận; thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tư duy chiến lược”. Theo ông, Đảng Cộng sản mắc đến năm khuyết tật: thứ nhất là xơ cứng tư tưởng, thứ hai là độc quyền lãnh đạo chuyển thành chuyên chế trong một nhóm người, thứ ba là không có chính sách đào tạo nhân tài, thứ tư là đảng viên làm giàu bất chính và thứ năm là Đảng Cộng sản nói chung thụ động.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Đại hội X xác định là: “Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo” nhằm đáp ứng xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân ngày nay. Về lý luận, nhất thể hóa đảng với nhà nước là phản khoa học, vì vậy nhà nước phải độc lập, không thể bị biến thành công cụ chính trị. Nhưng ở Việt Nam, vì chỉ có một đảng duy nhất cử người vào quốc hội, nhà nước, chính quyền các cấp nên tính độc lập chỉ còn là hình thức, bản chất và mục tiêu vẫn tiếp tục bị nhất thể hóa. Đánh đồng đảng là nhà nước, là chính quyền, là tổ quốc, là nhân dân, là pháp luật… hiển nhiên là lạm dụng, làm giảm chức năng và hiệu quả hoạt động của cơ quan công quyền, hình thành gánh nặng và để lại hậu quả khó khắc phục. Báo cáo tại đại hội lần này sẽ đánh giá như thế nào về “tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo” trong nhiệm kỳ qua với thực trạng trên?

Hãy nhìn lại một số mục tiêu, phương hướng 5 năm trước.

Kinh tế vĩ mô: duy trì nhiều hình thức sở hữu nhưng không kiểm soát và điều chỉnh rõ ràng, duy trì nhiều thành phần kinh tế nhưng thiếu bình đẳng trước pháp luật và hoạt động ngoài luật, kinh tế nhà nước là chủ đạo và cùng kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc cho kinh tế quốc dân nhưng những tập đoàn tư bản lũng đoạn và không cần công khai hay minh bạch hóa; việc thu hẹp các lĩnh vực nhà nước độc quyền kinh doanh và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp đến nay cho thấy độc quyền vật chất càng hậu thuẫn cho độc quyền ý thức, trong khi cổ phần hóa chỉ là cách che mắt và biến công sản thành tài sản riêng, nhà nước vẫn là nhà quản lý đồng thời là nhà đầu tư bất động sản lớn nhất.

Tiến bộ và công bằng xã hội: phát triển kinh tế được xác định đi đôi với văn hóa, y tế và giáo dục… nhưng hầu như các lĩnh vực này đều bị thương mại hóa và phục vụ theo đẳng cấp thu nhập; chuyển sang mô hình giáo dục mở và xã hội hóa học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học… nhưng trên thực tế bát nháo việc mở trường ở khu vực tư lập mà không quan tâm hiệu quả đào tạo hay đào tạo ra sắp xếp vào đâu; việc phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn đến nay vẫn xa vời hoặc chỉ là sân chơi riêng cho một nhóm có tiền và có quyền; phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân nhưng hầu hết Đảng làm chủ và quyết định tất cả từ các đoàn thể chính trị xã hội đến quân đội, nhà nước.

Nông thôn: phương hướng chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn cũng chỉ là khẩu hiệu mà người ta chẳng thấy kết quả gì đáng kể hay chẳng thấy một lực tác động nào gọi là “đẩy mạnh”; việc giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp – nông thôn – nông dân rồi khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới có cuộc sống no đủ văn minh… đến nay nhìn lại chẳng có gì gọi là “đồng bộ”, chẳng ai “khẩn trương” và cuộc sống càng không phải “no đủ”. Nông thôn Việt Nam phải oằn lưng gánh chịu rất nhiều hậu quả từ đường lối của lãnh đạo đất nước.

Tài nguyên quốc gia: phương hướng xác định bảo vệ và sử dụng có hiệu quả, cải thiện môi trường tự nhiên, tăng cường quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng, nhất là thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới chính sách giao đất, giao rừng… Nhưng tài nguyên quốc gia đã trở thành tài sản nhà nước tự quyền quyết định khai thác, mua bán, cho thuê, cũng như trong suốt quá trình đó đã gây ra nạn ô nhiễm, làm kiệt quệ và phá hoại môi trường trầm trọng. Đảng Cộng sản có đủ dũng cảm công khai đánh giá đúng mức vấn đề và có dám tự nhận sai lầm ngay tại đại hội lần này?

Con người: xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người, bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa… đều là những tiêu chí rất chung chung, là vấn đề của muôn đời và của mọi thể chế xã hội. Vì thế mà trong báo cáo đại hội sẽ lặp lại những câu chữ của phương hướng đưa ra 5 năm trước, trong khi không nắm bắt, điều chỉnh hay có tác động cần thiết về tư tưởng, tâm lý, đạo đức, thói quen, hành vi… để tạo ra những chuẩn mực cơ bản của con người văn hóa văn minh.

Công nhân vẫn chưa được bảo vệ tốt về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc sức khoẻ. Nông dân vẫn bị chèn ép cưỡng đoạt ruộng đất, việc chuyển sang công nghiệp và dịch vụ hay trở thành chủ trang trại chỉ là số nhỏ. Trí thức được hứa sẽ tạo điều kiện tiếp cận thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài, coi trọng tư vấn phản biện… nhưng thực tế đã quá đủ để không nhắc lại việc họ bị đối xử như thế nào, họ nghĩ gì và sẽ làm gì. Doanh nhân, đồng bào tôn giáo và đồng bào định cư nước ngoài… đều được phương hướng đề ra sự tác động tích cực nhưng họ phải chấp nhận nhiều bất ổn, gánh chịu nhiều hậu quả.

Còn rất nhiều nội dung khác trong phương hướng nhiệm kỳ 2006-2010 đưa ra mà đến nay đánh giá lại đều có vấn đề. Ít nhất hơn một nửa nội dung cuối nhiệm kỳ vẫn dang dở, kết quả không đáng kể, chệch hướng và đi ngược, thậm chí bất lực.

Định hướng nhiệm kỳ 2011-2015

Trong một hội nghị chuẩn bị cho đại hội năm 2011, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản đã quán triệt phải tiếp tục kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ bổ sung sửa đổi những gì đã được thực tiễn chứng minh là đúng, cần thiết và phổ biến. Vì sao phải giới hạn việc sửa đổi bổ sung, nếu không phải giới hạn đó chính là ưu tiên hàng đầu bảo vệ độc tôn lãnh đạo? Tiêu chí đúng ở đây là đúng với đối tượng, lĩnh vực và xu thế nào? Nguyên tắc không rõ ràng này chỉ có thể tiếp tục xa rời quyền lợi dân tộc.

Nội dung bổ sung Cương lĩnh 1991 càng xa rời khi xác định tập trung củng cố hệ tư tưởng mà đảng cầm quyền đã chọn: kết thúc thời kỳ quá độ, Việt Nam sẽ xây dựng xong cơ bản nền tảng kinh tế CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Dân tộc Việt Nam đã bao lần từ chối XHCN vì chỉ gây tai họa, thế giới tiến lên công nghiệp hiện đại cũng không theo mô hình CNXH. Để CNXH không bị xóa hẳn, chỉ còn gắn nó vào các giá trị của TBCN và của nhân loại. Nguyên tắc kiên định ấy nếu áp dụng trong 5 năm không ngoài đường lối bảo thủ.

Chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2011-2020 cũng xác định: phát triển nhanh gắn với bền vững, đổi mới kinh tế và chính trị đồng bộ phù hợp, thực hành dân chủ, xem con người là chủ thể – nguồn lực và mục tiêu phát triển, phát triển lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ cao, hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đến năm 2020, Việt Nam sẽ là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.

Diễn đạt trên lặp lại lối tư duy câu chữ chưa hẳn sai, nhưng gọi đúng thì lại không trúng vào đâu. Những nội dung trên hoặc tương tự, có lẽ ai cũng có thể nghĩ ra. Điều này cho thấy tưởng tượng chủ quan, lấy tương lai tô hồng che lấp thực trạng định hướng XHCN bất lực trước thực tế xã hội trở về hoang dã mạnh thắng yếu, độc lập kinh tế và chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa. Đời sống vật chất tinh thần đến 2020 được cho là sẽ “nâng lên” mà ngay bây giờ đã diễn đạt thấy “rõ rệt”, tương tự vị thế Việt Nam lại “tiếp tục được nâng lên”! Vận mệnh và triển vọng cả dân tộc như bị vật hóa nằm trong bàn tay đảng phái chính trị nâng lên đặt xuống ở các kỳ đại hội!

Từ trước đến nay, các văn bản chính trị hầu hết có lối diễn đạt này. Chỉ đạo hình thành từ tư duy thiếu khoa học, thiếu thực tế, không rõ ràng, vấn đề này kéo sang vấn đề khác, tham vọng bao nắm độc trị với diễn đạt “lãnh đạo xã hội toàn diện và triệt để”. Đảng xem trọng mục tiêu cần phải thâu tóm hơn là tập trung tư duy cho giải pháp, lộ trình, sáng kiến thực hiện. Để xác định quyết tâm đó, bao giờ cũng có: kiên quyết, kiên định, đẩy mạnh, khẳng định, xác định, thường xuyên, liên tục, đề cao, nâng cao, không ngừng… một cách rất phản với quy luật lượng – chất. Khi triển khai, thường thực tiễn bỏ rơi đường lối, phải tiến hành bổ sung sửa đổi, tổng kết sai lầm một cách chung chung, trấn áp bất đồng chính kiến để bảo vệ “đường lối sáng suốt”.

Vấn đề của một đảng cầm quyền không chỉ đề ra “đường lối sáng suốt”, bởi đường lối mà còn không đúng thì đảng đó không có lý do ra đời và tồn tại. Đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản chỉ đúng trước hết và trên hết cho chính họ tồn tại từng giai đoạn, không đúng trong toàn cục đối với con đường xuyên suốt của dân tộc: bốn lần đổi tên đảng cầm quyền (thậm chí giải tán và nhờ trí thức lập ra đảng khác), bốn lần thay đổi bổ sung hiến pháp, ba lần thay đổi bổ sung cương lĩnh, ba lần triệt hạ thành phần ưu tú xã hội rồi trở lại khuyến khích đa thành phần sau khi đã đạt được cưỡng đoạt, bốn lần thay đổi đồng minh thân cận giữa hai Đảng Cộng sản nước lớn gây bao thảm cảnh… Trong những thay đổi bất ổn trên, hệ tư tưởng và lực lượng nắm quyền duy nhất trở thành “nguyên tắc bất di bất dịch”. Đảng Cộng sản biết thích nghi tồn tại, mục đích đổi mới không vì dân tộc, còn tiêu tốn biết bao nguồn lực nội sinh dân tộc.

Trong nhiệm kỳ đến, Đảng Cộng sản tiếp tục xác định bảo vệ lợi ích giai cấp công – nông và các tầng lớp xã hội. Nhưng vấn đề giai cấp hiện nay được hiểu như thế nào? Theo Lenin ở đầu thế kỷ XX, giai cấp trong chế độ TBCN là những tập đoàn người khác nhau về địa vị trong hệ thống sản xuất, về quan hệ với tư liệu sản xuất, về vai trò trong tổ chức lao động, dẫn đến khác nhau về mức độ hưởng thụ. Muốn xóa bỏ sự khác nhau giữa các tập đoàn, phải đấu tranh giai cấp và lấy đó làm quy luật phát triển xã hội. Sau gần một thế kỷ đánh đổ TBCN, giai cấp trong xã hội Việt Nam quay trở về khái niệm của Lenin, mục đích mà cách mạng hướng đến giẫm lên điểm khởi phát đầu tiên, khép lại một vòng tròn kết thúc vấn đề. Ngày nay vẫn tồn tại những tập đoàn người đúng như khái niệm trên và chưa biết bao giờ mới xóa hết. Vấn đề đặt ra là: hoặc tiếp tục thực hiện thêm một cuộc lật ngược xã hội, hoặc chấp nhận cách mạng đi vào ngõ cụt và chấm dứt vai trò Đảng Cộng sản.

Nhưng cả hai tình huống trên dường như đã không diễn ra. Cách giải quyết của tập đoàn cộng sản là: tự bỏ khái niệm giai cấp, thay vào đó hệ thống chính trị nắm giữ quyền lực. Đó là Ban Dân vận chỉ đạo Mặt trận tổ quốc và đoàn thể nông dân, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, chữ thập đỏ, liên đoàn lao động. Những hội nhóm xã hội như tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội khoa học kỹ thuật, hợp tác xã, tổ chức về giới, nhóm từ thiện, nhân đạo, hữu nghị, tổ chức phi chính phủ… không được phép hoạt động chính trị hoặc hoạt động phải chịu sự giám sát của đoàn thể chính trị dưới động thái gọi là “phối hợp”. Giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp tùy theo nguồn gốc, hoàn cảnh và điều kiện khác nhau… đều phân bố vào hệ thống này. Việc Đảng Cộng sản vẫn giương cao ngọn cờ giai cấp vô sản, đề cao liên minh công – nông chỉ là bình phong, mà sau đó thực chất là điều hành bằng hệ thống chính trị. Tựu trung cách điều hành đó là: đẩy tất cả các thành phần xã hội vào một quỹ đạo mà trung tâm là độc quyền chân lý. Trường hợp không chấp nhận sẽ bị cô lập, loại trừ bằng vũ trang và nhà tù, bất kể là công nhân, nông dân, trí thức, binh lính, đảng viên Đảng Cộng sản…

Ngày nay, các quốc gia tiến bộ hướng tới xã hội công dân, trong đó mọi người, kể cả đảng phái chính trị và nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật. Theo đó, giai cấp vô sản trở thành một bộ phận công dân trong xã hội. Ngoài nhu cầu cơm áo, hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, họ vươn tới hoàn thiện nhân cách, làm chủ chính mình, yêu tự do và chân lý, phản đối độc trị và chà đạp lên đa dạng tính người. Đảng phái chính trị càng tăng cường can thiệp vào nhà nước, càng chính trị hóa nhà nước và xã hội thì càng hạ thấp vai trò và cản trở xã hội công dân phát triển. Xã hội công dân nhằm phi tập trung hóa quyền lực nhà nước, chống lạm quyền, tạo điều kiện để phản biện bổ sung thực hiện một số lĩnh vực mà không phải lúc nào đảng phái và nhà nước cũng tác động đầy đủ. Xã hội công dân phải tránh hai khuynh hướng: đi ngược về xã hội tự nhiên chưa văn minh, sa vào một chính phủ chuyên quyền không cai trị bằng luật pháp. Nhiệm kỳ đến, Đảng Cộng sản tiếp tục giương cao ngọn cờ cách mạng vô sản mà lại điều hành nhà nước và xã hội bằng hệ thống chính trị duy nhất khép kín chính, chính là nấp dưới bóng của khuynh hướng thứ hai.

Các tầng lớp xã hội nghĩ gì trước đại hội

Trước đại hội Đảng, dư luận thường bàn về nhân sự cấp cao nhiệm kỳ đến. Quyền lực trong Bộ Chính trị nhiều thời kỳ phân bổ theo vùng miền. Đó là xu hướng khởi phát từ ngày 3-2-1930, khi ba tổ chức đảng ở ba miền hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam một cách dễ dàng chỉ qua một hội nghị bí mật. Người Anh có châm ngôn: “Đến dễ, đi cũng dễ”, âu là trường hợp này: nếu không phân chia quyền lực, tất yếu sau hợp nhất sẽ dẫn đến phân ly. Nhưng ngồi cùng chiếu mà canh giữ quyền lực, cũng tất yếu bè phái. Đã xuất hiện dự đoán những gương mặt đại diện cho các miền vào Bộ Chính trị nhiệm kỳ đến, trong đó vai trò khuynh loát của “bộ sậu” Tổng cục 2 và tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc là có thật. Chia sẻ quyền lực có liên quan đến quyền lợi, không sớm thì muộn chế độ đó sẽ bị đào thải. Xưa kia, thời Xuân Thu Chiến Quốc là bài học. Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam bị thay đổi sẽ không là ngoại lệ.

Các tầng lớp xã hội yêu cầu kỳ đại hội này Đảng Cộng sản phải trung thực với quá khứ, nhìn nhận sai lầm và thất bại, tự đánh giá khả năng. Công luận cho rằng nhân dân chỉ có thể đặt lòng tin vào người mắc sai lầm và biết sửa chữa bằng hành động cụ thể chứ không tin vào lời hứa sẽ sửa chữa với diễn biến tỉ lệ nghịch: lời hứa càng nhiều lên thì lòng tin càng ít đi. Về quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, nhiều người đề nghị đại hội cần công khai hóa trên tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên quyền lợi đảng chính trị. Có giả thuyết cho rằng nếu Đảng Cộng sản lấy lại tên Đảng Lao động Việt Nam, tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, áp dụng lại Hiến pháp 1946… thì tất yếu phải ra trước tòa án với bao tội ác khuất tất. Nhưng đó chỉ là giả thiết. Nếu Đảng tiếp tục giữ tên gọi như hiện nay, phải công khai nhận sai lầm và nêu giải pháp cho hàng loạt vấn đề nhức nhối. Đa số nhân dân không còn tin vào xã hội tốt đẹp tưởng tượng ở văn kiện. Có người hỏi các nước chỉ gọi quốc hội, chính phủ hay nhà nước, vì sao ở Việt Nam phải luôn gọi đảng và nhà nước, đảng kỳ sánh ngang quốc kỳ? Việc sắp xếp gắn liền là tạo ra chỗ đứng lạm quyền, hợp thức hóa dùng tiền thuế của dân duy trì sự tồn tại và lợi ích của hệ thống mà dân không có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Cho nên, cần trả lại chức năng và vai trò độc lập nhà nước, đảng phái chính trị phải hoạt động tự lập và tự thân như ở tất cả các nước. Có người còn đánh giá chế độ nào cũng có mặt trái của nó, nhưng riêng với chế độ hiện nay có thể nói đã đến mức thối nát.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đang nêu cao thông điệp của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Năm 2008, hòa thượng nhận định các nhà lãnh đạo cộng sản rất sợ dân chủ làm cho họ mất chính quyền. Vấn đề đặt ra là: khư khư nắm giữ quyền lực hay xây dựng đất nước tự do thịnh vượng? Thể chế cộng sản đã kéo dài sự tồn tại bằng biện minh gìn giữ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế đất nước, nhưng mục tiêu hàng đầu vẫn là “nắm chặt quyền hành”. Theo hòa thượng, đây chính là “bi kịch” của dân tộc, đất nước: công cuộc đổi mới đặt dưới sự “kiểm soát độc đoán” đã “thất bại thê thảm”, tạo ra “tình trạng chính trị và xã hội có thể nổ tung bất cứ lúc nào”.

Các vị sư đặt câu hỏi: làm gì để mang lại ổn định, hạnh phúc, phát triển đất nước? Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đề nghị xã hội phải dân chủ đa nguyên, người dân có quyền tự do bầu cử, quyền chọn lựa thể chế chính trị. Thiếu thiết chế dân chủ và pháp quyền, Phật giáo không thể góp phần chống nghèo đói bất công, không thể đem lại tiến bộ dân tộc. Dân chủ đa nguyên cũng góp phần chấm dứt đàn áp tôn giáo. Xưa kia, cha ông ta chấp nhận Tam giáo đồng nguyênvới tinh thần hòa hợp đã tác động tích cực đến quá trình phát triển đất nước. Hiện nay, Đảng Cộng sản không chấp nhận Đa nguyên đồng hành, rõ ràng đã không muốn hòa hợp còn ngăn cản phát triển xã hội. Giáo hội khẳng định sẽ huy động “tài nguyên dồi dào về nhân lực” sẵn sàng vì dân tộc nếu được tự do.

Các đạo hữu trong Giáo hội cũng chia sẻ thông điệp đón xuân Canh Dần 2010 của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Thông điệp nhận định Phật tử hiện nay mang tâm trạng “bị giày xéo từ một thế kỷ rưỡi qua” trong hoàn cảnh chính sách của nhà lãnh đạo cùng với tác động bên ngoài biến đất nước thành chiến trường, rồi thị trường, phá nát đạo trường. Vì thế, cuộc vận động không ngưng nghỉ của Phật giáo là kiên quyết chống gán ghép “cương vị chính trị”, trong sáng và công minh phục vụ dân tộc, tổ quốc, nhân loại theo sứ mệnh tôn giáo. Giáo hội cho rằng chính sách của lãnh đạo trong thời gian dài là “khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng”. Chính sách ấy phải được sửa sai, cải biến tích cực trong nhiệm kỳ đến.

Gần đến đại hội, giới trí thức cũng bàn nhiều vấn đề, trong đó tâm điểm là một nhận định của tướng Trần Độ. Trong quá trình cống hiến vì dân tộc, vị tướng này cuối đời nhận ra lý tưởng chỉ là lừa dối, là “nỗi niềm cay đắng của một cuộc cách mạng và của một kiếp người”. Ông cho rằng hệ thống chính trị ông từng tham gia nay đã thành hệ thống đàn áp bóp nghẹt. Về câu hỏi của ông: “Đảng bây giờ là đảng gì, đảng của ai?”, trí thức khẳng định: đảng của đảng. Về văn kiện tiếp tục kiên định mục tiêu XHCN, trí thức ủng hộ ông công khai bác bỏ “thứ CNXH đã thất bại ở thế giới và đã gây nên nghèo đói ở Việt Nam” và cho rằng kinh tế thị trường không thể đi đôi với định hướng XHCN.

Đối với quốc nạn tham nhũng, giới trí thức chỉ ra vào năm 1995 ông Trần Độ đã đề cập nguyên nhân: “Đảng giữ độc quyền, độc tôn, không có cơ chế giám sát, không có lực lượng nào giám sát. Đó chính là nguồn gốc của sự lộng quyền, tham nhũng mà không có một vận động chống đối nào”. Đến nay, tham nhũng lan rộng chỉ có thể lý giải do đảng viên chức quyền biến chất. Người ta cũng đặt câu hỏi như vị tướng từng hỏi: “Nhà nước này chống tham nhũng hay chống những người chống tham nhũng?”. Truớc đây, tướng Trần Độ đã đề nghị phải cho dân được bầu cử tự do, được tiếp cận thông tin và giám sát. Nhưng ở đại hội này, giới trí thức cho rằng bầu cử vẫn không đáp ứng nguyên tắc đó, vì vẫn chỉ mỗi ứng cử viên của Đảng Cộng sản.

Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ tại Hà Nội nêu thẳng học thuyết Marx-Lenin và tình trạng “mù mờ” của mô hình XHCN để lại nhiều hậu quả xã hội, nhất là tham nhũng và bưng bít. Theo ông, đa số đảng viên cộng sản hiện đồng quan điểm gạt bỏ học thuyết này, thay bằng tinh thần dân tộc. Giáo sư Dương Phú Hiệp và tiến sĩ Mai Liêm Trực cũng nói lên nhiều suy nghĩ tâm huyết với đất nước và dân tộc. Hai ông cho biết người dân đang theo dõi, chờ đợi vấn đề quan trọng nhất: đường lối có gì mới, nhân sự có ai mới. Nói cách khác, đó là chính sách và con người thực hiện chính sách. Đường lối mới mà lãnh đạo bảo thủ thì ì ạch. Đường lối cũ thì tiếp tục chệch hướng tiến bộ. Để xây dựng đường lối mới và đúng, các nhà lãnh đạo cần quan tâm người dân nghĩ gì, muốn gì. Ông Mai Liêm Trực còn cho rằng: “Một dân tộc may mắn hay bất hạnh là do người lãnh đạo dân tộc ấy. Một quốc gia muốn đi lên nhanh có ba yếu tố về lãnh đạo: mạnh, sạch và có tầm nhìn Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì dân tộc đó phát triển túc tắc hoặc bất hạnh”.

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trả lời phỏng vấn báo chí cũng đề cập nhiều thực tiễn đang đòi hỏi giải quyết. Ông ủng hộ việc hoán vị đề cao dân chủ lên trước công bằng trong khẩu hiệu: “Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, bởi vì dân chủ là yếu tố trước tiên quan trọng để tạo ra công bằng. Một xã hội không có dân chủ, người dân không được biết và không có quyền quyết định những vấn đề của chính mình cũng như đất nước trong thời gian dài là nguồn gốc bất công hiện nay. Ông cho rằng từ xã hội thần dân chuyển sang xã hội công dân, quan trọng là phải dựa trên “nền dân chủ cộng hòa”. Yếu tố này từng xuất hiện không quá một lần trong lịch sử ở quốc hiệu đầu tiên: Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày nay, cần xác định lại vị trí và vai trò của Dân Chủ trong đời sống mới. Về yếu tố “hồng và chuyên”, trong chọn nhân sự từ trước đến nay “hồng” được xem là đáp ứng đúng đủ tiêu chuẩn chính trị. Ông cho rằng “hồng” phải thực chất, chứ không phải chỉ là “cái danh đảng viên”, không phải “chỉ thấy danh mà không thấy thực”. Ông khẳng định: “Hồng không đồng nhất với đảng viên. Nhiều người ngoài đảng vẫn có thể hồng”. Vậy thì tại sao tỉ lệ những đại biểu không đảng vẫn rất hiếm trong các cuộc bầu cử, ở chức vụ địa vị cao càng hiếm?

Đảng Cộng sản đang lộ rõ bạc nhược và cơ hội. Người vào Đảng phần nhiều không có động cơ cống hiến, rèn luyện chỉ là kỳ “tu thân” như ứng cử viên “ăn ở nhỏ nhẹ” trước bầu cử. Đảng viên đương nhiệm sợ mất quyền lợi và địa vị, sợ bị kỷ luật và khai trừ. Chức vụ cao thêm sợ “mất ghế”. Nếu nhìn trong hệ thống chính trị từ trên cao xuống, sẽ thấy rất rõ hiện tượng tất cả chỉ vì mục đích “cố bám”. Vì thế, Đảng vẫn không dám công khai mở cuộc thu thập toàn bộ tâm tư nguyện vọng của người dân và chuyển cho một bộ phận trí thức độc lập tham mưu chấp bút văn kiện. Cách xây dựng văn kiện vẫn là viết trước dự thảo và chuyển đến các đoàn thể chính trị “phe ta” góp ý, lại còn quán triệt phải trên cơ sở “chỉ bổ sung sửa đổi những gì đã được thực tiễn chứng minh là đúng, cần thiết và phổ biến”. Việc góp ý văn kiện chỉ ở mức độ câu chữ hay những ý nhỏ, không ai được phép phá vỡ toàn bộ cái “lô cốt tư tưởng chủ đạo” đã định ra. Góp ý như thế mà là dân chủ? Tại sao tôi phải góp ý để hoàn thiện cho anh, trong khi tôi không được đưa ra chương trình, phương án và bộ phận thực hiện của tôi? Không ai hy vọng gì về đường lối nhiệm kỳ đến. Ngoài một số cốt cán đoàn thể chính trị góp ý văn kiện, cả xã hội chẳng ai quan tâm.

Cũng trong trong thời gian đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc, tiến sĩ Lê Văn Bảo trong một chính luận trên báo Quân Đội Nhân Dân đã nêu ra hàng loạt lo ngại về “tự diễn biến” trong nội bộ. Đó là cuộc khủng hoảng lý luận do “chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục những vấn đề mà thực tiễn đặt ra”, là các tệ nạn ngay trong bộ máy đảng và chính quyền các cấp “chưa được đẩy lùi” cùng với kỷ luật kỷ cương “còn nhiều mặt bị buông lỏng”. Đó là cán bộ đảng viên thiếu kiên định vững vàng, thiếu tu dưỡng rèn luyện, phẩm chất và năng lực hạn chế, chạy theo lợi ích cá nhân, suy thoái tư tưởng, phai nhạt lý tưởng. Đó còn là không ít quan chức cao cấp nay về hưu và “có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện; đòi đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây”… Phản ứng ngay trong Đảng Cộng sản cũng cho thấy nguy cơ sa lầy chính trị đã quá rõ ràng. “Tự diễn biến” là tất nhiên một khi mục ruỗng và biến chất xuất hiện từ bên trong.

Hiện nay, một bộ phận người dân xem chính trị là thủ đoạn, là bẩn thỉu nên không tham gia; chủ yếu chỉ tập trung chuyên môn, việc làm theo ngành nghề hay có chí hướng học thuật, kinh doanh. Số khác tâm lý mệt mỏi, thờ ơ thời cuộc. Nhiều người sợ nêu ra chính kiến sẽ phải trả giá bằng tù không tội, bị đàn áp và theo dõi… vì pháp luật lâu nay vẫn nằm trong tay Đảng. Những người khác vẫn bị truyền thông “lề phải” và hệ thống chính trị bịt miệng che mắt, chưa nhìn thấu đáo nguyên nhân xã hội trì trệ tụt hậu mấy chục năm nay, chưa hiểu vì sao tập đoàn người “tư bản đỏ” ngự trị được trên đa số đói nghèo. Thế hệ trẻ là tương lai đất nước, nhưng hầu hết chỉ mong việc làm, thu nhập, lập thân lập nghiệp. Một số lao động xuất khẩu hay du học cũng chỉ muốn đổi đời và tránh xa thể chế cộng sản…

Chỉ một tỉ lệ rất ít người có tâm huyết chính trị, là nhân tố quan trọng dự báo và kiến thiết xã hội. Họ chấp nhận bi kịch cái cũ lạc hậu nhưng chưa bị đào thải còn cố nghiền nát yếu tố mới hình thành để tiếp tục kéo dài duy trì ngôi vị. Số ít người đó rất cần sự ủng hộ của đông đảo quần chúng để có thể góp phần đưa ra chương trình hành động thiết thực, đảm bảo lợi ích dân tộc. Tham gia điều chỉnh chính thể là quyền và nghĩa vụ công dân góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Người dân Việt càng phải chung tay gỡ bỏ vật cản và chướng ngại, san lấp hố vực và dốc hiểm… bằng tinh thần ôn hòa, theo khuôn phép pháp luật. Mỗi người biết mà không nói, nói mà không hành động, thấy đúng mà không làm, thấy người khác làm đúng mà không cùng làm, thấy người khác làm đúng bị đàn áp mà không bênh vực… thì chưa hoàn thành đạo lý, bổn phận công dân. Nếu ai cũng bàng quan thì tương lai ai là chủ nhân đất nước? Phải chăng không bao lâu nữa Việt Nam phải thuê lãnh đạo từ nước ngoài như thuê giám đốc hay sát nhập vào nước khác? Càng sợ là càng làm cho chúng ta yếu đuối và kẻ cai trị không mạnh hơn nhưng chúng ta tưởng họ trở nên mạnh hơn.

Nhìn chung, cho dù đại hội lần này có tiếp tục xác định kiên trì mục tiêu CNXH, ca ngợi đó là mô hình ưu việt, cũng như tiếp tục “sáng tạo” lý luận, vẫn sẽ không thuyết phục được công luận. Chỉ khi nào đại hội tuyên bố thật sự sửa sai, đáp ứng yêu cầu bình đẳng và công bằng xã hội, trả lại chức năng độc lập và định ra cơ chế nhà nước minh bạch, thực hiện quyền công dân theo hiến định và chấm dứt che giấu sự thật bằng phương thức “bình mới rượu cũ”, thì đại hội mới đón nhận được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân.

Những nhân tố tích cực thời hội nhập

Thực trạng xã hội đã rõ: tham nhũng lạm quyền tràn lan, môi trường bị ô nhiễm và tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, hố ngăn cách giàu – nghèo ngày càng sâu rộng, đạo đức và chuẩn mực xã hội xuống cấp, chủ quyền đất nước bị đe dọa, giáo dục tiếp tục là vấn đề nan giải, thông tin một chiều bưng bít sự thật… Trong đường lối và hành động cụ thể của Đảng Cộng sản, chưa có biểu hiện nào kiên quyết và biện pháp nào hiệu quả nhằm sửa sai và đổi mới thật sự. Vì thế, cũng như xu hướng “phá rào” thời đổi mới, xã hội tiếp tục xuất hiện nhiều nhân tố tích cực đi đầu, góp phần đổi mới đất nước thời kỳ hội nhập.

 

Xu thế đối lập

Đó là những cá nhân, không phân biệt độ tuổi, lý lịch, tôn giáo, trình độ, ngành nghề… Dù không gian cư trú, môi trường nghề nghiệp, hoàn cảnh sinh sống, lứa tuổi và trải qua các thời kỳ chế độ khác nhau…, họ gặp nhau ở việc nhận ra chân lý cuộc sống, tìm kiếm và kiến tạo đời sống dân chủ, góp phần đưa đất nước phát triển. Họ tham gia phong trào đấu tranh trên tinh thần ôn hòa, bất bạo động, bằng khả năng của mình về lý luận, báo chí, phản biện, chất vấn, hình thành môi trường thông tin tự do, biểu tình đòi lại quyền lợi đã bị tước đoạt.

Đó là các nhà cách mạng lão thành như: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Trần Xuân Bách, Đào Xuân Sâm, Tống Văn Công, Đặng Quốc Bảo, Trần Độ… Hàng loạt trí thức trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, pháp luật, văn hóa xã hội, các nhà tu hành và tôn giáo… không còn ngại bị trù dập, cô lập, tù đày, luôn đi đầu trong công cuộc phục sinh nền dân chủ. Họ đã và đang nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp xã hội có tư tưởng canh tân và đòi hỏi công bằng, của công luận báo chí tự do, cũng như các tổ chức và chính phủ tiến bộ trên thế giới.

Đó là Khối 8406, Phong trào Dân chủ Việt Nam, Tập hợp Thanh niên Dân chủ… Trang bauxit.info và một số trang website khác, những blog của Tô Hải, Huy Đức, Đoan Trang, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Quang Lập, Trương Duy Nhất, Bùi Chí Vinh… luôn tuân thủ quan điểm phản ánh sự thật xã hội. Đó là những cuộc biểu tình của dân oan nhiều vùng miền trong nước, cùng hàng ngàn đơn khiếu nại tố cáo. Đó là những người dân, phần lớn không để lại tên tuổi đã bất chấp đàn áp dã man, tham gia các cuộc nổi dậy ở Thái Bình, Tây Nguyên, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Làng Mai, làng Khmer ở Tịnh Biên An Giang, Đồng Chiêm…

Không ít tiếng nói vì tự do, dân chủ, nhân quyền đã phải chịu tù đày. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế từng tham gia thành lập Mặt trận dân tộc tiến bộ. Năm 1980, ông thành lập Cao trào Nhân bản, kêu gọi nhà nước mở rộng nhân quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và tuyển cử tự do. Ông lại bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền” với mức án 20 năm tù giam và quản thúc 5 năm. Dưới áp lực của quốc tế, ông được trả tự do năm 1988. Năm sau, ông lại kêu gọi dân chủ, liên hệ với các phong trào dân chủ trong và ngoài nước. Năm 2004, ông bị kết án 30 tháng tù vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”, nhưng cuối năm ông được thả ra.

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn từng dịch tài liệu “Thế nào là dân chủ” với mong muốn đem lại đời sống tự do tốt đẹp, phổ biến trên website Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội và một số website khác, đồng thời gửi cho Bộ Chính trị Đảng Cộng sản. Ông bị bắt giam và tại phiên xử kín năm 2003, cáo trạng kết tội ông là gián điệp quan hệ với “phản động lưu vong nước ngoài” chống phá nhà nước, phát triển lực lượng đối lập. Tòa tuyên ông 13 năm tù. Phong trào dân chủ thế giới đã lên tiếng bênh vực, nên phiên tòa xử phúc thẩm giảm xuống còn 5 năm tù giam và 3 năm quản chế. Năm 2006, ông được trả tự do.

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình từng 10 năm làm việc ở tạp chí Cộng Sản. Đầu năm 2001, ông kêu gọi dân chủ nhân quyền, lập ra Đảng Dân chủ Tự do, câu lạc bộ Dân chủ, Hội nhân dân chống tham nhũng, kêu gọi cải cách chính trị. Năm 2002, công an khám nhà và bắt giam ông sau khi ông gửi tài liệu phản ánh tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam đến Ủy ban nhân quyền thuộc Quốc hội Hoa Kỳ. Phiên xử kín đã tuyên ông 7 năm tù và 3 năm quản thúc. Các tổ chức nhân quyền và hội nghề nghiệp báo chí lên án, nhưng phiên phúc thẩm vẫn y án. Ông nhận bản án, tuyên bố: “Đối với tôi, tự do hay là chết” và bắt đầu tuyệt thực. Gần 3 tuần sau, tòa án đồng ý xét lại vụ án.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang là một trong những người ra báo Tổ Quốc, từng viết bài nhìn nhận cuộc đời Hồ Chí Minh, lên án báo An ninh Thế giới “càng giẫy giụa điên cuồng, càng dấn sâu vào tội lỗi” khi cho đăng bài bôi nhọ và vu cáo đấu tranh dân chủ. Ông liên tiếp bị công an quấy nhiễu, khủng bố tinh thần. Tháng 2-2010, ông viết một bức thư cho biết sẽ tự thiêu ở tuổi 74 nếu tiếp tục bị gây áp lực: “Tôi không còn ân hận, cũng không nuối tiếc gì nhiều nữa mà sẵn sàng bật cháy lên ngọn lửa căm phẫn ngất trời để mọi người nhanh chóng nhìn rõ những bộ mặt, những tâm địa xảo trá bất lương của kẻ bất chấp công lý, đạo lý, đầy đọa mãi nhân dân tôi trong những nỗi đắng cay, oan khuất trường cửu”.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa cùng Phạm Thanh Nghiên, Vũ Cao Quận năm 2007 gửi đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Thành Phố Hà Nội cho tổ chức cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo theo quy định điều 69 của hiến pháp. Ngày biểu tình đến gần, ông bị buộc không được ra khỏi nhà. Sau đó, ông liên tục bị công an theo dõi, quấy nhiễu, hành hung và đe dọa. Phạm Thanh Nghiên bị bắt tháng 9-2008 và bị kết tội “tuyên truyền chống nhà nước XHCN”, mức án 4 năm tù và 3 năm quản thúc. Ban đầu, bà bị quy tội treo băng rôn phản đối Trung Quốc, sau lại chuyển thành tội tuyên truyền chống chế độ qua việc phát tán bài viết “Uất ức quá biển ta ơi”. Cũng trong sự kiện này, tòa đã tuyên nhà văn Trần Đức Thạch, nhà giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Ngô Quỳnh, Nguyễn Mạnh Sơn từ 2 đến 6 năm tù.

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết sách báo từ năm 1993. Tháng 4-2007, bà bị Công an Thành phố Hà Nội bắt vì tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Tháng 2-2010, bà bị xử 3 năm rưỡi tù vì tội “cố ý gây thương tích”, một tội được cơ quan an ninh dàn dựng bằng hình ảnh và chứng cứ giả mạo để hợp thức hóa bắt giam. Luật sư bào chữa đã nêu ra tại phiên tòa 5 điểm khẳng định chứng cứ là dàn dựng, tòa không có ý kiến trả lời và vẫn kết án. Hồ Thị Bích Khương cũng có những việc làm kêu gọi dân chủ, liên kết với các lực lượng đấu tranh, bị công an bắt giam, tra tấn gây thương tích dã man trong tù, nay đã được trả tự do.

Những người từng bị bắt giam, đàn áp, tra tấn và kết tội trên đây đúng là tù nhân lương tâm, hy sinh vì tự do dân chủ cho đất nước. Không những công luận trong nước ủng hộ, mà các tổ chức nhân quyền thế giới cũng đã trao cho họ các giải thưởng như Giải thưởng Raoul Wallenberg, Giải thưởng Robert Kennedy, Giải thưởng Hellman/Hammett, Giải thưởng Heinz R. Pagels hay ghi danh ứng cử Giải Nobel hòa bình.

Giải thưởng Hellman/Hammett do tổ chức Human Rights Watch lập ra năm 1989, theo chúc thư của nhà biên kịch Lillian Hellman. Bà quyết định dành tài sản của mình hỗ trợ người cầm bút bị cô lập và đàn áp do có chính kiến riêng. Từ khi thành lập đến nay, gần 700 giải thưởng đã được trao tặng, trong đó dành cho Việt Nam: các nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Văn Hải (Hoàng Hải, Điếu Cày), Nguyễn Khắc Toàn; các nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Nghĩa; các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Chí Quang, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân; các cựu sĩ quan Phạm Quế Dương, Trần Anh Kim; các nhà trí thức Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sỹ Phu), Đỗ Nam Hải, Nguyễn Phương Anh, giáo sư Nguyễn Chính Kết, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Thượng Long, Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên; các vị tu hành như Thượng tọa Thích Thiện Minh, Linh mục Nguyễn Văn Lý… Nhiều vị đã nhận Giải Hellman/Hammett, đồng thời còn được nhận giải thưởng của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam ở Hoa Kỳ thành lập từ năm 2002 đến nay, như Hòa thượng Thích Quảng Độ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cụ Lê Quang Liêm, Linh mục Phan Văn Lợi, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Mục sư Nguyễn Công Chính, ông Hoàng Minh Chính, bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận.

Người Việt nước ngoài còn có hàng loạt cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin góp phần cổ vũ tự do dân chủ, đa nguyên đa đảng, xây dựng xã hội dân sự. Trong đó, phần lớn tiếng nói có tinh thần tự cường dân tộc, tinh thần phản biện ôn hòa đối với chủ trương đường lối làm trì trệ  đất nước. Nhưng tất cả bị quy vào dạng thúc đẩy “diễn biến hòa bình”. Chỉ thị số 34-CT/TW giữa năm 2009 của Đảng Cộng sản tổng kết: “Theo báo cáo của Bộ Công an, hiện có 413 tổ chức phản động; 62 đài phát thanh và truyền hình, 390 báo và tạp chí phản động và 88 nhà xuất bản ở hải ngoại chống phá ta. Từ sau Ðại hội X, ta phát hiện thêm 2 đài (Đài tiếng nói thanh niên và Đài Hồn Việt), 5 tổ chức phản động mới và 20 chiến dịch tuyên truyền phá hoại tư tưởng đối với Việt Nam”.

Dù Đảng Cộng sản không chấp nhận có đối lập, nhưng cộng đồng người Việt đã có nhiều tổ chức chính trị hoạt động như: Đại Việt Cách Mạng Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đảng Dân Chủ Nhân Dân, Đảng Tân Đại Việt, Đảng Vì Dân, Đảng Nhân Dân Hành Động, Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng…

 Vấn đề là cần phải tìm hiểu nguyên nhân ra đời, sự tồn tại và hoạt động của xu hướng đối lập. Đấu tranh vì dân chủ bằng nhiều hình thức khác nhau ngày càng nhiều, không chấp nhận Đảng Cộng sản nói thay mọi tư tưởng tình cảm mà thật ra là nói cho và nói vì chính họ. Nếu tinh thần đối thoại cởi mở, trung thực được tôn trọng và duy trì thường xuyên, thông tin từ các kênh truyền thông sẽ được điều chỉnh bởi sự thật. Đời sống công luận xã hội hiện nay bị dồn nén chật hẹp, chứa nhiều yếu tố không đồng nhất, không đồng hành. Đảng Cộng sản với lý luận Marx-Lenin hiểu rất rõ tính hai mặt của sự vật hiện tượng, nhưng vì bảo thủ nên đã cố tình gạt bỏ, đàn áp. Chắc chắn mâu thuẫn phải được giải quyết để hình thành một diễn đàn mới.

Việc đảm bảo quyền của người dân được tiếp cận thông tin sẽ tác động tích cực vào cuộc sống. Thông tin hai chiều được công khai, không dùng vào việc đối phó che lấp sẽ cải thiện cách thức làm việc của chính quyền. Thông tin còn là yếu tố hàng đầu của nền dân chủ ở mọi cấp độ. Mọi lĩnh vực và đối tượng có quyền ngang nhau về khai thác và hưởng thụ giá trị thông tin cũng góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Cơ chế thông tin công khai làm tăng lòng tin của người dân, góp phần phát triển an toàn, vững bền và thịnh vượng. Vì thế, cần phải luật hóa quyền được tiếp cận thông tin dành cho toàn dân sau khi đã quy định chung trong hiến pháp. Xã hội cần có công cụ và phương tiện tạo ra cơ chế thông tin mở, sâu rộng mọi lĩnh vực. Một xã hội dân chủ trước hết phải tự do thông tin, xem xu thế đối lập và phản biện là tất yếu. Không còn lý do gì để Đảng Cộng sản loại các cá nhân và tổ chức nói trên ra khỏi đời sống chính trị, không được tham gia vào công luận và nói lên tiếng nói bảo vệ quyền lợi dân tộc.

 

Một đảng và đa đảng

Thực chất thâu tóm quyền lực

Trong bài viết đăng trên tạp chí Cộng Sản số 2-1990, quan điểm một đảng được thể hiện như sau: “Trong điều kiện Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai, không có sự cần thiết khách quan nào để tạo dựng nên các đảng phái chính trị đối lập. Một chế độ dân chủ chân chính không phải được quyết định ở chỗ có một đảng hay nhiều đảng. Vấn đề là ở chỗ nền dân chủ đó hình thức hay có thực chất, dân chủ cho một thiểu số hay cho đa số nhân dân”. Nếu căn cứ quan điểm này để trao đổi các vấn đề xã hội, sẽ diễn ra bàn cãi khó chấm dứt thực trạng hình thức hay thực chất trong dân chủ, thiểu số hay đa số được hưởng dân chủ.

Các đảng phái chính trị đối lập có thể khác nhau về đường lối, phương pháp lãnh đạo nhưng cùng một mục tiêu góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền và đưa xã hội đến dân chủ. Trong trường hợp đó, nhà nước và pháp luật là trụ cột, hoàn toàn không phải các đảng đối lập chính trị có thể khuynh loát và gây rối loạn. Trả lời phỏng vấn Đài RFA mới đây, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã giải thích một khi hiến pháp hiện nay “không có bất kỳ câu nào, từ nào, quy định nào” cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam và những tổ chức tiền thân trước đó là đảng phái chính trị duy nhất thì mặc nhiên phải có đảng phái chính trị khác. Ông chỉ rõ: “Tức là ngay hiến pháp cũng đã khẳng định, ở Việt Nam, dưới chế độ gọi là Cộng sản, chế độ đa đảng vẫn luôn tồn tại và tồn tại trước hết ở trong hiến pháp”. Một khi vấn đề đã tồn tại trong hiến pháp, theo ông không còn lý do để né tránh hay cấm đoán đa nguyên đa đảng: “Để có được việc thực thi một cách nghiêm túc những quy định pháp luật, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người dân, thì tôi – Cù Huy Hà Vũ – khẳng định: Cách duy nhất là phải có chế độ đa đảng tại Việt Nam!”

Chính đảng chỉ có thể được giải thích là độc quyền. Để có hơn ba triệu đảng viên, các tổ chức cơ sở đã rà soát lý lịch nhiều lần, thậm chí căn cứ vào lý lịch để phân loại khác nhau. Điều kiện tiên quyết ổn định công tác và tiến thân là phải được kết nạp Đảng. Không được kết nạp Đảng chỉ có thể là công chức bậc thường hay thường dân. Chúng ta cũng biết, không phải ngay sau 1975, sau 35 năm thống nhất đất nước, con em những gia đình liên quan chế độ trước 1975, gia đình Công giáo vẫn bị phân biệt, chịu thiệt thòi, hiếm có những cơ hội thuận lợi. Phân biệt lý lịch và thành phần là nguyên nhân đầu tiên, ở ngay khâu nhân sự, tạo ra chính đảng và độc quyền.

Mặt khác, đến lúc này trong hàng ngũ Đảng Cộng sản đã có sự phân hóa giữa đảng viên chức quyền giàu có và đảng viên liêm khiết trong sạch hoặc chỉ có thể sống bằng đồng lương; giữa thoái hóa biến chất dẫn đến tham nhũng và mất tư cách đạo đức với tâm huyết dân tộc đã trả thẻ ra khỏi Đảng, giữa đảng viên lớn tuổi nhưng bảo thủ và trì trệ với lớp đảng viên trẻ hoàn toàn thực tế trong kinh tế thị trường, giữa hơn ba triệu đảng viên cơ sở chỉ làm công cụ cho một nhóm đảng viên có chức quyền từ Bộ Chính trị đến các cấp dưới. Tình hình tư tưởng xã hội đa dạng ấy tất yếu sẽ dẫn đến đa đảng đại diện cho những nhóm khác nhau về lý tưởng, phương pháp lãnh đạo và phân phối quyền lợi.

Công an và quân đội, về nguyên tắc là lực lượng duy trì an ninh và bảo vệ đất nước. Nhưng ở Việt Nam, lực lượng vũ trang được điều động đàn áp người dân. Còn có sự kiện trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, vào tháng 5-1946 tại Trường võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây, Hồ Chí Minh trao lá cờ có dòng chữ: Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Lá cờ ấy ngày nay đã thay bằng khẩu hiệu: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân…. Lại thêm Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định Đảng lãnh đạo tuyệt đối và mọi mặt đối với lực lượng vũ trang. Thanh niên vào quân đội không còn trung thành phục vụ đất nước mà để bảo vệ đảng chính trị?

Tình hình cho thấy sức mạnh chuyên chính vô sản không còn gắn liền với liên minh công – nông, thay vào đó là tuyên giáo – lực lượng vũ trang. Lực lượng phối hợp mới này có hai nhiệm vụ: chuyển ý chí của Đảng đến nhân dân – bảo vệ Đảng từ trong nội bộ ra ngoài. Câu hỏi đặt ra: hiện xã hội đã độc đảng, có cần thiết phải áp đặt nhận thức về đảng mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng hay không, nếu không phải là tiếp tục củng cố độc quyền? Phải chăng đây là biểu hiện tà giáo cộng với bạo lực? Và vì sao tầm ảnh hưởng, mức độ áp đặt ấy không bị giới hạn bởi một điều luật nào? Đó là nguyên nhân sâu xa của một chính đảng đã làm trì trệ đất nước, xâm hại quyền lợi dân tộc.

Để xã hội hạn chế phân biệt đối xử chính trị, thêm lần nữa khẳng định phải trả lại cho nhà nước độc lập, pháp quyền và dân chủ. Chỉ có như vậy, xã hội mới thật sự có được “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Một nhà nước trở thành lực lượng “ra tay” khi đảng “chỉ tay” thì nhà nước đã nằm trong tay đảng. Tướng Trần Độ trong những năm đổi mới từng cho rằng Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ độc tôn độc đảng, từ bỏ độc quyền toàn trị và khôi phục vai trò, vị trí chính phủ. Để làm điều đó, theo ông phải sửa chữa luật pháp theo đúng tinh thần hiến pháp: “Phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, từ bỏ “hiệp thương” mà thực chất là gò ép”.

Dịp Quốc khánh 2009, giáo sư Nguyễn Trọng Phúc thuộc Học viện Chính trị – Hành chính, trong trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam dứt khoát, trước sau như một, không chấp nhận có đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam… Hiện nay pháp luật Việt Nam, điều lệ và cương lĩnh của Đảng Cộng sản không chấp nhận chuyện này. Và một đảng không có nghĩa là mất dân chủ và đa đảng không có nghĩa là dân chủ”. Theo ông, có nhiều con đường đi đến khẳng định chế độ chính trị nào được toàn dân ủng hộ, không nhất thiết trưng cầu dân ý; cứ theo dõi đời sống, tình cảm, thái độ của người dân như thế nào là có thể hiểu được.

Có người hỏi lại: Đảng Cộng sản không chấp nhận đa nguyên đa đảng là không chấp nhận “tự diễn biến” trong nội bộ, làm sao có quyền không chấp nhận cho cả xã hội rộng lớn vốn chứa nhiều tư tưởng và quan điểm khác nhau? Ai cấm được tự do tư tưởng ở con người? Ai cấm được một công dân đất nước công khai chọn lựa hay không chọn lựa đường lối lãnh đạo của một đảng phái chính trị? Về điều lệ và cương lĩnh không chấp nhận đa nguyên thì nó cũng chỉ có giá trị giới hạn trong tổ chức đề ra điều lệ và cương lĩnh ấy mà thôi.

Giáo sư khẳng định pháp luật “không chấp nhận chuyện này”, nhưng văn bản luật cao nhất là Hiến pháp 1992 không quy định Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo xã hội. Lập luận một đảng không có nghĩa là mất dân chủ mới chỉ đề cập một nửa vấn đề, bởi vì nó không bao hàm như vậy sẽ có dân chủ. Điều này còn tùy thuộc vào thực tế lãnh đạo của đảng đó, mà thực tế thì hiện nay đã quá rõ. Nên hiểu dân chủ là một giá trị đời sống xã hội, cần thiết cho tất cả mọi người, các đảng có thể góp phần xây dựng và mở rộng dân chủ; hoàn toàn không phải có quyền quyết định tạo ra hay triệt tiêu, mở rộng hay thu hẹp, buông thả hay nắm giữ ban phát dân chủ.

Nhận định các nước đa đảng chưa hẳn có dân chủ chẳng qua là ngụy biện. Đảng phái không quyết định việc có hay không có dân chủ, mà nó tác động để thúc đẩy dân chủ diễn ra theo chiều hướng tích cực hơn, nhanh hơn. Chỉ có một đảng, tất yếu dân chủ bị lạm dụng, chiếm dụng. Hãy nhìn lại các nước đa đảng, đời sống dân chủ dĩ nhiên vẫn còn những vấn đề cần bàn, nhưng nhìn chung toàn cục thì bao giờ cũng tiến bộ và tích cực hơn so với vài nước còn chế độ độc đảng. Về vấn đề này, ông Hà Sĩ Phu đã có lần trả lời: Nếu vậy thì chúng ta chỉ còn biết nhắc lại cái điều sơ đẳng: “đa” là điều kiện cần, chứ không phải là điều kiện đủ!”

Vì sao giáo sư Phúc khẳng định tiếp tục duy trì chế độ chính trị ở Việt Nam bằng định tính mà né tránh phương pháp có thể định lượng như trưng cầu dân ý cho ra kết quả rõ ràng? Bởi vì trước đây trong chiến tranh, Đảng dựa vào định tính và duy tình, vốn là đặc điểm lâu đời của người Việt, để tồn tại. Nhưng ngày nay thì tình và lý lẫn lộn nơi công quyền, trong các quan hệ công tác, nơi tòa án, trong các quan hệ bè phái tham nhũng và cả trong hiến pháp. Khi cần cho vận động, Đảng kêu gọi nghĩa tình, nhưng khi trấn áp cá nhân và nhóm đối lập thì mọi giá quy chụp bằng điều luật để trở thành có tội.

Xét sâu xa ngọn nguồn, giá trị dân chủ phương Tây đã đến với Việt Nam thông qua các nhà truyền giáo từ thời vua Gia Long. Về sau, những lần diễn thuyết của Phan Chu Trinh tại Hà Nội hay Sài Gòn nhiều lần đề cập đến đời sống dân chủ. Đảng Cộng sản những năm còn hoạt động bí mật hay bán công khai cũng dựa vào dân chủ vận động quần chúng. Khi nền dân chủ XHCN xuất hiện, các giá trị dân chủ chung của nhân loại, nhất là tự do dân chủ cá nhân, bị tước đoạt. Nền dân chủ ấy đã bị đảng cầm quyền biến thành hai mặt: lợi dụng phẩm chất và niềm tin của dân tộc luôn đặt lợi ích cộng đồng lên hàng đầu, ngăn chặn bất cứ đòi hỏi hay quyền lợi chính đáng cá nhân. Nhưng đến khi quyền lợi của dân tộc bị xâm hại, quyền lợi cá nhân các quan chức cộng sản được tăng cường, người ta thấy rõ thêm thực tế hoàn toàn ngược lại.

Dịp kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản năm 2010, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phê bình về thực trạng tham nhũng, quan liêu và chủ nghĩa cá nhân. Ông cho rằng: “Đảng không nhận thức được là lòng tin cậy của dân chúng vào Đảng và Nhà nước đang xuống dốc trầm trọng vì các viên chức trong chính quyền và đảng viên thiếu đạo đức làm gương và tầm vóc trí thức”. Một đảng tiên phong mà “xuống dốc trầm trọng”, các đảng viên lại thiếu đạo đức lẫn tri thức, nói cách khác là thiếu tâm lẫn thiếu tầm, thì rõ ràng đảng đó đã bất lực. Giáo sư Phúc có thể trả lời như thế nào về vấn đề một đảng và đa đảng trước phê bình của nguyên Tổng Bí thư?

Cũng vào dịp này, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức hội thảo, xuất bản sách cùng nhiều hoạt động. Nhà báo Bùi Tín trong một trả lời phỏng vấn Đài AFP cho rằng tất cả chỉ là hình thức, những diễn văn kỷ niệm đề cập về giai cấp vô sản, quá độ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới không thoát khỏi “nặng về công thức, nặng tính giáo điều”. Và ông tin người viết ra, đọc lên, cả người ngồi nghe, không còn ai thực tâm đón nhận cả, bởi vì: Họ đang là những nhà tư sản, tư bản mới, có nhà đất, có cổ phần, chứng khoán, khá nhiều còn hùn hạp với các triệu phú, tỷ phú quốc tế. Họ chỉ giữ lại của lý luận cộng sản cái phần xấu nhất là nền chuyên chính độc đảng để bảo vệ tài sản riêng bất chính”.

Trong thời gian gần đây, tình hình chính trị Thái Lan có một số bất ổn bởi các cuộc biểu tình. Nhân đó, hệ thống tuyên truyền ở Việt Nam đưa ra nhận định: đa nguyên đa đảng đấu tranh dẫn đến thực trạng trên, thậm chí sẽ có thể cát cứ, loạn lạc, nội chiến, báo thù. Trong khi đó, Việt Nam chỉ có một đảng nên vẫn ổn định phát triển. Điều gì lẩn khuất sau giải thích ấy? Trước hết, cần công nhận Thái Lan đã có dân chủ hiện đại. Quá trình nâng cao dân trí đặt ra đòi hỏi nền dân chủ ấy phải được cải tiến. Năm 2006, hàng chục ngàn người phe Áo Vàng (Liên minh Nhân dân vì dân chủ, gọi tắt là PAD) biểu tình chống cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Từ năm 2009 đến nay, phe Áo Đỏ (Phong trào Liên minh dân chủ chống độc tài, gọi tắt là DAAD) xuống đường tạo ra đối trọng, ủng hộ vị cựu thủ tướng này. Nhưng đó là chuyện đảng phái. Bộ máy hành chính các cấp vẫn hoạt động, kinh tế mặc dù có thiệt hại nhưng nhìn chung vẫn phát triển, người dân vẫn tự do đi lại và công khai chính kiến. Bất ổn sẽ qua và quan trọng là Thái Lan sẽ đạt được những giá trị dân chủ tích cực, tiến bộ hơn. Biểu tình ở Thái Lan nhìn chung vẫn trong khuôn khổ ôn hòa và tôn trọng pháp luật, cho thấy người dân bày tỏ chính kiến là quyền hiến định. Cho nên, biểu tình là tất yếu, không biểu tình mới càng đáng sợ, bởi công dân sẽ trở lại là thần dân phải chấp nhận mà không được chọn đại diện cầm quyền. Xét về nguyên nhân, tiềm ẩn bất ổn cũng không phải do đa đảng, đa đảng chỉ đứng ra giải quyết khi vấn đề xuất hiện. Trong xã hội dân chủ, phản ứng của các nhóm khác nhau giúp cho quá trình vận động được tích cực hoàn toàn không phải là sụp đổ.

Ông Václav Havel từng là lãnh đạo cuộc “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc có bài nói chuyện về “Dân chủ và độc tài” đáng để chúng ta suy ngẫm về tình hình biểu tình ở Thái Lan và nhìn lại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay. Quan điểm bao quát của ông là: “Ngay cả một chính quyền dân chủ đang thối nát hay suy thoái vẫn một ngàn lần tốt hơn cái chính quyền hoàn toàn giả tạo do một chế độ độc tài áp đặt bằng bạo lực hay sự tẩy não”. Theo ông, chế độ dân chủ là “một hệ thống mở”, vì thế luôn cơ động và dễ dàng trong cải biến xã hội. Tự do trong xã hội dân chủ là “không gian cho tinh thần trách nhiệm” mà nếu không gian ấy chật hẹp, không tiện nghi, khiếm khuyết hay sai lầm thì nhất định không phải do dân chủ tạo ra (ở Việt Nam người dân từng mất hết tự do khi vào các loại hình hợp tác xã nên không ai có tinh thần trách nhiệm, và dĩ nhiên cái không gian ấy chỉ có thể do mất dân chủ mới có). Đó là hiện trạng xã hội, là bài toán đặt ra cho dân chủ tìm kiếm một cách giải và một kết quả (xé rào, cởi trói, khoán chui ở Việt Nam từng là cách tìm kiếm một giải pháp, nhưng đáng tiếc nó không được sự hướng dẫn, hỗ trợ tích cực của các phong trào dân chủ). Đối với chế độ độc tài, cái không gian đáng ra là nơi tồn tại cho tinh thần trách nhiệm đã bị chiếm đoạt, bị “lấp kín bằng một chính quyền giả tạo” (đúng với thực trạng “Đảng cử – Dân bầu” ở Việt Nam). Ông chỉ ra: “Những nhà độc tài đều rất giỏi canh chừng thời kỳ khủng hoảng chính quyền trong chế độ dân chủ” (chính xác đó là luận điểm sai lệch của lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận đa đảng làm bất ổn Thái Lan).

Ông cũng chỉ ra thái độ thờ ơ, xa lánh chính trị, bỏ mặc vận mệnh dân tộc, cộng đồng chính là chối bỏ chính bản thân mình ở mỗi thành viên xã hội: “Nhân dân càng ít lưu tâm đến sự thử thách nảy sinh từ chế độ dân chủ, càng ít thành công trong việc lấp đầy cái không gian mà chế độ dân chủ mang đến cho họ” (xã hội Việt Nam mà người dân chỉ có thể là thành viên trong các đoàn thể chính trị vô sản đúng nguyên thực trạng này). Thay vào đó, những nhà độc tài tự xưng gánh vác trách nhiệm đã nhanh chóng giành lấy không gian ấy và “cuối cùng chiếm lấy nó trọn vẹn”. Đó là trường hợp của Hitler, Lenin, Mao Trạch Đông (cũng là chế độ độc đảng từng bước hình thành từ 1945 và được củng cố vững chắc đến nay với không ít nhân vật chủ chiến, bảo thủ trong Bộ Chính trị. Đọc Václav Havel, càng hiểu thêm vì sao thể chế dân chủ cộng hòa và Hiến pháp 1946 mới vừa ra đời đã sớm ra đi). Khi đã chiếm lấy không gian mà đáng ra phải được mở rộng ấy, các chế độ độc tài thường “khóa chặt” lại, dẫn đến “hủy diệt luôn chính nền dân chủ” (Việt Nam hiện nay không có chính kiến nào được tôn trọng ngoài đường lối của Đảng Cộng sản). Ông khẳng định một khi không gian tự do duy nhất đã về tay những người nhân danh nhận lãnh trách nhiệm xã hội thì nó trở thành “cái buồng giam trong trại tù” (hành xử đàn áp, mở tòa xét xử, quy tội và giam tù những người đấu tranh ôn hòa hiện nay là một biểu hiện).

Đối với các quốc gia chưa phát triển, những nơi mà “gốc rễ của ý thức dân chủ chưa cắm sâu” và một cá nhân tự do hoàn toàn vô nghĩa trước nhà lãnh đạo thâu tóm quyền lực, các lãnh đạo thường dựa vào truyền thống để tiếp tục ngự trị và hợp pháp hóa độc tài bằng cách làm cho người dân tin rằng họ đang kế thừa và phát huy truyền thống (ở Việt Nam thường thấy là lãnh đạo dựa vào duy tình, định tính). Nhưng diễn biến cho thấy trong quá trình đó, nhà lãnh đạo lại để xảy ra điều ngược lại: phủ định truyền thống bằng một quyền lực phản tự nhiên (đó là thực trạng xã hội bị đảo lộn nhiều giá trị hiện nay). Ông đưa ra kết luận: “Không có lý do gì để sợ chế độ dân chủ, hoặc xem nó như một hệ thống có khả năng lật đổ chính quyền và làm cho mọi sự tan nát” (Vậy thì tại sao lại nhìn Thái Lan để mà “lo xa” cho Việt Nam, tại sao đàn áp đấu tranh dân chủ ôn hòa trong nước?). Độc đảng Việt Nam với hàng loạt tiến sĩ, giáo sư chuyên ngành lý luận Marx-Lenin có thể đăng đàn công khai đối thoại hay bác bỏ trước bài phát biểu này?

Marx từng lập luận: “Hạnh phúc là đấu tranh”, lấy đó phát động cách mạng vô sản bằng phương pháp bạo lực. Nhưng ông không có dịp chứng kiến việc vận động đi đến xóa bỏ Bức tường Berlin bằng dân chủ ôn hòa và dân trí dân tâm mới thật sự đem lại hạnh phúc cho người Đức và nhiều dân tộc. Tại Việt Nam, sau khi dùng bạo lực cướp chính quyền, Đảng Cộng sản lại buộc đấu tranh mà Marx gọi là động lực phát triển xã hội, phải dừng lại. Một quan chức Bộ Ngoại giao cho rằng Việt Nam hiện là quốc gia khởi đầu “Dân chủ độc đảng”, “Dân chủ nhất nguyên”, vấn đề nội trị thì “đóng cửa lại dạy dỗ trừng phạt theo cách của chúng tôi”, còn “nhà nước với đảng như một đại gia đình, là anh em một nhà… không nên tranh luận”. Lập luận trên đã loại bỏ vai trò của hiến pháp, pháp luật và công luận trong nước cũng như quốc tế. Hơn thế nữa, nó tạo ra tình trạng ổn định không thật, cố huy động cả hệ thống chính trị dồn ép bất ổn xã hội đến chân tường. Không giải quyết bất ổn và nguyên nhân nảy sinh bất ổn mới là nguy cơ sụp đổ không bao giờ cứu vãn được. Cho nên, tuyên truyền chỉ nhằm tiếp tục duy trì thể chế độc đảng bưng bít và trì trệ, còn tệ hại hơn nhiều lần so với biểu tình giải tỏa và đi đến giải quyết vấn đề.

Tình trạng ổn định không thật ở Việt Nam còn được nhìn thấy qua quan điểm của một lãnh đạo cao cấp. Trong một trả lời phỏng vấn báo chí, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cho rằng: “Những người không phù hợp đường lối buộc phải để ra bên ngoài, không giao trọng trách, không có cách nào khác cả”. Và nhằm tránh những người này bất mãn chống đối lại có chủ trương:  “…phải tạo điều kiện để họ đóng góp ý kiến, không được phân biệt đối xử”. Lập luận này vẫn tiếp tục bảo thủ và độc đảng, không khác cho rằng đảng của đảng chứ không phải đảng của dân tộc. Tại sao những người “không phù hợp với đường lối” buộc chỉ còn mỗi cách “để ra bên ngoài” ? Có gì thực tâm cầu thị và đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới khi những người này được đóng góp ý kiến và không phân biệt đối xử nhưng lại “để ra bên ngoài” ? Không phù hợp đường lối gồm nhiều trường hợp: đường lối sai lầm (kể cả chưa triển khai thực hiện), đường lối đáp ứng nhu cầu và thực tiễn hơn so với Đảng Cộng sản, đường lối đối lập dẫn đến phải cạnh tranh chính trị, đường lối không chấp nhận ngọn cờ XHCN… Tất cả những trường hợp trên đều “không phù hợp với đường lối” của Đảng Cộng sản? Ông Nguyễn Văn An có không ít quan điểm tiến bộ, riêng cách nghĩ trên chỉ tự gây cô lập đối với Đảng Cộng sản, biến tình trạng ổn định không thật thành bất ổn có thật.

Không tìm đâu xa, bất ổn ấy đã và đang tồn tại ngay ở hàng ngũ lãnh đạo. Trong những ngày diễn ra Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 16 năm 2010 tại Hà Nội, với vai trò Việt Nam là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đương kim Thủ tướng Chính phủ kêu gọi quốc gia thành viên Miến Điện kỳ bầu cử đến cần tổ chức công bằng, dân chủ, có sự tham gia của các đảng phái. Phát biểu nằm vào một trong các trường hợp: khuyên người mà không ngẫm mình, thêm “lỡ lời” tương tự một Phó Thủ tướng từng nói về chủ trương đồng thuận khai thác bauxit, lộ rõ yếu tố không tương thích trong khối ASEAN của phép cộng 10 quốc gia, từng cá nhân và nội bộ cấp cao đang “tự diễn biến” ngay trong tư duy mà không có cơ chế kiểm soát và không thể ngăn chặn, đường lối đối nội và đối ngoại hai mặt tương tự mời Việt kiều về nước nghe nói chuyện biển đảo mà trong nước chưa từng được nghe…? Cho dù ở trường hợp nào, phát biểu của người đứng đầu chính phủ trong hoạt động ngoại giao cần được xem xét và đánh giá nghiêm túc. Trước sự kiện trên diễn ra sau phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời phỏng vấn báo chí khi đến Ấn Độ rằng Việt Nam chưa cần thiết đa đảng, một nhà giáo trong nước nhận định sự thiếu nhất quán ấy cho thấy “khủng hoảng nhất định đối với giới lãnh đạo hiện nay”.

Nhìn lại lịch sử đất nước đến giai đoạn này, mặc dù chế độ quân chủ đã khép lại, ngai vàng ở triều đình Huế đã là cổ vật bảo tàng (thậm chí du lịch còn khai thác thu tiền), nhưng ở góc độ nào đó, duy nhất đảng – nhà nước hôm nay ra sức bưng bít, lại thêm công khai tuyên bố đi đầu khởi xướng “Dân chủ độc đảng”, “Dân chủ nhất nguyên”, có đặc điểm của phủ chúa – cung vua xưa kia. Hơn thế nữa, đặc điểm ấy còn gắn liền với tư tưởng làm đảo lộn toàn bộ xã hội và buông tay trước sụp đổ ngổn ngang gây ra. Đời sống dân chủ vẫn chưa thật sự hình thành. Hiện tượng đảng viên cao cấp tìm mọi cách làm giàu và củng cố quyền lực, đồng nghĩa với rời bỏ lý tưởng để chiếm giữ giá trị vật chất, bước lên những nấc thang cao nhất trong phân tầng xã hội. Đó là nguyên nhân Đảng Cộng sản trước sau như một không muốn thấy các tổ chức chính trị thành lập. Ông Hà Sĩ Phu chỉ rõ tình trạng “chỉ có một” sẽ không thể nào biết được tốt hay xấu, không những không tin khi người khác phê phán xấu mà còn tìm cách quy tội phê phán là “phản động”. Hơn thế nữa: “Nếu chỉ có một thì dẫu cho ban đầu có tốt thực trăm phần trăm, sau dứt khoát cũng trở nên xấu, dẫu cho ban đầu có dân chủ thực chất thì sau dứt khoát cũng trở nên dân chủ hình thức”.

Về Đảng Dân Chủ Việt Nam

Đảng Dân Chủ Việt Nam thành lập ngày 30-6-1944, đến trước 1988 vẫn chính thức hoạt động. Để chuẩn bị cho Hiến pháp 1992 ra đời, việc xóa tên các chính đảng trong hệ thống chính trị rõ ràng là một chủ ý. Từ đó, Đảng Cộng sản sắp xếp và tuyên bố Đảng Dân Chủ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, đi đến giải thể.

Những năm 1990, ông Hoàng Minh Chính vận động góp ý bản dự thảo “Thách thức và triển vọng”, thành lập “Hội nhân dân chống tham nhũng”. Đầu tháng 6-2006, ông Hoàng Minh Chính tuyên bố phục hoạt Đảng Dân Chủ Việt Nam. Phương pháp hoạt động của Đảng Dân Chủ là: “bất bạo động, hòa bình đối thoại, bình đẳng, bao dung, cùng nhau xây dựng xã hội tự do dân chủ, an bình, hạnh phúc, đích thực của dân, do dân, vì dân”. Lực lượng là: “Liên kết toàn thể quốc dân đồng bào trong nước và hải ngoại, tất cả các đảng phái hội đoàn, các phong trào dân chủ, các tôn giáo, các sắc tộc thành một mặt trận rộng lớn nhất, một sức mạnh tổng hợp hóa giải mọi lực cản để chấn hưng đất nước”.

Một nhân vật đảng viên lão thành trong Đảng Cộng sản, cũng đồng thời nguyên là Thường vụ Đảng Dân Chủ, ông Huỳnh Văn Tiểng cho rằng cựu Tổng Thư ký Hoàng Minh Chính không có tư cách phục hoạt vì đã bị khai trừ đảng. Báo Nhân Dân trước đây, rồi báo Thanh Niên gần đây có bài cho rằng Đảng Dân Chủ được phục hoạt không gắn gì với Đảng Dân Chủ trước đây, có nghĩa là đã gián tiếp công nhận sự phục hoạt này.

Nhưng những bác bỏ trên đều không có căn cứ, chẳng hạn một quyết định khai trừ. Đến nay, ông Huỳnh Văn Tiểng qua đời. Ngược lại, vẫn còn có một cựu đảng viên từng trong Chính phủ lâm thời 1945 và trong Đảng Dân Chủ, ông Vũ Đình Hòe nay 95 tuổi đang sống ở Sài Gòn khẳng định ông Hoàng Minh Chính chưa từng bị khai trừ. Mặt khác, hiện nay gia đình của ông còn giữ cuốn băng ghi âm lại lời kể của ông cũng cho thấy trình tự thời gian chuyển công tác là hoàn toàn trùng khớp thực tế các giai đoạn, không tìm thấy yếu tố bị khai trừ. Đảng Cộng sản không có một ý kiến chính thức nào về những sự kiện trên. Gia đình ông Hoàng Minh Chính gửi thư khiếu nại đến tòa soạn báo đăng bài không đúng sự thật, chỉ nhận được sự im lặng, nên họ đã đưa thông tin này ra dư luận quốc tế.

Khi phục hoạt Đảng Dân Chủ, ông Hoàng Minh Chính không có ý định đánh đổ Đảng Cộng sản. Vấn đề ông muốn là tiếp nối đóng góp của Đảng Dân Chủ đối với dân tộc, đồng thời hình thành mới không gian chính trị rộng mở, cân bằng, đa thành phần nhằm hạn chế bảo thủ, cục bộ, lý luận máy móc, tham nhũng. Cụ thể là một xã hội đa đảng, các đảng cạnh tranh lành mạnh vì dân chủ dân sinh. Đó cũng là xu hướng của hầu hết các nền chính trị trong thời đại hội nhập. Đến nay, Đảng Dân Chủ vẫn hoạt động, được nhiều thành phần xã hội tham gia và ủng hộ. Đảng Dân Chủ cũng chủ trương xem Đảng Cộng sản là đối tác chính trị, chuẩn bị dự thảo hiến pháp mới xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, tôn trọng pháp luật, các đảng tồn tại và hoạt động bình đẳng, công khai.

Đảng Thăng Tiến Việt Nam

Đây là tổ chức chính trị ra đời vào tháng 9-2006, bắt đầu từ tiền thân là Khối 8406, bao gồm những người đối lập với đường lối Đảng Cộng sản trong nước và đấu tranh cho dân chủ.

Trong Đảng Thăng Tiến, luật sư Lê Thị Công Nhân là đảng viên dũng cảm. Tháng 6-2006, mặc dù đã được Bộ Ngoại giao Ba Lan trực tiếp nhờ Đại sứ quán tại Việt Nam can thiệp để được đi tham dự một hội nghị về quyền lao động của công nhân Việt Nam được tổ chức tại Warszawa, nhưng trước khi máy bay cất cánh, Tổng cục An ninh Việt Nam đã ngăn cản chuyến xuất ngoại của luật sư ngay tại Nội Bài. Luật sư cũng từng phê phán Chỉ thị 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí: “Là một luật sư thì tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng Chỉ thị 37-TTG ngày 29/11/2006 là hoàn toàn vi hiến”.

Tháng 2-2007, Đảng Thăng Tiến bị đàn áp. Đảng viên Nguyễn Phong bị bắt viết lời tuyên bố giải tán Đảng. Luật sư Lê Thị Công nhân với tư cách phát ngôn viên đã vững vàng đấu tranh, cho rằng: “Vì anh Nguyễn Phong là trưởng ban đại diện thành lập Đảng Thăng Tiến, và là một trong những thành viên sáng lập” chứ không phải là thành viên duy nhất, nên “không đủ tư cách và thẩm quyền tuyên bố giải tán”. Vì vậy mà theo luật sư thì: “Đảng Thăng Tiến tiếp tục tồn tại, hoạt động và phát triển một cách bình thường trong quốc nội cũng như hải ngoại”. Mặt khác, Nguyễn Phong được Đảng Thăng Tiến cử làm đại diện tham gia Ban điều hành Liên Đảng Lạc Hồng nên càng không đủ tư cách và thẩm quyền tuyên bố giải tán Liên Đảng Lạc Hồng.

Luật sư cho rằng Ban đại diện thành lập Đảng Thăng Tiến Việt Nam không còn tồn tại bắt đầu từ tháng 2-2007, nhưng thay vào đó Ban điều hành Đảng này sẽ tiếp nối nhiệm vụ. Luật sư tuyên bố “vẫn đảm nhận vai trò người phát ngôn chính thức của Đảng Thăng Tiến Việt Nam như bình thường”. Nói về cuộc đàn áp tiến tới giải tán Đảng Thăng Tiến Việt Nam, luật sư nhận định: “Xin cám ơn Cộng sản Việt Nam, bằng những việc làm rồ dại của mình đã tăng tốc đưa chế độ độc tài này đi đến chỗ diệt vong”.

Tháng 3-2007, cơ quan an ninh điều tra thuộc Công an Hà Nội thực thi quyết định khởi tố, bắt tạm giam luật sư – phát ngôn viên Lê Thị Công Nhân và luật sư Nguyễn Văn Đài với tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam. Bị bắt giam, luật sư Lê Thị Công Nhân vẫn kiên định tuyên bố: “Sống thế nào thì sống vẫn phải giữ lòng tự trọng và lương tâm của mình. Chỉ có lương tâm và lòng tự trọng của tôi nói với tôi rằng: Không bao giờ đầu hàng”. Luật sư là một trong tám người Việt Nam được Tổ chức theo dõi thực hiện nhân quyền Human Rights Watch trao giải thưởng năm 2008. Một luật sư mới tuổi 28 nhưng tinh thần kiên cường, lý lẽ vững vàng!

Luật sư Nguyễn Văn Đài cho rằng năm 1945 có nhiều đảng phái chính trị hoạt động bình đẳng với Đảng Cộng sản, cùng mục tiêu giành độc lập dân tộc. Ông dẫn điều 1 Hiến pháp 1946: “Tất cả mọi quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” và nhận xét Việt Nam từng có chính phủ dân chủ, xã hội đa chính kiến. Ngày nay, Việt Nam tất yếu tái lập xã hội dân chủ và thể chế chính trị đa đảng. Theo ông: “Đó là chân lý, mà chân lý thì không một ai có thể phủ nhận hoặc chối bỏ được”. Ông cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có khoảng 3 triệu đảng viên so với khoảng 83 triệu người Việt Nam, như vậy Đảng Cộng sản chỉ đại diện cho một bộ phận rất nhỏ dân số Việt Nam”.

Bẳng hiểu biết về luật pháp, ông hướng dẫn muốn thành lập đảng chính trị, trước hết phải hình thành ủy ban vận động mà không phải xin phép. Sau khi soạn ra điều lệ và cương lĩnh tạm thời, ủy ban này chuyển cho quần chúng nhân dân để đón nhận ý kiến đánh giá, thăm dò sự ủng hộ mà thông thường là lấy chữ ký. Với một tỉ lệ cho phép, đảng phái có thể tổ chức lễ thành lập, ra mắt trước nhân dân, công luận và chính thức đi vào hoạt động. Theo ông, Đảng Dân Chủ và Đảng Xã hội phục hoạt cho thấy đòi hỏi bức xúc của đời sống dân chủ. Đây là những đảng phái chính trị đã được thành lập trong lịch sử, tự giải tán thì cũng có quyền tự phục hoạt, xem như vấn đề nội bộ của một đảng, chỉ cần ra tuyên bố trước nhân dân mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Với thế hệ trẻ, ông tin tưởng sẽ nhận thức ra quyền lợi chính trị và cơ hội đang đến mà “đừng bao giờ thụ động ngồi chờ vào sự ban cho của người khác”.

Những tiếng nói cho hội nhập

 

Đặng Quốc Bảo

Ông sinh năm 1928 tại Nam Định, là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội IV năm 1976, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật quân sự thời chiến tranh, sau đó là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên, rồi Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương.

Là một người học xa trông rộng, ông ứng dụng hiểu biết, dẫn chứng thực tế Thuyết Tương đối của Einstein bị nghi ngờ bởi Thuyết Quantum (cơ học lượng tử) nhằm thuyết phục lãnh đạo Đảng Cộng sản mạnh dạn chấp nhận một lý thuyết mới thay thế lý luận Marx-Lenin, soi đường cho thực tiễn hành động phù hợp hoàn cảnh mới. Cụ thể, cần vươn tới phía trước nếu không muốn bị đào thải, bởi vì những vấn đề quá khứ có thể đúng nhưng hiện tại đã trở nên sai lầm. Ông cho rằng lý luận Mác-xít được ca ngợi và áp dụng ở Việt Nam đã kết thúc vai trò lịch sử của nó. Tiến trình chung là “nền văn minh công nghiệp cho ra đời CNTB và nuôi dưỡng CNTB”, đến lượt “CNTB muốn phát triển được thì bản thân nó phải tham gia vào sáng tạo ra một nền văn minh mới”, chứ không phải là CNCS làm cách mạng lật đổ CNTB. Trong quá trình “sáng tạo ra một nền văn minh mới”, vấn đề quan trọng nhất cần có là văn hóa hiện đại với bốn đặc trưng: văn hóa đại khoa học, văn hóa đại nhân văn, văn hóa sinh thái, văn hóa trái đất và dân tộc. Tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng, ông kiên quyết bảo vệ những lý luận và chính kiến cá nhân: “Người ta bảo tôi bướng, cứng đầu! Nhưng tôi phải là tôi chứ!”

Đối với thanh niên, ông là người trách nhiệm và nghiêm khắc. Năm 1981, ông trả lời ông Trường Chinh rằng CNCS đang bất ổn bắt đầu từ khi Trung Quốc tuyên chiến với Liên Xô. Nếu Đảng không nhận ra sự thật để thay đổi thì ông sẵn sàng ra khỏi Đảng, không lãnh đạo Đoàn thanh niên vì tương lai của Đoàn cũng không còn! Sau này, trong một cuộc phỏng vấn, ông khuyên tuổi trẻ với khả năng dễ thích ứng tốc độ nhanh hơn, cao hơn thế hệ cha anh, phải biết vượt qua trở ngại lý tưởng, tránh học hành đối phó dẫn đến bằng cấp giả dối, phô trương, hư danh. Ông góp ý hiện tượng nhiều bạn trẻ chưa rèn luyện và tích lũy, đã tự ca ngợi và lăng-xê bản thân. Vì thế, cần sử dụng thước đo thực lực để quyết định nhân sự và giao nhiệm vụ, loại trừ tính ích kỷ, vụ lợi, sống trước mắt. Thời cơ thuận lợi và cơ hội đang đến, lớp trẻ cần góp phần phát triển đất nước.

Tháng 7-2003, ông được mời nói chuyện tại chi bộ Đảng Cửa Đông với nhiều đảng viên là sĩ quan cao cấp nghỉ hưu. Theo ông, Đảng Cộng sản đang phải “giật mình” nhận ra một số cá nhân lợi dụng quan hệ với mafia, xã hội đen. Đó là con em gia đình đảng viên cao cấp trở thành những công dân không lương thiện, kiếm chác nhờ chức vụ quyền thế của cha mẹ hay bản thân được cất nhắc vào vị trí quan trọng. Cuối bài nói chuyện, ông cho rằng: Nếu như độc quyền trở thành chuyên chế thì tôi không tán thành, vì sự độc quyền đi tới chuyên chế thì bao giờ cũng dẫn tới sự băng hoại”.

Tháng 6-2009, mặc dù truyền thông của Đảng ra sức ngăn chặn nhưng trong giới báo chí, trí thức, đảng viên cao tuổi ở Hà Nội truyền nhau năm trang tài liệu đánh máy cuộc phỏng vấn ông Đặng Quốc Bảo do hai nhà báo quân đội nghỉ hưu thực hiện. Về an ninh quốc gia, ông cho rằng vấn đề Trung Quốc đang trở thành lớn nhất, quan trọng nhất, khó khăn nhất đối với Việt Nam: “Trên thế giới chưa ai mưu sâu như Trung Quốc, chưa ai xảo trá, nham hiểm bằng Trung Quốc. Trung Quốc là xứ sở của nguỵ biện và ngộ biện. Hiện nay, Việt Nam chưa có nhân vật nào chọi được với Trung Quốc… Trung Quốc giàu, mạnh, tham… là một hiểm họa”. Về những tầng lớp xã hội hiện nay, ông nhận định: trí thức độc lập suy nghĩ nhưng thiếu người có tư duy chiến lược, đa số phải lo miếng cơm manh áo; thanh niên và học sinh sinh viên gặp khó khăn, rất thụ động, bị ru ngủ, bị đánh lừa, đồng thời sai lầm lớn nhất của Đoàn Thanh niên cả nước là tiếp tục giới thiệu hàng chục ngàn thanh niên cơ hội vào Đảng Cộng sản; giới luật gia có thể trở thành một động lực chính trị mà điển hình là những người hiểu biết có tiếng nói phản biện. Ông kết luận những tầng lớp trên hiện nay đang thiếu ba yếu tố: thiếu ngọn cờ, thiếu trào lưu, thiếu phong trào.

Theo ông, trước đây Hồ Chí Minh mới chỉ tìm ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa hề quyết định con đường hay mô hình phát triển đất nước. Vậy mà mấy chục năm nay Đảng Cộng sản cứ hướng dẫn đi theo con đường Bác Hồ đã lựa chọn. Ông đặt câu hỏi: “Bác đã chỉ đâu mà theo?. Đây chính là nguyên nhân của bao rối ren xã hội hiện nay chỉ có thể giải quyết bằng sự hình thành Nhà nước pháp quyền và áp dụng pháp trị. Sau năm 1945, việc giải tán trường luật là sai lầm lớn trong chủ trương không dùng pháp trị. Từ đó mà lạm quyền và oan khiên, cả xã hội thiếu luật pháp và không còn dân chủ.

Ông khẳng định chế độ độc đảng độc tài đang thâu tóm quyền lực một cách ghê gớm, lừa bịp nhân dân, biến người thành nô lệ. Ngày xưa, con người là thần dân của chế độ phong kiến, sau là thần dân của tư bản, bây giờ là thần dân của cộng sản – Việt Nam chưa hề có công dân đích thực! Ông cho rằng: CNTB phát triển có cơ chế và yếu tố chống độc tài. Những người cộng sản không học được điều này ở CNTB”. Không còn cách nào khác hơn là Việt Nam phải tham gia luật chơi chung của thế giới, phải hòa nhập và liên kết chặt chẽ với các nước trong khu vực, quan trọng nhất là cần cải tạo chính trị và chống độc tài.

Tống Văn Công

Ông từng trải qua nhiều thời kỳ cách mạng với 50 năm tuổi Đảng, có nhiều quan sát thực tiễn và đúc kết thành lý luận. Với bút danh Thiện Ý, ông viết bài báo: “Đổi mới Đảng để tránh nguy cơ sụp đổ”. Bài của ông trong tư duy ôn hòa nhưng mang nặng tâm huyết dân tộc. Và mặc dù đã trả thẻ Đảng, ông vẫn rất có trách nhiệm với tổ chức từng qua thời gian dài cống hiến. Ông nêu hai hiểm họa đất nước hiện nay: nội xâm và ngoại xâm. Trong đó, “giặc nội xâm” là ai? Không phải là gián điệp, nội báo “leo cao chui sâu” vào Bộ Chính trị như vụ Tổng cục 2, mà đó là những căn bệnh trở thành đại dịch: tham ô, lãng phí, quan liêu, dốt nát, thiếu trách nhiệm… Đọc những phân tích của ông, ai cũng thấy vì sao nạn nội xâm lan rộng.

Ông điểm qua ba thế mạnh và ba điểm yếu của Đảng Cộng sản. Ông đánh giá vai trò và đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu”. Đóng góp ấy so sánh trong tương quan các lực lượng chính trị thì: Những người “Quốc gia” nên nhận sự kém cỏi của mình là không làm được gì có sức thuyết phục dân tộc. Chế độ Việt Nam cộng hòa được dựng lên nhờ bàn tay của người Mỹ… do đó Việt Nam Cộng hòa không tìm được niềm tin từ nhân dân”. Nhưng ông cũng chỉ ra chính cộng sản đã gieo mầm tai họa vào Việt Nam. Vì “ngu trung ý thức hệ”, Đảng đã lấy đồng minh thể chế giai đoạn làm đồng minh chiến lược lâu dài và cuộc cách mạng dân chủ nhân dân đã bị “uốn dần theo ý thức hệ cộng sản”. Còn công cuộc đổi mới trước đây và hội nhập hiện nay chỉ là “đánh tráo khái niệm” thay vì dũng cảm thừa nhận “trở lại như cũ trên con đường văn minh của nhân loại”. Ông cho rằng đó là nguyên nhân Đảng ngập ngừng đổi mới, giẫm chân nhùng nhằng từ trong lý luận, thể hiện bằng văn bản đến chỉ đạo thực tiễn bằng lối đi: “hai bước tiến lại một bước lùi, chỉ vì sợ bị mất độc quyền lãnh đạo”.

Về Đảng khẳng định quyền lãnh đạo trực tiếp lực lượng công an và quân đội, theo ông đã tạo ra lợi thế “không thể dùng bạo lực để lật đổ chế độ này”. Nhưng ông bất đồng trong việc sử dụng hai lực lượng này đàn áp các phong trào tôn giáo, dân chủ và yêu nước. Ông cũng chỉ ra những nghịch lý của nền dân chủ XHCN trong khi áp dụng nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, lại có người dân thắc mắc: ”Trong lịch sử chưa có ai làm chủ mà không được lãnh đạo, lại còn bị người khác lãnh đạo!”

Về bầu cử, xưa nay Đảng Cộng sản cho là dân chủ, thực chất vẫn là “Đảng cử – Dân bầu”. Về quốc hội các khóa, những đại biểu tập trung ở Ba Đình chỉ là những “ông nghị gật” bởi vì quốc hội bao giờ cũng họp sau khi Bộ Chính trị đã đề ra nghị quyết chỉ đạo phải làm gì và làm như thế nào. Ông còn đề cập một câu nói của những người nông dân về những cán bộ – đầy tớ của dân, tưởng đùa mà cay đắng: “Cả đời mình làm chủ mệt mỏi quá rồi, cầu mong mấy đứa nhỏ sau này có đứa được làm đày tớ cho cả dòng họ được nhờ!”

Bài viết nêu ra giải pháp và định hướng mới, chặt chẽ về lý luận mà cũng hoàn toàn thực tiễn. Không có vấn đề nào sai lệch, đề cập mâu thuẫn xã hội mà rất nhẹ nhàng tâm tình và nhẫn nhịn, không tìm thấy một từ ngữ cực đoan chỉ trích. Đây là một vị lão thành cách mạng, riêng ở nhận thức và ứng xử trong bài viết, là một người tâm huyết và chân chính. Vậy mà Bộ Chính trị vẫn không đón nhận, lắng nghe hoặc thảo luận với tiếng nói ấy, ngược lại còn ghép tội, loại trừ, viết bài đả kích bôi nhọ. Trường hợp này thêm một lần nữa cho thấy Đảng Cộng sản rất bảo thủ, không chấp nhận bất kỳ tiếng nói nào khác. Việc duy trì kéo dài tư tưởng đối đầu sai lầm, lại thiếu dũng cảm, chỉ thêm bị cô lập. So với thời ông Trần Xuân Bách, Nguyễn Hộ đều bị cách chức và truy bắt, đến lúc này ông Tống Văn Công đã có thể công khai trình bày tư tưởng và quan điểm của mình, dân chủ đạt thêm một thắng lợi. Nhưng sự bưng bít và đối lập của Đảng Cộng sản thay vì đối thoại công khai vẫn làm cho quá trình trên diễn ra rất chậm.

 

Cù Huy Hà Vũ

Ông là tiến sĩ luật học, thạc sĩ văn chương được đào tạo tại Pháp, hiện mở văn phòng luật sư ở Hà Nội. Ông có nhiều đóng góp ngăn chặn các chủ trương sai lầm và tham gia nhiều vụ kiện lớn. Năm 2005, ông kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp phép đầu tư xây dựng khách sạn Life Resort trên đồi Vọng Cảnh bất chấp dư luận xã hội phản đối phá vỡ cảnh quan văn hóa cổ. Kết quả ông thắng kiện, dự án bị hủy bỏ. Năm 2006, ông nộp đơn tự ứng cử làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin với chương trình hành động: giải quyết nạn vi phạm bản quyền, tệ nạn núp bóng dưới hoạt động văn hóa, rà soát năng lực cán bộ ở các cấp, chấn hưng văn hóa dân tộc và hội nhập văn hóa thế giới. Việc này chưa từng có trong tiền lệ, bởi trước đây tất cả các chức vụ đều do Đảng Cộng sản bố trí nhân sự, chức vụ càng cao càng phải trong Ban chấp hành Trung ương. Vì thế, lần ứng cử này không thành. Năm 2007, ông kiện Bộ Văn hóa – Thông tin lập ra phòng lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu và đòi bồi thường thiệt hại tinh thần cho nhà thơ và gia đình.

Tháng 6-2009, ông kiện Thủ tướng về ký quyết định khai thác bauxit Tây Nguyên. Theo ông, Thủ tướng vi phạm các luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ di sản văn hóa, quốc phòng và sai phạm trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội trả lại đơn cho ông vì “không có căn cứ pháp lý để thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện này”. Ông gửi đơn đến Tòa án tối cao nhưng cũng chỉ có im lặng và từ chối. Ông nhận định việc trả đơn: “Đó là thực trạng ở Việt Nam: người ta nói một đàng làm một nẻo, đưa ra luật nhưng lại bất chấp luật pháp, thì tòa án Việt Nam cũng bất chấp luật pháp rất nhiều”.

Vụ kiện chưa từng có trong lịch sử pháp lý Việt Nam này nhận được sự ủng hộ của rất nhiều tầng lớp xã hội. Các nhà trí thức hoan nghênh luật sư Hà Vũ đã “gióng lên một tiếng nói” giúp công dân nâng cao trình độ và ý thức pháp luật khi có sự việc liên quan đến các cơ quan công quyền. Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đánh giá: “Bằng sự hiểu biết, bằng trí tuệ, bằng sự dũng cảm, bằng nhân cách, đạo lý của mình, anh ta (Hà Vũ) sẽ lay động được rất nhiều trái tim, thức tỉnh được rất nhiều trái tim của người Việt Nam hiện tại”.

Lê Công Định và những chí hữu

Lê Công Định là luật sư, đảng viên Đảng Dân Chủ Việt Nam. Ông học Đại học Luật trong nước, được học bổng ngành luật Đại học tổng hợp Pantheon – Assas (Pháp) và học bổng Fulbright (Hoa Kỳ), học khóa triết học ở Đại học Sorbonnes và khóa cao học về luật ở Đại học Tulane – Columbia (Hoa Kỳ). Năm 1989, ông tham gia sinh hoạt trong Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có văn phòng luật ở Sài Gòn. Ông còn tham gia Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ, Hiệp hội luật sư châu Á – Thái Bình Dương, Quỹ nghiên cứu biển Đông. Ông viết nhiều bài bình luận pháp luật cho báo chí trong và ngoài nước trên quan điểm đa nguyên chính trị và mở rộng dân chủ xã hội. Theo ông: “Đa nguyên không đáng ngại, mà trái lại rất cần thiết nếu biết điều tiết thích hợp… Đa nguyên là động lực của sự phát triển, điều đó miễn bàn cãi”.  Năm 2007, ông cùng đồng nghiệp tổ chức “Hội nghị Diên Hồng” hiện đại bàn về vận mệnh “Vươn ra biển lớn” của đất nước trong thế kỷ 21.

Ông đề cập đến các vấn đề cần giải quyết trong đời sống chính trị xã hội. Bài “Học thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN” nêu mâu thuẫn ở quốc hội trong quá trình thống nhất giữa chủ trương với nguyện vọng nhân dân, tình trạng vi hiến tại giữa chỉ đạo của Đảng Cộng sản và quy định của pháp luật, mâu thuẫn giữa định hướng với vấn đề thực tế đặt ra cần giải quyết. Bài “Nhập cuộc của trí thức” bàn về việc xây dựng đội ngũ trí thức và đòi hỏi trí thức cần được tạo ra vai trò thật sự góp phần xây dựng đất nước. Ông đánh giá chủ trương và đối xử của Đảng Cộng sản đối với trí thức từ 1945 đến nay: đãi ngộ không đảm bảo cuộc sống, không ít người bị hành hạ, tra tấn và mất tích mà theo ông đó là những người bị “bạc đãi vì nhân cách và lương tri”. Trong khi đó không ít người được phong học hàm học vị để nghiên cứu phổ biến lý luận và “trang trí” chế độ, cho nên “chưa bao giờ được xã hội kính trọng”. Ông tham gia nhiều hoạt động cổ vũ dân chủ nhân quyền, đấu tranh bất bạo động. Giữa tháng 6-2009, ông bị công an bắt giữ với tội danh theo điều 88, sau đó lại xác định tội “lật đổ chính quyền nhân dân” nặng hơn theo điều 79 Bộ luật hình sự.

Cùng đợt với Lê Công Định bị bắt, còn có nhiều đảng viên Đảng Dân Chủ Việt Nam. Nguyễn Tiến Trung tốt nghiệp thạc sĩ công nghệ thông tin trường INSA tại Rennes, Pháp. Tháng 5-2006, Trung cùng một số du học sinh thành lập “Tập hợp Thanh niên Dân chủ”. Trần Anh Kim là cựu sĩ quan quân đội. Tháng 3-2006, ông bắt đầu viết gửi bài đăng trên các báo mạng điện tử, trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài về xây dựng xã hội dân chủ. Năm 2006, ông đại diện “Phong trào Dân chủ Việt Nam” ký tên vào thỉnh nguyện thư gửi Tổng thư ký LHQ, vận động người dân trong nước ủng hộ bản “Tuyên ngôn tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”, đồng thời cùng tham gia lập ra “Hội Dân oan”. Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Internet OCI (One Connection – Một kết nối) Trần Huỳnh Duy Thức và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty EIS Lê Thăng Long bắt đầu từ cửa hàng kinh doanh máy tính, sau đó mua Công ty Mligo Solution, mua lại công nghệ VoIp (giao thức Internet) và thành lập Cty Global EIS. Cùng với kinh doanh, Trần Huỳnh Duy Thức còn là chủ nhân blog Trần Đông Chấn, viết đăng nhiều bài cải cách kinh tế và xã hội Việt Nam.

Từ khi các nhà đấu tranh dân chủ bị bắt, nhiều cá nhân, tổ chức người Việt trong và ngoài nước cũng như thế giới luôn quan tâm, ký thỉnh nguyện thư đòi trả tự do. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng không thể bắt giam một người bày tỏ quyền tự do phát biểu và việc bắt giữ đi ngược với cam kết thực hiện Tuyên ngôn nhân quyền, Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Việc bắt giữ Nguyễn Tiến Trung vì hoạt động chính trị ôn hòa, quá thời gian không xét xử là vi phạm Hiến pháp 1992 và luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam vẫn giam giữ và quy chụp tội danh hình sự. Những đóng góp vì đổi mới, tự do và dân chủ của họ được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao.

Cuối 2009, Trần Anh Kim ra tòa tại Thái Bình, chỉ một buổi xét xử phiên tòa đã kết thúc và tuyên án 5 năm 6 tháng tù giam. Đầu năm 2010, những người còn lại tiếp tục ra tòa tại Sài Gòn, xét xử cũng chỉ trong một ngày. Phiên tòa tại Sài Gòn thể hiện nhiều bất cập nhất: chánh án là người chưa được đào tạo cơ bản về pháp luật lại xử một luật sư trình độ quốc tế, cáo trạng luận tội rất dài trong khi từ biện hộ đến nghị án và kết án rất nhanh, cốt cán đoàn thể chính trị và công an mặc thường phục được huy động ngồi kín phòng xử án trong khi gia đình người bị đưa ra xét xử và không ít giới báo chí phải ở bên ngoài, khi luận tội và kết tội thì âm thanh phát ra ngoài rõ ràng nhưng phần phát biểu của bị cáo thì bị làm cho hỏng, phát biểu của bị cáo không được đăng tải đầy đủ mà bị truyền thông cắt xén chủ yếu che giấu tố cáo và làm sai lệch vấn đề, bị cáo phát biểu có nội dung nhận việc làm vi phạm pháp luật thì kết án khoảng 5 đến 7 năm tù trong khi bị cáo đề nghị thay đổi hội đồng xét xử và khẳng định vô tội bị kết án 16 năm tù dù việc làm như nhau, vi phạm hoàn toàn không đủ dấu hiệu vẫn kết tội theo điều 79 Bộ luật hình sự, sau cùng là pháp luật Việt Nam bất chấp chuẩn mực chung của luật pháp thế giới…

Phiên tòa gây nhiều phản đối và chỉ trích. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cho rằng phiên xử đã không diễn ra theo trình tự luật pháp đầy đủ, mức án áp dụng không những “đi ngược lại Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền” mà còn tạo ra “nghi vấn về cam kết của Việt Nam theo đuổi chế độ pháp trị và công cuộc cải cách”. Thứ trưởng Ngoại giao Vương quốc Anh Ivan Lewis khẳng định không thể cầm tù bất kỳ người nào bày tỏ quan điểm một cách hòa bình. Ông cũng cho rằng bản án chỉ “gây phương hại cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Đại sứ Đan Mạch Peter Lysholt nhận định quá trình xét xử tạo ra nhiều “quan ngại nghiêm trọng”.

Tổ chức Human Rights Watch (HRW) cũng chỉ trích quyết định án tù mở đầu năm Việt Nam giữ chức Chủ tịch ASEAN cho thấy nhà cầm quyền “coi thường cam kết nhân quyền trong khối”. Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) ngay sau phiên tòa đã gọi việc xét xử là “sự nhạo báng công lý”: bị cáo mất quyền bào chữa, tòa án thiếu tính độc lập, bản án viết trước rất dài và hội ý nhanh gọn cho thấy chủ ý đối xử bất công với tự do ngôn luận. Tổ chức phóng viên không biên giới xem những người bị xử là nạn nhân của “sự chứng hoang tưởng”“cuộc đấu đá quyền lực nội bộ” trước đại hội, vận động cắt đứt đối thoại nhân quyền, gây sức ép lên nhà cầm quyền nạn nhân phải được tự do.

Trong nước, giáo sư Nguyễn Huệ Chi tỏ ra rất “ngạc nhiên và buồn trước tin luật sư Định bị bắt”. Nhà báo Phạm Xuân Nguyên cho rằng giới trí thức, luật sư quan tâm về nhân quyền đang đặt câu hỏi “động cơ và thông điệp thực sự của vụ bắt giữ”. Nhà văn Võ Thị Hảo nhận xét việc làm của Lê Công Định so với chủ trương Đảng và nhà nước kêu gọi đổi mới, nói thẳng nói thật, nhìn thẳng sự thật, vì đất nước phát triển, thì “Lê Công Định đã làm đúng”. Về việc Lê Công Định và chí hữu tham gia phục hoạt Đảng Dân Chủ Việt Nam, bà cho biết hiến pháp hiện hành “không có một từ nào cấm thành lập đảng”. Cho nên việc bắt giam và xét xử, thậm chí kết mức án đến tử hình “làm cho nhiều người Việt Nam buồn, dân chúng buồn”.

Trong thông điệp “Hãy cùng đứng lên”, Hòa thượng Thích Quảng Độ tuy đã cao tuổi nhưng vẫn hoàn toàn minh mẫn, nhiệt huyết, công bằng khi nhận định vụ xử án Lê Công Định và chí hữu Đảng Dân Chủ Việt Nam là tiếp tục sai lầm, khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng tiêu diệt thành phần ưu tú của đất nước. Những người bị kết tội tay không tấc sắt”, chỉ có tinh thần trách nhiệm trước tai họa tổ quốc bị xâm lược và ưu tư về đời sống mất nhân quyền, không những chẳng được đoái hoài mà còn “giáng xuống họ là những bản án giam tù và quản thúc nặng nề, khiến dư luận trong và ngoài nước công phẫn, khinh miệt”.

Công luận từ trong nước đến nước ngoài đều nhận xét đây là phiên tòa được điều hành bởi một “Hội đồng người máy”. Họ không còn thần kinh cảm xúc hay lương tri, việc khép tội được điều khiển bởi mệnh lệnh đã nạp vào bộ nhớ: triệt hạ! Hãy nhớ lại các sự kiện cải cách ruộng đất, cưỡng chế vào hợp tác xã, cải tạo công – thương, các chiến dịch X.2, Z.30 hay chủ trương “xiết lại”… sẽ thấy khi đã được nạp chủ trương, những cán bộ đảng viên “người máy” chỉ còn biết thực hiện mệnh lệnh: tước đoạt! Công luận cũng nhắc lại chỉ trích của tướng Trần Độ trước đây về việc cơ quan pháp luật ghép tội người bất đồng chính kiến: “Các ông đã chống lại nhân dân, đã đè đầu cưỡi cổ nhân dân, chứ không có ai chống nhà nước này cả!”.

 

Tiếng nói qua các hội thảo, tọa đàm

Tháng 9-2009, một hội thảo khoa học đề tài: “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn” giữa Hội đồng lý luận Trung ương và Trường Đại học Kinh tế quốc dân được tổ chức. Gần 80 tham luận giá trị đã được tập trung thảo luận dân chủ. Ý kiến của một giáo sư – tiến sĩ: “Mô hình kinh tế tổng quát mà Đảng ta xác định với vế đầu là kinh tế thị trường hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt. Tuy nhiên, khi gắn vế sau vào, tức yếu tố XHCN thì phát sinh nhiều quan điểm khác nhau”. Bản thân của kinh tế thị trường đã là một khái niệm hoàn chỉnh, nội hàm đầy đủ, được đúc kết từ thực tiễn lịch sử nhân loại, trong đó chứa nhiều kinh nghiệm của các nước đã trải qua.

Khi vào Việt Nam, vì lo sợ mất vai trò chỉ đạo theo hệ tư tưởng đã chọn, các nhà lý luận được chỉ đạo gắn thêm vào đó tên gọi đã “tàn dư quá vãng”. Cho nên, khái niệm không biểu hiện tư tưởng mới, càng trở nên khó hiểu và khó ứng dụng. Nguyên Giám đốc Học viện Chính trị cho rằng khái niệm kinh tế thị trường theo định hướng XHCN quá trừu tượng, bởi vì: kinh tế thị trường có thể hiểu được, chỉ cần ra đường là thấy, nhưng định hướng XHCN chẳng thấy đâu! Ông cho rằng: “kinh tế thị trường tự bản thân nó không mang thuộc tính định hướng XHCN. Trái lại, thuộc tính tự nhiên của nó là tiến lên CNTB”.

Xin mở rộng bàn thêm về gắn kết này. Nó thuộc dạng tư duy “sáng tạo” của Tổng Bí thư Lê Duẩn thời bao cấp khi cho rằng ba phát minh lớn nhất của nhân loại đến lúc ấy gồm: thứ nhất tìm ra lửa, thứ hai tìm ra kim loại, thứ ba thuộc về Việt Nam tìm ra làm chủ tập thể! Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hoàn toàn không được thế giới công nhận. Vì thế mà Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm trong một hội đàm phải nhờ bà Susan Schwab vận động Chính phủ Hoa Kỳ sớm công nhận kinh tế thị trường ở Việt Nam để được hưởng những lợi thế và ưu đãi. Một mặt trong nước trí thức đã phân tích cho thấy việc kết gắn bất ổn, mặt khác lại phải nhờ công nhận theo chuẩn thế giới; vậy tại sao còn không công bố thẳng Việt Nam chỉ có nền kinh tế thị trường? Khốn khổ cho việc đối phó chắp nối!

Một giáo sư thuộc Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng cuối thế kỷ XX, kinh tế thị trường chuyển sang mô hình mới là kinh tế thị trường hiện đại, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến, kết hợp hài hòa giữa bốn yếu tố: thị trường – Nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự – hội nhập quốc tế sâu rộng. Mục tiêu chung mà nền kinh tế hiện đại hướng đến là sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc, sự giàu có của người dân và sự bình đẳng giữa con người. Vì khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN khó giải thích rõ ràng nên dẫn đến không thể triệt để trong đổi mới tư duy kinh tế. Từ đó mà cơ chế, chính sách và các giải pháp tổ chức, quản lý nền kinh tế không rõ ràng, dứt khoát và minh bạch. Cũng xin nhắc lại nhận xét của ông Jim Winkler, Giám đốc Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh: “Có hàng chục thủ tục từ hai mươi năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đeo đuổi”. Những quy định cũ kìm hãm phát triển kinh tế vẫn tồn tại, lại kèm theo định hướng XHCN, chỉ có lợi cho tồn vong chế độ.

Đáng chú ý là tham luận của giáo sư Trần Ngọc Hiên: “Sự phát triển của Nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính trị”. Đây là phát hiện hoàn toàn chính xác theo xu hướng thời đại đã và đang diễn ra. Ông cũng nhấn mạnh hạn chế của xã hội bị chuyên chế: “Không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến. Không thể coi là đã có Nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn chưa phổ biến”.

Theo ông, cách khai thác tài nguyên và nguồn lao động rẻ, thu hút đầu tư nước ngoài, dựa vào xuất khẩu tăng trưởng kinh tế để lại hậu quả nặng nề về mặt xã hội và môi trường. Chủ trương phát triển kinh tế ấy đã lỗi thời, không phù hợp với yêu cầu xây dựng nền móng của chế độ mới cũng như xu thế thời đại. Xu thế mới phải được dẫn đường bởi nền kinh tế thị trường lành mạnh trong sự điều chỉnh của pháp luật đển hướng đến “xã hội tương lai”. Đó là xã hội phải giàu các giá trị nhân văn, cá nhân được phát triển tự do và toàn diện, hài hòa quan hệ giữa con người với nhau và con người với tự nhiên.

Phải chăng đến lúc này các nhà nghiên cứu mới nhìn ra những vấn đề trên hay  đã có trong suy nghĩ và tư duy từ lâu nhưng không được phép trình bày? Mặt khác, thời điểm diễn ra hội thảo sau khi xuất hiện bài viết của tác giả Thiện Ý bị báo Đảng trong nước kết tội “diễn biến hòa bình” như đã đề cập. Nội dung hội thảo gần như trùng hợp, vấn đề đặt ra và giải quyết tương tự những điều mà ông Tống Văn Công đã nêu: “Suốt 20 năm đổi mới, các kỳ Đại hội Đảng cứ khất lần khất lữa việc định nghĩa cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có nội dung gì”.

Cho nên, hội thảo có thể là dịp gián tiếp trả lời mà không thể lảng tránh thêm, còn là động thái làm “trung hòa” tiếng nói tự do dân chủ, “hạ nhiệt” mối quan tâm trao đổi ý kiến của công luận về bài viết đăng trên báo chí “lề trái”? Hay hội thảo sẽ báo hiệu chuyển hướng mà gần nhất có thể là đại hội đầu năm 2011? Dù sao, sự kiện này cũng đánh dấu các chính kiến phi Mác-xít được chính thức công khai, soi rọi vào những góc khuất trong lý luận do tư duy chủ quan bảo thủ và lúng túng nhầm đường của Đảng Cộng sản hình thành và duy trì trong thời gian dài.

Sẽ có hai trường hợp xảy ra. Trước hết, có thể đây là “sân khấu phản biện”, “xả lũ” trong quá trình điều chỉnh định hướng mà không phải đón nhận những đóng góp từ các lực lượng khác, để cho thấy Đảng luôn ở vai trò khởi xướng đổi mới từ trong tư duy, lại kiểm soát được tình hình. Mặt khác, nếu đây là tiếng nói dũng cảm và tâm huyết của các nhà lý luận, mà sắp đến tình hình vẫn không biến chuyển, tất yếu sẽ hình thành thêm những nhà nghiên cứu khoa học độc lập, vượt ra khỏi ràng buộc ý thức hệ xã hội. Cũng từ những ý kiến ở hội thảo, thiết nghĩ nên lập ra cương lĩnh hoàn toàn mới thay vì dùng các tham luận đó vào việc sửa chữa bổ sung Cương lĩnh 1991. Sửa chữa bổ sung chỉ cố tạo ra sự liền mạch lãnh đạo nhưng vẫn không che giấu được sai lệch, không khác tình trạng cải cách chắp vá căn nhà giáo dục cũ nát mà giáo sư Hoàng Tụy đã đề cập.

            Cuối tháng 7-2009, thêm một cuộc tọa đàm trên báo mạng điện tử diễn ra. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng để đạt mục tiêu mười năm tới, cần huy động và khơi dậy tính sáng tạo, lòng hăng say, niềm tin và sự đồng thuận toàn dân tộc. Việt Nam đã chuyển sang mô hình kinh tế nhiều thành phần, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn gặp khó khăn. Thực chất cơ chế độc quyền chưa được gỡ bỏ, gây nhiều cản trở. Ông cho rằng công nghiệp hóa hiện đại hóa cuối cùng phải nhằm phục vụ con người. Nếu phát triển công nghiệp mà chất lượng sống, nhất là giáo dục và y tế không cải thiện thì không bước ra khỏi sai lầm. Bao quát hơn, XHCN sẽ không là mục tiêu của đất nước khi người dân vẫn gánh chịu bất công, nghèo đói và tụt hậu.

Nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đình Hương quan tâm vấn đề nhân sự bố trí vào chức vụ chủ chốt chưa được bình chọn dân chủ qua đại hội. Theo ông, lâu nay công tác tổ chức cán bộ không được chính thức công khai, chỉ có nhân sự đã được giới thiệu từ một nguồn và cứ thế mà đại biểu tiến hành bỏ phiếu bầu. Vì vậy, bầu cử sắp đến cần minh bạch, dân chủ sòng phẳng. Ở cấp trung ương, nên để đại hội trực tiếp bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ở cấp tỉnh, nên để đại hội trực tiếp bầu Bí thư, Ban Thường vụ. Ông đề nghị phải cụ thể tiêu chuẩn tài đức từng chức danh, không thể gộp từ Tổng Bí thư đến cán bộ xã đều cùng tiêu chí đức tài một cách chung chung và như nhau. Ông cho rằng có thể chọn nhân sự sai ở vài tỉnh hay vài bộ ngành, nhưng nếu ở cấp trung ương chiến lược mà chọn sai thì hậu quả rất ghê gớm. Đối với tiêu chuẩn tài đức, quan trọng nhất là bản lĩnh chính trị, giữ vững độc lập chủ quyền, biết dựa vào dân và nghe dân…

Thực ra, những đề nghị trên cũng chỉ nằm trong tình trạng “kiến bò miệng chén”, một khi tổ chức đã cử người thì không có thành phần nào ngoài Đảng Cộng sản được ứng cử và gắn với ý chí nguyện vọng của những nhóm cử tri cụ thể. Nhìn lại kết cuộc ông Cù Huy Hà Vũ tự ứng cử, sẽ thấy dân chủ nêu ở đây chưa đổi mới tận gốc, vẫn độc quyền một sân. Có người cho rằng tọa đàm thêm một lần nữa lặp lại hiện tượng khi còn đương chức, các vị lãnh đạo không tỏ thái độ dứt khoát đoạn tuyệt sai lầm, khi về hưu mới bắt đầu phản biện chẳng thể làm thay đổi tình hình.

Nhưng dù sao, những tiếng nói công khai cũng góp phần quan trọng giúp dân chủ từng bước được mở rộng. Toàn xã hội vẫn mong ngày càng có thêm những lãnh đạo cuối đời nhìn lại vấn đề nghiêm túc, bởi không ai hiểu rõ những bất ổn của mô hình và cơ chế hơn những người đã đánh đổi cả cuộc đời, là nhân chứng qua nhiều diễn biến. Mặt khác, vai trò và tiếng nói của người lớn tuổi vẫn ảnh hưởng lớn. Hãy nhớ lại Hội nghị Diên Hồng gồm các bô lão dự họp sẽ thấy truyền thống đó còn đến ngày nay. Vấn đề là ai sẽ tập hợp và tổ chức một hội nghị bô lão tương tự để các vị cách mạng lão thành có thể hiến kế cho đất nước.

Những đại biểu quốc hội công tâm

Những năm gần đây, luồng gió mới của dân chủ đã đến với quốc hội. Đó là việc truyền hình trực tiếp các kỳ họp, chất vấn diễn ra công khai mà không sợ bị trù dập, thậm chí nhiều khi gay gắt quy trách nhiệm người đứng đầu về hậu quả để lại trong quá trình điều hành. Một đại biểu quốc hội từng nhận xét trong cả nhiệm kỳ, có đến 40% đại biểu tỉnh thành dự nhiều kỳ họp cả nước chưa từng phát biểu hay có một đóng góp thảo luận.

Nhưng vấn đề lại còn có nguyên nhân khác. Theo quy định, nội dung muốn phản ánh của đại biểu đều phải theo đoàn, tổng hợp và tập trung ở trưởng đoàn – nghĩa là vẫn “áo không thể mặc quá khỏi đầu”. Thời gian tại kỳ họp lại không thể đáp ứng đủ cho tất cả đăng đàn. Cho nên, nội dung chiếm đa phần thường là kế hoạch, chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp và điều chỉnh mang tính vĩ mô… Có người đặt câu hỏi: cần thiết phải tập quyền một cách hình thức quá lớn ở trung ương mà hiệu quả không cao, tác động không sâu sát như thế không? Một hình ảnh về mô hình hoạt động hiện nay của Nhà nước Việt Nam: các vấn đề xã hội đi đến trách nhiệm giải quyết như một chiếc nón lá đặt úp thu nhỏ lại khi càng lên đỉnh, nhưng quy mô bộ ngành và nhân sự thì lại là chiếc nón lật ngửa cồng kềnh và chòng chành khi càng lên cao.

Cũng tại các kỳ họp quốc hội, những phát biểu tùy tiện, thiếu căn cứ khoa học, không xuất phát từ thực tiễn, cách làm không hiệu quả của cá nhân giữ trọng trách đã được chỉ rõ qua phát biểu có trách nhiệm của một số đại biểu công tâm. Điển hình là đăng đàn của đại biểu Nguyễn Lân Dũng thường chuẩn bị công phu, có nghiên cứu chiều sâu nguồn gốc và căn nguyên của vấn đề. Vì thế, chủ trì trả lời tại chỗ đã khó, hứa hẹn nghiên cứu hồi đáp lại thường kéo dài hay rơi vào im lặng.

Ông Nguyễn Lân Dũng nêu ra sáu bức xúc, trong đó có những số liệu đáng báo động ở nhiều lĩnh vực: đất đai bị chiếm dụng làm 147 sân gôn, các nhà đầu tư được quyền chọn những chỗ tốt nhất đổ đất san bằng và bê tông hóa qua xây dựng công trình làm mỗi năm mất đi 72.000 ha ruộng lúa, cả trăm ngàn học sinh phổ thông bỏ học và cổng trường đại học vẫn còn từ chối những học sinh nghèo, ngành giáo dục thì soạn sách giáo khoa mà không xây dựng chương trình khung hoàn chỉnh và chưa gắn nối với giáo dục quốc tế, cao ốc Văn phòng II ở Sài Gòn xây lên với 6,3 triệu m2 chỉ để cho thuê, thêm nạn chạy chức chạy quyền nhiều nơi…

Tại kỳ họp tháng 5-2009, ông Dương Trung Quốc cho rằng báo cáo của quốc hội chỉ định lượng một cách chủ quan, đưa ra chỉ tiêu cao đến khi không thực hiện được lại bàn việc hạ xuống mà còn không biết quyết định hạ thấp chính xác khả thi ở mức nào. Về tình hình biển Đông, ông cho rằng Việt Nam đang “đứng trước những thách đố trong sự nghiệp lâu dài mà chiến lược là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải quốc giatrong khi ngược lạibáo cáo của chính phủ chưa tương xứng với độ rắn thực tế”. Về khai thác bauxit, ông hỏi vì sao một vấn đề làm thay đổi toàn diện Tây Nguyên và được chuẩn bị lâu như thế mà nay quốc hội mới bàn đến? Điều rất không bình thường này phải chăng là có vấn đề trong cái nguyên lý “ý Đảng lòng dân” hay giữa chủ trương của chính phủ và lòng dân còn có một khoảng cách?”.

Trong trả lời chất vấn, nhiều đại diện bộ ngành biểu hiện thiếu trách nhiệm, đổ lỗi cho nhau hoặc đổ hoàn cảnh khách quan. Trước chất vấn của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh đoàn Hà Nội về nhiều thực trạng cán bộ kém phẩm chất và năng lực hiện nay, Thủ tướng Chính phủ trả lời: đến đâu cũng nghe các bộ ngành báo cáo rất tận tụy với dân (không quan liêu xa rời dân), số tham nhũng vô trách nhiệm là ít hơn số cán bộ tốt (tham nhũng chỉ là chuyện nhỏ), ở đâu cũng đã có chi bộ và thủ trưởng cơ quan nên cá nhân nào tiêu cực sẽ bị xử lý ngay (yên tâm là thoái hóa biến chất sẽ không thể lan tràn). Một trả lời theo cách đối chất trở lại, khu biệt từng vấn đề nhưng không đi thẳng vào giải quyết vấn đề.

Đáng ra, sau trả lời này, cần phải có một loạt chất vấn tiếp: bệnh báo cáo gian phải chăng chỉ ở ngành giáo dục? Dân ta nói “con sâu làm rầu nồi canh”, vô lẽ đến khi người xấu mà ngang bằng với người tốt mới đáng báo động? Phải chăng vì ở đâu cũng có chi bộ nên ở đâu cũng có bao che và chẳng còn đối tượng nào khác chỉ trích để mà lo sợ? Lấy gì để Thủ tướng tin vào người đứng đầu các chi bộ và thủ trưởng cơ quan các cấp là “thanh gươm công lý” trong xử lý tiêu cực?

 

Vấn đề cần giải quyết

 

Thực hiện những cam kết quốc tế

Cam kết bao trùm và quan trọng nhất mà Việt Nam không thể không thực hiện là “Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền” do LHQ phê chuẩn năm 1948, yêu cầu tất cả các nước phải thực hiện. Tuy nhiên từ khi Việt Nam tham gia LHQ đến gần đây, người dân trong nước rất ít được tiếp cận với văn bản gốc này, ngoài một số nội dung được biên tập lại thành tài liệu không đầy đủ. Vì sao vậy? Để trả lời, chúng ta cần xem nội dung một số điều.

Điều 11: “Mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự”. Trong khi đó như đã đề cập, những nhà đấu tranh cho dân chủ bị sắp xếp đưa ra nhận tội trước ống kính VTV Truyền hình Việt Nam phát đi khắp thế giới, là cách buộc phải có tội trước khi diễn ra phiên tòa chính thức kết tội.

Điều 14: Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán”. Trong khi đó, ở Việt Nam không biết bao cuộc cải tạo và tước đoạt đã ngang nhiên diễn ra.

Điều 18: “Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo…, tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phụng và áp dụng các nghi thức đạo giáo”. Trong khi đó, các giáo xứ hành lễ tại phần đất có nguồn gốc của mình đã bị đánh đập bắt giam, thánh giá bị đặt chất nổ phá sập, người tu hành bị côn đồ hành hung và giải thể, linh mục ra tòa bị bịt miệng không cho nói, tổng giám mục bị sửa lời và vu oan, bao nhiêu vị hòa thượng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất bị cầm tù…

Điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới”. Không cần phải kể thêm ra các vụ việc từ trước đến nay về quyền này của con người và của công dân Việt Nam bị thu hẹp, đe dọa, hành hung, giam giữ, xét xử kín, quy chụp thành tội phạm hình sự hay lật đổ chính quyền, phản bội tổ quốc.

Điều 20: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể”. Trong khi toàn cõi Việt Nam chỉ được phép tồn tại những đoàn thể và tổ chức tôn giáo làm nhiệm vụ chính trị, ngược lại bị giải thể và cấm hoạt động. Công nhân vừa hình thành một số nghiệp đoàn tự do bảo vệ quyền lợi của chính mình cũng bị giải tán. Hầu như tất cả người dân đều không được tự do thụ hưởng quyền này.

Vì thế mà nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Quốc tế về quyền con người (10-12-2009), phái đoàn LHQ đã phát biểu cần hỗ trợ Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế, tiếp tục phấn đấu để mọi người dân đều được hưởng các quyền nêu trong bản Tuyên ngôn Quyền con người cách đây gần 60 năm.

Việt Nam đã tham gia “Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” mà nếu đọc trong đó, không ít nội dung cũng có dấu hiệu bị vi phạm. Người dân trong nước phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp Việt Nam. Trong khi đó, lãnh đạo đất nước vi phạm cam kết trước quốc tế, bị chỉ trích, vẫn không cải tiến tình hình, hoặc có cũng chỉ là hình thức, thậm chí còn cho những chỉ trích đó là âm mưu “diễn biến hòa bình” và can thiệp vào vấn đề nội bộ Việt Nam…, vẫn không thấy lãnh đạo nào chịu trách nhiệm trước luật pháp quốc tế.

Việt Nam là một trong các nước thuộc nhóm quốc gia đầu tiên phê chuẩn các văn bản: Công ước về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quyền trẻ em và Nghị định thư bổ sung về trẻ em trong xung đột vũ trang và chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm; Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt các tội ác phân biệt chủng tộc (Apacthai); Công ước về không áp dụng hạn chế luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại; Công ước số 5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia vào lao động công nghiệp; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ; Công ước số 111 về không phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, Công ước về quyền của người khuyết tật, Công ước quốc tế về chống tham nhũng, 08 mục tiêu của thiên niên kỷ… Ở lĩnh vực nào, nhà nước cũng hăng hái nhưng chủ yếu chỉ nhằm tạo các quan hệ nhận sự giúp đỡ hỗ trợ và thông qua đối ngoại, hơn là thật sự quan tâm cải thiện tình hình.

Cụ thể như phụ nữ và trẻ em vẫn bị ngược đãi và xâm hại, hơn 5 triệu người khuyết tật Việt Nam mà trong đó nhiều người không phải là thương bệnh binh đã cống hiến vì cách mạng vô sản, phần lớn vẫn bị phân biệt và bỏ rơi. Về 08 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam cùng 109 quốc gia cam kết hoàn thành vào năm 2015 gồm: xóa đói giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em; tăng cường sức khỏe bà mẹ; phòng chống HIV/S, sốt rét và các bệnh dịch khác; đảm bảo phát triển bền vững môi trường và thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu cho nhiệm vụ này. Nhìn chung, các mục tiêu tập trung vào nhân tố con người, chiến lược phát triển con người.

Trong khi đó, y tế Việt Nam ngày càng có nhiều bất cập trong khám chữa bệnh khu vực công và tư, bảo hiểm và không bảo hiểm, thành thị và nông thôn, thuốc nội và thuốc ngoại, khu vực có và không có dự án cải thiện nâng cao sức khỏe cộng đồng… Sau 25 năm nhà nước ban hành quy định trẻ em được tiêm chủng miễn phí, một trạm y tế ngay sát Hà Nội như chưa từng nghe thấy, vẫn đặt các bàn thu tiền vô tội vạ bốn năm liền. Các vấn đề về an sinh xã hội dành cho người nghèo ở Việt Nam cũng dường như không được quan tâm. Tình hình này cho thấy đến năm 2015 Việt Nam hoàn thành được tỉ lệ bao nhiêu nội dung trong 8 mục tiêu, lãnh đạo đất nước ký kết chịu trách nhiệm như thế nào trước nhiều thực trạng do chủ quan quản lý xã hội?

Một dấu ấn quan trọng là Việt Nam được kết nạp trở thành thành viên thứ 150 của WTO qua hơn mười năm “kiên trì đàm phán”. Thật ra, đây chỉ là cách kéo dài nhằm điều chỉnh tình hình cho sự tồn tại thể chế, tiếp cận và ứng phó dần với các yêu cầu của WTO. Mười năm ấy chỉ ưu tiên hàng đầu cho chuyển hóa chế độ cầm quyền hơn là lợi ích đất nước. Đơn cử nhìn vào quá trình giải thể các doanh nghiệp quốc doanh, lập ra tổng công ty, rồi các tập đoàn kinh tế độc quyền trong nước và đầu tư ra nước ngoài, sẽ thấy rõ mục tiêu chuyển hóa ấy. Cũng cần nhớ vào tháng 9-1977 Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của Hội đồng LHQ, đến tháng 11/2006 mới trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì sao Việt Nam phải quyết định một cách rất chậm trong thời gian dài gần 30 năm như vậy?

Sau khi vào WTO, hạn chế lớn nhất là đặc điểm và trình độ luật pháp Việt Nam chưa đồng bộ, thậm chí lạc hậu so với luật pháp các nước trong khu vực và thế giới. Luật sư Việt Nam chưa có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm bên ngoài, nhất là cản trở do trình độ ngoại ngữ. Việt Nam lại không có mối quan hệ và cam kết về mặt luật pháp với các nước, do đó càng lúng túng kéo dài khi có vụ việc xét xử hoặc những vấn đề trong nước liên quan đến các nước. Không ít lần các đơn vị kinh tế nhà nước và tư nhân giao dịch bên ngoài thua nhiều vụ kiện và phải đền bù thiệt hại.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng theo đó lợi dụng, vi phạm quyền lợi công nhân, làm ô nhiễm môi trường, bắt tay tham nhũng với các quan chức… Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi mang lại, không ít khó khăn đã diễn ra khi mà cơ sở hạ tầng chưa thể đáp ứng ngay yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường. Các nhà đầu tư lớn của những nền kinh tế hàng đầu cần lao động chất xám và kỹ năng tay nghề cao vẫn chưa quan tâm đến Việt Nam do thị trường lao động trong nước chưa đủ trình độ đáp ứng.

Năm 2005, khi tham gia đàm phán vào WTO, Phó Thủ tướng Vũ Khoan cam kết lộ trình: “Trong 5 năm tới, Việt Nam phải xây dựng một nền kinh tế thị trường hoàn thiện. Tới năm 2010, đất nước phải thoát khỏi tình trạng nghèo”. Nay đã là năm 2010, cam kết ấy vẫn còn quá xa vời. Ông Jordan Ryan, đại diện LHQ tại Việt Nam cho rằng phát triển nhanh mà cạn kiệt tài nguyên hay gây ra nhiều bất ổn tài chính thì không thể nào bền vững được. Ông cũng đưa ra một lời khuyên đáng suy nghĩ: “Để duy trì tăng trưởng, ngoài yêu cầu về tài năng và tính cần cù, còn cần xây dựng các chính sách có hiệu quả và đưa ra các quyết định về kinh tế mang tính nhất quán phục vụ lợi ích lâu dài của người dân”.

Khi hiểu biết được giải phóng, kết nối thông rộng, mọi quốc gia chính thể buộc phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ cam kết chung, thay vì không công bố rộng rãi và chỉ cam kết hình thức. Việt Nam cần hội nhập nhanh theo xu hướng phát triển thời đại, hội nhập cùng thế giới. Việt Nam phải dựa vào luật pháp quốc tế kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ người lao động làm thuê. Ngoài việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp và tạo cơ hội bình đẳng, cần tạo uy tín và có chính sách ngoại giao thông thoáng mở rộng thị trường, tuân thủ và đáp ứng đầy đủ, kịp thời các quy định, lộ trình hội nhập. Những vi phạm cam kết hiện nay là: nền dân chủ bị lạm dụng, quyền con người nhìn ở góc độ cá nhân không đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội kém, kinh tế tài chính không minh bạch, giáo dục chưa cập nhật với thế giới và chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, y tế chưa đạt chuẩn, truyền thông và đời sống văn hóa bị chính trị chiếm dụng, tôn giáo bị kìm chế, quốc phòng và ngoại giao vẫn do đảng phái chính trị quyết định… Đó là những cản trở trên con đường Việt Nam hướng ra thế giới.

 

Công bằng xã hội

Để thiết lập công bằng xã hội, trước hết cần phải công bằng ở lĩnh vực kinh tế. Cần xóa bỏ sự ưu tiên và tính độc quyền của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Cần triệt để xóa bỏ biểu hiện nền kinh tế phe cánh gây lũng đoạn và chia nhau khai thác tài nguyên, rút ruột nguồn thuế và các dự án, sử dụng vốn vay cho mục đích cá nhân bất kể nợ nần, ăn chặn công dân thông qua các thủ tục giấy tờ trên nhiều lĩnh vực… Về chính trị, công bằng xã hội là không phân biệt lý lịch, chính kiến, bởi vì từ đó đã dẫn đến bất công lan rộng. Nhân tố con người cần phải được đặt lên hàng đầu với tiêu chuẩn năng lực và đạo đức, chứ không phải tiêu chuẩn chính trị. Cần hiểu rằng đạo đức cũng không được đồng hóa với phẩm chất chính trị.

Công bằng là pháp luật phải thuộc về toàn dân, bảo vệ nhân dân, tuyệt đối đảng phái chính trị không được khuynh loát và toàn quyền hành xử. Cần mở rộng quyền được hưởng giá trị vật chất và tinh thần từ các nguồn phúc lợi dành cho các giai tầng và phân nhóm xã hội, chia giá trị và cơ hội đó cho tất cả mọi người, thay vì tập trung ở một thiểu số quản lý hay có điều kiện. Rộng hơn nữa là quyền tự do của công dân trong một quốc gia và nhân quyền của con người trên hành tinh nói chung phải được đảm bảo và tôn trọng.

Cần trung hòa quyền lợi công dân giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và các khu vực tỉnh thành. Cần xem đối tượng được hưởng các chương trình dự án quốc gia và điều kiện xóa đói giảm nghèo là nạn nhân xã hội, trong đó có nguyên nhân từ quá trình quản lý lãnh đạo, chứ không phải là đối tượng đón nhận ban ơn và phải ghi nhớ công ơn, xem đây là việc khắc phục sai lầm chứ không phải là thành tựu đạt được. Công bằng là phải công bằng ngay từ trong suy nghĩ và tư tưởng mà không hề có áp đặt một phía. Các chương trình nhà ở, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe, việc làm, học tập, vay vốn, cơ hội cho sản xuất kinh doanh, việc hưởng thụ các giá trị vật chất và văn hóa tinh thần… phải thật sự được phân phối công bằng trong xã hội, thay vì hiện tượng xà xẻo, nhỏ giọt hay lồng ghép lợi ích kép.

Gần đây, NXB Chính trị quốc gia ấn hành cuốn sách tựa đề: “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”. Ngay ở lời mở đầu tác phẩm, công bằng xã hội trên thực tế đã là bài toán đặt ra: “Một trong những mục tiêu mà chúng ta (Đảng Cộng sản) phải phấn đấu đạt tới là xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện công bằng xã hội. Tuy nhiên, khi thực sự bắt tay vào thực hiện mục tiêu công bằng xã hội này chúng ta thấy đã bộc lộ những cách hiểu và cách làm khác nhau”. Công bằng xã hội được trình bày qua các quan điểm của Marx, Engels, Hồ Chí Minh, các nhà lý luận phương Tây… thêm lần nữa khẳng định đó là biểu hiện của mối quan hệ giữa người với người về nghĩa vụ và quyền lợi. Nội dung sách khẳng định công bằng xã hội là động lực của tiến bộ, tạo điều kiện cho cá nhân phát huy cao nhất năng lực, là thước đo trình độ phát triển xã hội.

Cuốn sách cho biết công bằng và tiến bộ xã hội được Đảng Cộng sản xác định ngay từ khi bắt đầu xây dựng CNXH, nhưng quên rằng đã từng diễn ra những cuộc đại tước đoạt tài sản, triệt hạ các đảng phái, cầm tù tự do tư tưởng, rồi tiến tới “công bằng = cào bằng”… không thể nào chấp nhận là công bằng. Trước đổi mới, Đảng Cộng sản xóa bỏ tư hữu, xây dựng công hữu phân phối theo lao động. Nhưng chủ trương ấy chỉ là công bằng hình thức, thực tế vẫn đầy bất công. Khi nhận thấy sai lầm, Đảng Cộng sản chủ trương “thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu”, đồng thời “khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế”. Theo đó, xã hội Việt Nam được cho là đang tiến tới phân phối theo hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn, cũng như theo phúc lợi xã hội.

Thật ra, tác phẩm chưa đề cập đến hàng loạt vấn đề bất công bằng cần giải quyết: tư bản đỏ, địa chủ đỏ, rối ren bất cập các quan hệ vật chất trong nền kinh tế thị trường giai đoạn đầu bất ổn và không rõ ràng định hướng XHCN, các nhà đầu tư nước ngoài mở khu công nghiệp, khu chế xuất và Việt Nam phải chấp nhận bị bóc lột, hiện tượng bất cập của Luật lao động trước thực tế, thu nhập và mức sống chênh lệch cùng với phân hóa giàu nghèo… Tác phẩm này cũng chưa có một dòng chỉ thẳng tên các thành phần kinh tế, đối tượng hay cá nhân giàu có bất chính, không nêu một giải pháp hiệu quả hạn chế bất công, tạo lập công bằng xã hội.  

Tác giả Nguyễn Kiến Giang trong một bài viết cũng đề cập đến nhiều vấn đề về công bằng xã hội. Theo ông, chủ trương hiện nay chỉ chú trọng giải quyết phần nổi là “chính sách xã hội” một cách sự vụ sau khi xảy ra hậu quả. Công bằng xã hội “phải được giải quyết – và chỉ có thể được giải quyết – gắn liền với xã hội công dân, Nhà nước pháp quyền, chế độ dân chủ, kinh tế và văn hóa ngày càng phát triển”. Đó là việc xác lập quyền công dân và quyền con người thật sự bình đẳng. Trước hết, cần xóa bỏ đặc quyền kinh tế, chính trị, tư tưởng. Cụ thể, mỗi công dân phải được bảo đảm tự chủ kinh tế, sở hữu, nghề nghiệp; tất cả đều được bảo vệ và ngang nhau về mặt luật pháp trên thực tế. Ông khẳng định không thể có một nhóm người hay tổ chức nào dưới bất cứ danh nghĩa gì, tự cho mình quyền đứng trên xã hội và luật pháp để áp đặt ý chí, phán xét những chính kiến và tín niệm khác.

Ông đề nghị cần thực hiện chế độ giáo dục và chữa bệnh phổ thông miễn phí. Ngân sách phải được đầu tư cho cấu trúc hạ tầng xã hội phục vụ dân sinh, thay vì đầu tư tốn kém vào trụ sở, nhà khách và nhiều công trình không có hiệu quả. Cần ban hành chế độ trợ cấp xã hội ổn định, thường xuyên và ngang nhau cho người có công, nạn nhân chiến tranh, người tàn phế mất khả năng kiếm sống, người không có khả năng lao động và không nơi nương tựa… Cần sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích nguồn viện trợ, cần giúp đỡ khuyến khích các tổ chức và cá nhân hoạt động từ thiện. Về kinh tế đối ngoại, ưu đãi dành cho nhà kinh doanh nước ngoài phải đi đôi với kiểm tra xử lý vi phạm về lao động và môi trường.

Công bằng xã hội được hiểu là chủ trương và việc làm tác động tích cực lên đối tượng bị đối xử bất công, nhưng phải đi liền với cải tiến quá trình quản lý. Cần chấm dứt lạm dụng các khái niệm như lợi ích tập thể, sở hữu toàn dân dẫn đến chiếm dụng đất đai, tài sản, tiền bạc cá nhân. Công bằng xã hội là không lợi dụng danh xưng chính quyền nhân dân, lợi ích quốc gia để truy bức các chính kiến và ghép tội. Công bằng xã hội là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không một ai phải bị tù không tội, là phải thấu hiểu và đáp ứng cụ thể đối với từng tiếng oán hờn của dân oan. Công bằng xã hội là tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng phải được công khai vì đó là tài sản toàn dân.

Công bằng xã hội là phải được hiểu đúng, đặt đúng trở lại khái niệm, vị trí quyền lực công. Lý luận của Đảng Cộng sản cho rằng quyền lực chính trị là khả năng một giai cấp hay liên minh giai cấp thực hiện lợi ích khách quan của mình. Quyền lực công được cho là đại diện lợi ích cho mọi thành viên xã hội, giai cấp hay lực lượng khác nhau. Quyền lực nhà nước là sự thể hiện về mặt hình thức của quyền lực công, thực hiện chức năng của quyền lực công. Lại thêm kết luận: quyền lực nhà nước phải chịu sự chi phối bởi một giai cấp hay lực lượng thống trị nhất định. Vậy thì quyền lực công thật sự của đại đa số đã bị rơi vào thế “lưỡng đầu thọ địch”, bị chi phối bởi một đầu là quyền lực chính trị và đầu kia là nhà nước nhưng cũng bị quyền lực chính trị “chi phối”. Quyền lực công mà vào tay một “lực lượng thống trị nhất định” thì có còn công bằng không? Trong khi đó, từ năm 1996 tác giả R. A. Dahl đã diễn đạt rất rõ trong một báo cáo của Tổ chức đánh giá dân chủ Thụy Điển: “Nguyên tắc tất cả quyền lực công (chính là quyền lực nhà nước) đều xuất phát từ nhân dân đặt ra những đòi hỏi cụ thể trong quá trình hình thành các quyết sách chính trị”.

Giáo sư Hồ Văn Thông thuộc Học viện Chính trị Quốc gia đã nhận định: “Trong đời sống chính trị hiện nay, chúng ta (Đảng Cộng sản) đang thiếu một sức mạnh thể chế trong tổng thể. Nhiều đường lối, chủ trương và pháp luật đúng đắn nhưng không được hiện thực hóa, không được thực thi với hiệu quả đáng ra phải có”. Hiện tượng đó được hiểu như thế nào: có tư duy nhưng không có năng lực thực hành, lý luận suông không đi đôi thực tiễn, hệ tư tưởng xã hội bất lực trước sự biến chất của bộ máy điều hành, chủ trương trung ương không đủ sức tác động đến địa phương… Đường lối không được thể chế hóa trên thực tế hàng chục năm liền cho thấy một sự bế tắc, thiếu cân bằng và thiếu cả công bằng, tính chất ưu việt xã hội chỉ còn là danh nghĩa.

Cho nên, quan trọng và lâu dài, công bằng xã hội phải được hiểu là bình đẳng chính trị. Quyền thay đổi chính phủ của người dân phải được công nhận trong hiến pháp và thực thi đúng nghĩa. Chủ trương độc đảng từ bất công bằng đã đến gây nhiều tội ác. Việc cố giữ một đảng chính trị đương nhiên tạo ra toàn trị, đi ngược lại với mục tiêu hướng tới xã hội công bằng, dân chủ. Bao nhiêu hy sinh của toàn dân tộc vì độc lập tự do mà xét cho cùng là tìm kiếm công bằng xã hội, còn có nghĩa gì khi bất công này chấm dứt chỉ để thay thế bằng bất công mới trá hình? Đường lối, cương lĩnh, chủ trương còn có giá trị và sức thuyết phục gì khi bộ máy chính quyền ưu tiên mọi điều kiện cho sự tồn tại một đảng? Một xã hội ưu việt là xã hội mà công bằng phải bắt đầu từ công khai, thay vì bưng bít tạo ra bất công.

Đổi mới hoạt động quốc hội

Tính từ khóa đầu tiên năm 1946 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trên 60 năm hoạt động. Trong quá trình đó, ở Quốc hội khóa đầu tiên, Hồ Chí Minh mời đại biểu nhiều tầng lớp: trí thức, cộng sản, các đảng phái, kể cả vua Bảo Đại bước ra từ triều đại phong kiến… cùng tham gia. Tuy nhiên, những thành phần được đón nhận trên tinh thần không phân biệt vào ngôi nhà chung đã bị loại bỏ dần. Đến các nhiệm kỳ quốc hội sau, chỉ còn mỗi Đảng Cộng sản, mặc dù trên hình thức vẫn đủ các lực lượng xã hội, kể cả tôn giáo và dân tộc. Thực tế trên tồn tại đến nay.

Trong các kỳ họp quốc hội, nội dung bàn thảo và biểu quyết đã được định đoạt trước bằng chỉ đạo chính trị. Đối với các nước, việc quốc hội bỏ phiếu chặn đứng một chủ trương có vấn đề là chuyện không hiếm, còn ở Việt Nam hàng chục năm liền mọi chủ trương đều được 100% đại biểu đồng thuận cao! “Trí tuệ tập thể” giả tạo ấy là nguồn gốc đầu tiên của thiếu trách nhiệm, loại bỏ mọi ý tưởng và sáng tạo. Bước triển khai thực hiện xảy ra trì trệ, càng khó kiểm điểm cá nhân. Về các vấn đề ở từng địa phương, ý kiến cử tri được tổng hợp qua tiếp xúc và kiểm tra khảo sát không thể phản ánh và giải quyết hết trong kỳ họp quốc hội, quá trình chính quyền địa phương đưa ra quyết định, mà không phải quyết định nào cũng bằng văn bản, càng không bị bất cứ cấp nào kiểm tra giám sát. Dân chủ chẳng còn giá trị và ý nghĩa gì khi nhân dân đã tổng kết: “Đảng chỉ tay, quốc hội giơ tay, nhà nước ra tay, dân trắng tay!”     

Quốc hội Việt Nam được cho là “đã kết hợp chặt chẽ và hài hòa hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp”, nhưng như đã đề cập ở khâu “dân chủ đại diện” hoàn toàn không có tổ chức hội đoàn độc lập cử người tham gia. Cứ xem trong số ứng cử, có mấy vị không là đảng viên Đảng Cộng sản? Vì thế, đến khâu “dân chủ trực tiếp”, người cầm lá phiếu đi bầu không khác “con kiến mà leo cành đa…”. Quốc hội còn là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Nhưng vấn đề là người dân làm sao kết nối được với quốc hội, đồng thời tham gia điều chỉnh hoạt động của nhà nước một khi yếu tố “đại biểu”“quyền lực” bị tách rời?

Với mô hình quốc hội một viện như hiện nay, các cơ quan thường trực và những ủy ban giúp việc có “nhiệm vụ và quyền hạn ngay cả trong thời gian quốc hội không họp, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; giám sát việc thực hiện hiến pháp, luật, pháp lệnh và kiến nghị về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình”. Vậy trong thời gian giữa hai kỳ họp, ai đảm bảo các hoạt động ở cơ quan đỉnh cao quyền lực này không có thực thi sai lầm và diễn biến tiêu cực? Đến kỳ họp quốc hội sau, đại biểu nghe báo cáo thường là những sự việc đã rồi, sai lầm thì được kết luận nghiêm túc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Cứ thế, các kỳ họp quốc hội lại chất vấn, bàn thảo, tìm giải pháp khắc phục. Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã cảnh báo: “Bài học đã được lịch sử cho thấy chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng những hậu quả lâu dài”.

Để tiến tới dân chủ ở quốc hội mở rộng hơn nữa, cần cải cách từ gốc. Sau khi được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khoá XI, ông Nguyễn Văn An suy nghĩ làm thế nào để đảng cầm quyền chỉ đường, vận động và thuyết phục thay vì “mệnh lệnh hành chính” mà quốc hội là một những nơi mệnh lệnh ấy đã tác động. Với không khí dân chủ tại quốc hội hiện nay, ông nhận định đã có rất nhiều tiến bộ” so với trước đây trong việc cơ quan báo chí được trực tiếp theo dõi, phản ánh các kỳ họp, truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn và trả lời, đại biểu tự do phát biểu quan điểm của mình trên tinh thần xây dựng và văn hóa. Nhưng ông cũng nêu ra yêu cầu: “So với các nước tiên tiến, chúng ta còn phải phấn đấu rất nhiều”, nghĩa là dân chủ tại quốc hội trong chừng mực nào đó vẫn bị giới hạn trong tầm kiểm soát của chính trị. Cùng quan điểm đó, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Dũng cũng cho rằng quốc hội cần dân chủ hơn nữa, bởi quốc hội không có dân chủ thì không ở đâu có dân chủ.

Quốc hội phải thật sự là ngôi nhà chung, nơi mà đại diện các giai tầng xã hội đều là người chủ bước vào. Các đại biểu cần phải được bầu cử công bằng, hợp pháp. Điều này sẽ giúp mở rộng tỉ lệ đại biểu không đảng viên, đồng thời nhằm đảm bảo chương trình nghị sự diễn ra khách quan, công bằng, vì quyền lợi thiết thực khác nhau của đa dạng phân tầng. Không khí bàn thảo sôi nổi, chất vấn gay gắt cũng có thể rơi vào hình thức, thậm chí là sân khấu biểu diễn dân chủ tập trung một khi ở kỳ họp trở về, mỗi đại biểu đều không thể vượt qua khỏi chỉ đạo chính trị. Về những vấn đề thuộc địa phương, giao trách nhiệm cho đại biểu địa phương thực hiện, nhưng người dân phải được quyền giám sát tại chỗ. Cần tránh tình trạng tập trung đại biểu ở cấp cao nhất, gây tốn kém mà vĩ mô không giải quyết hết vi mô, mọi bức xúc của cơ sở bị bỏ qua. Phản ứng trước tình trạng này là hiện tượng người dân “thấp cổ bé họng” khiếu kiện vượt cấp hay kéo ra chặn đường kiến nghị tố cáo nhiều vấn đề khi thấy các quan chức trung ương về địa phương.

Đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần được đánh giá năng lực định kỳ, bằng nhận xét từ nhân dân chứ không chỉ từ cơ quan công tác và các chi bộ Đảng. Đồng thời tự bản thân các đại biểu nên có “văn hóa từ chức” nếu thấy ngồi vào chiếc ghế quyền lực mà bất tài và thiếu trách nhiệm. Ở các nước, từ chức là quyết định dũng cảm, tự trọng, là phẩm chất và văn hóa công chức. Ở Việt Nam, do tham quyền cố vị, bè cánh phe nhóm, bảo thủ đảng phái, từ chức trở nên rất khó khăn, gần như mất tư cách! Phải chăng như thế là đủ tài đức? Có hiện tượng này là do đảng viên được bảo bọc trong “cái kén” tổ chức cơ sở Đảng, độc lập và cách ly đời sống xã hội về “phẩm chất chính trị”. Những đại biểu này cần phải có một cuộc lột xác mới có thể trở thành đại biểu thật sự của nhân dân.

Thật sự hòa hợp dân tộc

Người Việt ra đi trước và ở thời điểm 1975 hình thành những cộng đồng đông đảo ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức… Tiếp theo sau là lớp thuyền nhân vượt biển, công chức và quân nhân xong hạn cải tạo tập trung, thân nhân theo diện bảo lãnh, người bị cải tạo công – thương… Theo một số liệu thống kê trước 1950, tất cả các bang ở Hoa Kỳ có chưa tới 500 người Việt. Đến cuối năm 1974, con số tăng lên khoảng 26.000 người. Đến năm 1985, Hoa Kỳ đón nhận số người Việt Nam nhập cư theo đạo luật tị nạn tăng hơn 10 lần so với trước đó.

Những năm 1980, chính sách của nhà nước Việt Nam đưa người Việt đi học tập nghiên cứu và lao động hợp tác ở các nước Liên Xô – Đông Âu cũng hình thành thêm nhiều cộng đồng đồng mới. Sau Liên Xô – Đông Âu tan rã, một số nhận bồi thường hợp đồng và quay về, số khác ở lại và tự tìm điều kiện sinh sống. Thêm các đợt xuất khẩu lao động, du học sau đổi mới, người Việt thế hệ sau tiếp tục đến Đông Bắc Á, Nam Á, Tây Á và Trung Đông, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc… Đến nay, Việt kiều có khoảng 4 triệu người ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hàng trăm ngàn người có trình độ đại học trở lên. Người Việt ở đâu cũng hướng về quê cha đất tổ, cội nguồn dân tộc.

Những lớp ra đi đầu tiên phần lớn là trí thức nhiều lĩnh vực, đóng góp cho các quốc gia sở tại. Nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt Trịnh Xuân Thuận với hai tác phẩm nghiên cứu khoa học nổi tiếng: Cái vô hạn trong lòng bàn tay Một cuộc đối thoại giữa Vật lý và Phật giáo. Gần đây, tác phẩm phổ biến khoa học “Những con đường ánh sáng: vật lý và siêu hình học của ánh sáng và bóng tối” do NXB Fayard ấn hành năm 2007 đã được Viện Hàn lâm Pháp trao Giải thưởng Moron. Điều hợp viên tin tức Betty Nguyễn của đài truyền hình CNN là phụ nữ người Việt. Ông Cao Joseph Ánh là dân biểu Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên đắc cử vào Hạ viện năm 2008. Ông Phillip Roesler 36 tuổi là người Đức gốc Việt được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế Cộng hòa liên bang Đức. Ông Lê Bá Hùng là người Mỹ gốc Việt chỉ huy chiến hạm USS Lassen của Hoa Kỳ cập cảng Đà Nẵng. Jacqueline Nguyễn được Thượng viện Hoa Kỳ bỏ phiếu thuận bầu làm thẩm phán liên bang. Giáo sư Ngô Bảo Châu là một tài năng lớn. Ông được tạp chí Times bình chọn công trình nghiên cứu toán học về  “Bổ đề cơ bản của Langlands” từng thách thức các nhà toán học thế giới 30 năm qua, là một trong 10 phát minh lớn nhất năm 2009.

Đảng Cộng sản chủ trương như thế nào với người Việt Nam ở nước ngoài? Trong Nghị quyết 36/NQ-TW tháng 3-2004 về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, Bộ Chính trị nhận định Việt kiều có tiềm lực kinh tế và nhiều mối quan hệ với các lĩnh vực tiên tiến, có thể làm “cầu nối” với trong nước. Nghị quyết cũng nêu khó khăn của Việt kiều như chưa được hưởng quy chế, bị kỳ thị, chưa có dịp về quê hương để “tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới”. Rồi sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao, việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nghị quyết đề ra nhiệm vụ: công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đại đoàn kết, nhà nước thỏa thuận với các nước về mặt pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và được bảo vệ quyền lợi chính đáng… Nửa năm sau, Bộ Ngoại giao cũng có “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36” phối hợp các ngành, đề ra chính sách liên quan đến quy định xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại, hồi hương, quốc tịch, thừa kế, hôn nhân gia đình, hộ chiếu, giấy thông hành… Tất cả những chủ trương trên đều rất chu đáo, trách nhiệm, đón chào.

Thật ra, lãnh đạo trong nước quan tâm điều gì? Đó là tiềm lực mà họ có được nhờ đã đánh đổi bằng nước mắt và máu trên đường tìm kiếm bến bờ định cư mới: trí tuệ, các mối quan hệ ở nước ngoài và gửi USD về cho nền kinh tế trong nước. Cho nên, chủ trương vừa được công bố đã đón nhận sự mỉa mai và phản đối của đa số Việt kiều ở nhiều nước. Bộ Ngoại giao đã phải “im hơi lặng tiếng” trước bài của ông Bùi Tín như một gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt. Ông viết: “Số đông bà con ta lớp lớp gạt nước mắt bỏ nước ra đi, trên những tàu thuyền ọp ẹp, trước sóng to gió lớn của biển cả hung dữ, chỉ vì một loạt chính sách: trả thù, phân biệt đối xử, hạ nhục kẻ thua trận, cải tạo bằng nhà tù, diệt trừ tư sản, cưỡng bức đi kinh tế mới, xét theo lý lịch, hộ khẩu thành phố không cấp cho bọn ngụy… để đến mức người dân có lương tâm và tự trọng cảm thấy bơ vơ lạc lõng trên chính quê hương mình; đến độ cái cột đèn có chân cũng phải ra đi…”.

Có lẽ không cần phải phân tích thêm vì cả bài báo không có một lập luận nào thiếu chuẩn xác, cũng không có chỉ trích nào về Nghị quyết 36 một cách nghiêm khắc, đúng bản chất vấn đề hơn thế! Đó là tiếng nói chỉ có thể có trong một xã hội tự do ngôn luận, công bằng và dân chủ. Người Việt ở nước ngoài vẫn không thể nào tin vào lòng tốt đột xuất bỗng dưng đảo chiều của Nghị quyết 36. Chính một tờ báo trong nước phải thừa nhận quá trình thực hiện Nghị quyết “khá cụ thể và quyết liệt” nhưng “cho đến nay, đã gần ba năm trôi qua, kết quả đạt được vẫn còn rất… khiêm tốn!”. Báo chí đưa ra nhận định này biết rất rõ nguyên nhân sâu xa, nhưng nguyên tắc đã cho không đề cập.

Thiếu tin tưởng nhau cứ thế kéo dài. Không ít lần lãnh đạo cấp cao Việt Nam thực hiện những chuyến ngoại giao sang các nước, nhất là đến trụ sở LHQ ở Hoa Kỳ, phải đi cửa sau để tránh nhiều người Việt chặn đón biểu tình phản đối (thời bao cấp bị khủng hoảng, ngoại giao đoàn Việt Nam đi xin viện trợ các nước XHCN cũng bị coi thường). Các đoàn biểu diễn văn hóa nghệ thuật ra nước ngoài nhiều lúc nhiều nơi bị tẩy chay. Điều mà đồng bào ở hải ngọai cần là tiếng nói xuất phát từ ứng xử thật lòng của lãnh đạo đất nước nếu muốn tạo mối quan hệ. Nhưng theo ông Bùi Tín, thái độ ngược lại đã xảy ra khi các chủ trương, văn bản và phát biểu vẫn nhâng nháo ban ơn, vênh váo dạy bảo những nạn nhân của mình!”. Vì vậy mà: Thiếu hai chữ “xin lỗi” trên cơ sở nhận ra sai lầm thì hàng vạn chữ cũng chỉ là bất lương!” 

Chính sách hai mặt này thêm lần nữa lặp lại khi vào tháng 6-2009, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Đề cương tuyên truyền Chỉ thị 34-CT/TW về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”. Chỉ thị cho rằng hai tổ chức“Peace Corps” [37] và “Cơ quan phát triển Quốc tế”  [38] ở Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi chính trị và dân chủ. Hai tổ chức này bị ghi danh vào thành phần“cách mạng màu”. Trong 15 chương trình và dự án lớn hỗ trợ giáo dục của Hoa Kỳ hiện nay, chương trình học bổng Fulbright (được cả thế giới đánh giá tích cực) hỗ trợ 4 triệu USD/năm, chương trình học bổng 5 triệu USD/năm cấp cho 100 sinh viên Việt Nam du học, dự án “Góc Hoa Kỳ” tại Việt Nam… cũng bị cho là “lợi dụng hợp tác giáo dục và đào tạo để chuyển hóa Việt Nam”. Chỉ thị xác định các cá nhân và tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ của người Việt ở hải ngoại đang “tiếp tục tiến công xuyên tạc, phủ định, xóa bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Sau 5 tháng ban hành Chỉ thị 34 đề cao cảnh giác, tháng 11-2009 nhà nước lại tổ chức Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất tại Hà Nội. Hội nghị tập trung gần 900 “đại biểu” ở 52 quốc gia. Phát biểu khai mạc, Chủ tịch nước nhắc lại truyền thống “Con Lạc – Cháu Hồng” và ý nghĩa hai chữ “đồng bào”. Ông cho rằng kiều bào “là máu thịt của Việt Nam”. Theo ông, con người còn có lúc hỷ nộ ái ố, nên Việt kiều cần đoàn kết, tích cực làm ăn học tập, chống lại luận điệu xuyên tạc của thành phần “ra sức chống phá đất nước”. Đảng Cộng sản vẫn xác định đây là cuộc đấu tranh, cho nên hội nghị không phải là dịp mời gọi đoàn kết mà nhằm tiếp tục đạt được mục tiêu loại trừ một bộ phận Việt kiều, thể hiện ngay trong phát biểu lưỡng tiện của Chủ tịch nước.

Để nhận diện những người theo đảng cầm quyền là “ra sức chống phá đất nước” nhưng theo họ thì lãnh đạo đất nước đang “ra sức bảo thủ chia rẽ”, thiết nghĩ nên tổ chức diễn đàn tự do định kỳ cho mọi người dân trong và ngoài nước đối thoại với lãnh đạo đất nước, xem nội dung gì xuyên tạc, phản động, đi ngược lại lợi ích dân tộc. Diễn đàn này phải cam kết không đe dọa, hành hùng, cô lập bắt giam và ghép tội. Chủ tọa diễn đàn không ai khác là chân lý, là tư duy và lương tâm của hơn 80 triệu người Việt Nam, là xu thế thời đại… Đây là cơ hội để chấn chỉnh thông tin “lề trái” lẫn “lề phải”. Anh bảo tôi sang lề bên này đi theo anh hay ngược lại, lề bên này hay bên kia được rộng mở nhiều hơn? Khi nào thì cả dân tộc Việt Nam mới đồng hành trên một con đường? Nếu có được diễn đàn trên, chắc chắn lãnh đạo đất nước không phải luôn cảnh giác với “diễn biến hòa bình”, trong ngày vui gặp mặt long trọng Việt kiều không còn phân biệt một số “ra sức chống phá đất nước”. Việt kiều được xác định là “máu thịt của Việt Nam”, vì sao chính sách của đảng cầm quyền lại cô lập phân biệt, ngoảnh mặt quay lưng kết tội thay vì đối thoại trực tiếp?

Cũng tại hội nghị, Việt kiều được nghe thông tin về biên giới, hải đảo. Người trong nước và kiều bào đặt câu hỏi vì sao cả nước chưa từng được nghe một cách chính thức về biên giới hải đảo, mà chỉ dành riêng cho bà con ở nước ngoài về dự hội nghị? Quốc hội không bàn, dân tự bàn thì bị trấn áp, biểu tình với tinh thần yêu nước thì bị bắt giam, bao giờ dân mới được nghe và có quyền chất vấn? Vấn đề là lúc này Đảng và Nha nước Việt Nam đang cần xoa dịu phẫn nộ của người Việt nước ngoài, làm đẹp hình ảnh của Chính phủ Việt Nam trước quốc tế, vì thế mới có nội dung trên lồng ghép thực hiện trong dịp họp mặt.

Khi mời “đại biểu” Việt kiều, ban tổ chức cuộc gặp mặt quy định phải có hội đoàn chọn cử. Vậy những nơi chưa có tổ chức hội đoàn, ai chọn cử? Nếu đã áp dụng như trên, tại sao trong nước không được phép thành lập hội đoàn và không được tự cử người tham dự hội nghị hay những cuộc gặp mặt? Dịp này, các nhà lãnh đạo gặp Việt kiều, còn giữa Việt kiều và người dân trong nước không được gặp nhau bằng một chương trình chính thức – phải chăng như thế là đoàn kết? Hội nghị kết thúc, để lại dấu chấm lửng khi Việt kiều ra về, không một mối quan hệ nào sáng sủa và khả thi hơn khi mà Chỉ thị 34 còn ẩn trong tranh sáng tranh tối.

Hiện nay Việt kiều đầu tư về nước gần 3.000 dự án, tổng trị giá khoảng 3 tỉ USD. Năm 2008, Việt kiều gửi về cho thân nhân gần 8 tỉ USD. Năm 2009 cũng số tiền gửi tương tự. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban người Việt ở nước ngoài từng cho rằng Việt kiều là một “kho báu lộ thiên”, hàm chứa ý định khai thác (khoảng năm 1980, ông Trường Chinh từng có quan điểm Việt kiều gửi tiền về là gửi những “viên đạn bọc đường”). Hội nghị Việt kiều đã không đoàn kết và xóa bỏ quá khứ để người Việt trở về cùng xây dựng đất nước, vẫn tiếp tục xem người Việt ở nước ngoài hay quan tâm chỉ trích yếu kém về lãnh đạo là thế lực phản động. Đồng thời, hội nghị còn tập trung một lực lượng đối trọng, bênh vực bảo vệ bộ máy lãnh đạo từ bên ngoài. Cho nên, không ít người vẫn còn trong tâm trạng “kinh cung chi điểu” (chim phải tên sợ làn cây cong) đã từng.

Một trí thức Việt kiều ở Thụy Sĩ suy nghĩ về thời điểm tổ chức hội nghị, khi mà Nghị định 97 buộc Viện nghiên cứu IDS giải thể hay mạng báo điện tử Tia Sáng bị đóng cửa. Động thái này cho thấy trí thức vẫn chưa có chỗ đứng độc lập và chưa được trân trọng khi thực hiện chức năng phản biện. Một Việt kiều ở Nhật cho biết chuyện vô cùng trớ trêu khi gần cả cuộc đời, ông nhiều lần về nước phải trình visa, trong lúc người Nhật vào Việt Nam không cần visa. Tâm trạng của ông cũng là tâm trạng của rất nhiều Việt kiều: “Lắm lúc cũng thấy nản, mất hứng khi trở về nước chỉ vì thủ tục nhiêu khê…”. Một Việt kiều ở Hoa Kỳ thẳng thắn khi đặt vấn đề chính quyền Việt Nam cần phải thật lòng khi kêu gọi hòa hợp thay vì lợi dụng trí thức, cần từ bỏ phân biệt ngôi thứ chỉ huy và ban ơn, cần để cho trí thức“có tiếng nói trong việc xây dựng đất nước”.

Cùng với phân biệt đối xử trước kia, chuỗi quá trình ban hành Nghị quyết 36 – Nghị quyết 34 – tổ chức Hội nghị Việt kiều càng cho thấy sự thù địch, lôi kéo, chia rẽ, lợi dụng, hành xử hai mặt… Chủ tịch nước nghĩ gì khi cùng lúc đề cao “Con Lạc – Cháu Hồng” và nghĩa đồng bào mà rào cản thù địch dựng lên vẫn chưa được dỡ bỏ? Sự lãnh đạo chia rẽ phía sau một mặt đi ngược lại nghĩa đồng bào, mặt khác đánh lừa và chuyển hướng các vấn nạn xã hội toàn xã hội đang quan tâm do năng lực điều hành kém cỏi của lãnh đạo đất nước.

Như đã đề cập, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt có quan điểm tổ quốc, dân tộc hay quốc gia đều của mọi người Việt mà “không phải là riêng của nguời cộng sản hay của bất cứ tôn giáo, phe phái nào cả”. Ông còn cho rằng những “kẻ thù” như Pháp, Mỹ, Trung Quốc mà Việt Nam còn khép lại quá khứ để bắt tay nhau, trong khi lại chia rẽ giữa người đồng bào cùng máu đỏ da vàng. Ngay sau 30-4, ông Lê Duẩn vừa bước xuống cầu thang máy bay khi vào Sài Gòn, đã phát biểu: “Thắng lợi này là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam chứ không của riêng ai”. Nhưng Đảng Cộng sản đã chiếm hết công trạng, quy tất cả thành phần khác vào “lực lượng phản động”. Chính sách đoàn kết dân tộc có ý nghĩa gì khi vẫn tồn tại cách biệt quan điểm, chưa đón nhận trọn vẹn trí tuệ, tâm huyết từ đồng bào ở hải ngoại? Trong khi người nhiều quốc tịch và dân tộc khác nhau đến Việt Nam, các nước đều đón kiều bào trở về… thì cánh cửa của những người Việt vẫn chưa mở ra.

Đọc lại lịch sử dân tộc, chính sách từ những triều đại lấy chữ “Hòa” làm đầu bao giờ cũng xóa tan mọi hiểu lầm, giúp dân tộc thoát qua cơn nguy biến, cố kết được các dân tộc trên một “lãnh thổ mở” lần lượt từ Bắc vào Nam. Năm 1945, Hồ Chí Minh cũng áp dụng bài học lịch sử đó dù chẳng bao lâu. Về sau, một thời gian dài chính sách của Đảng Cộng sản không nhận được phản ứng tích cực của người Việt trong và ngoài nước đã quá rõ để nhìn ra vấn đề: dân tộc và con đường cho toàn thể dân tộc. Đoàn kết không có nghĩa là tập trung tất cả vào một tổ chức hay mô hình và buộc phải nghe duy nhất một tiếng nói, không có nghĩa là lấy số đông chưa có chính kiến gì về đúng sai để ghép tội và tiêu diệt một thiểu số chưa hẳn sai, lại càng không phải gây chia rẽ và loại bỏ tất cả những yếu tố riêng có cá nhân.

Việt kiều là “máu thịt của Việt Nam”, dân tộc là vĩnh viễn, nhất định chúng ta sẽ cùng đi chung trên con đường cho dù thế lực chính trị có muốn hay không muốn. Đó là con đường mà:

“Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết

Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi

Như vị muối cùng chung lòng biển mặn

Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”

(Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)

Chống tham nhũng phải hiệu quả

Tham nhũng dứt khoát đã là hiện trạng “nhà dột từ nóc”. Môi trường độc quyền lãnh đạo, toàn quyền sử dụng tài nguyên đất nước, tự đề ra những quy định, thủ tục hành chính đã dẫn đến tham nhũng. Hầu hết người đưa hối lộ cần tìm kiếm một lợi ích, thường là bất chính. Người nhận hối lộ biết ý định đó, đã nhũng nhiễu, gợi ý, thậm chí đòi hỏi thẳng thừng. Ngay trước phiên tòa, có cả chuyện “ra giá” về mức kết án, vì thế đen biến thành trắng. Một luật sư từng nêu ý kiến: “Tôi không đồng ý với lập luận cho rằng đưa hối lộ là nguồn gốc. Nếu cán bộ trong sạch, vô tư thì ai hối lộ được”. Đây là hậu quả mà Đảng Cộng sản trước hết phải nhận lãnh trách nhiệm do quá trình loại bỏ cơ chế kiểm soát đối lập đã tạo ra không ít đảng viên cán bộ sâu mọt.

Các quan chức còn chủ động lập ra êkip và vươn những chiếc vòi bạch tuộc đến những nguồn tài sản, những cá nhân quản lý tài sản nhằm liên kết lấy cắp. Khi mà phẩm chất cán bộ đã xuống cấp thì việc lập ra cơ chế quản lý nhiều cửa hay một cửa, lập ra ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp này hay cấp khác cũng chỉ là hình thức mà không bao giờ đạt được minh bạch hóa. Tham nhũng không những phá hoại kinh tế, mà còn tạo ra tiền lệ dẫn đến trong các quan hệ xã hội xuất hiện “văn hóa phong b씓đồng tiền đi trước”. Tham nhũng như một lượng dầu nhỏ đổ xuống mặt nước nhưng hủy hoại rất lớn uy tín đảng cầm quyền, nhà nước, quốc gia.

Tham nhũng cho đến nay vẫn hoành hành do từ trong nội bộ, các cơ quan giám sát phát hiện tham nhũng và người bị phát hiện đều là những “đồng chí”, thậm chí còn có thể “kính thưa các đồng chí chưa bị lộ” khi gặp nhau. Quan hệ này không tránh khỏi cùng bắt tay nhau vì quyền lợi, nể nang, bao che, giơ cao đánh khẽ. Còn nhân dân, do lâu nay không được hình thành ý thức phản biện xã hội trong môi trường pháp luật công minh, nên nhiều người chỉ đứng bên ngoài bức xúc trước hiện tượng hoặc phản ứng theo vài vụ báo chí đã phanh phui. Vài người biết lại thiếu dũng cảm tố cáo. Họ sợ vạ lây vào thân, sợ bị chụp mũ, trù dập, hăm dọa… Bài học về tướng Trần Văn Thanh ra tòa ở Đà Nẵng còn đó.

Tham nhũng chỉ có thể kết thúc khi mà trong môi trường công sở, trong các êkip làm việc, trong từng dự án hay chương trình… đan xen đại diện những nhóm lợi ích khác nhau. Sự tập trung này không phải “ngồi cùng chiếu bạc”, mà phải cùng tham gia thực hiện và giám sát để bảo vệ quyền lợi cộng đồng. Mặt khác, xã hội cần có hệ thống thông tin đại chúng khách quan, có sự phân quyền độc lập trong quá trình điều tra – kiểm sát – kết tội (tam quyền phân lập) để đưa ra ánh sáng những vụ bê bối.

Cuối năm 2005, Luật phòng chống tham nhũng lần đầu được thông qua tại kỳ họp quốc hội. Điểm 2 điều I khái niệm tham nhũng là “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Người có chức vụ và quyền hạn được liệt kê gồm: cán bộ, viên chức, công chức; sĩ quan chuyên nghiệp, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật, công nhân thuộc ngành quốc phòng và công an; cán bộ lãnh đạo quản lý và đại diện phần vốn góp của nhà nước trong các doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể… Tuy nhiên, việc khái niệm và liệt kê một cách chung chung nói trên chẳng thể nào làm biến chuyển tình hình nếu không có hành động phối hợp chỉ tên những cá nhân đứng đầu, các nhóm phối hợp, các đề án hay dự án cụ thể có hành vi tham nhũng. Vấn đề khó khăn là ở chỗ tất cả đều được bảo bọc trong một tổ chức cơ sở Đảng hoặc một số phe cánh kinh tế đã phân “lãnh địa”, “chia sân”. Những vụ bị đưa ra ánh sáng hầu hết do phe cánh này tố cáo phe cánh khác hoặc phân chia quyền lợi có được từ tham nhũng không đồng đều trong nội bộ. Cho nên Luật phòng chống tham nhũng ra đời đã chậm, qua 5 năm thi hành tham nhũng vẫn diễn ra ngày càng rộng.

Năm 2006, Đảng và Nhà nước Việt Nam báo động ở cấp độ cao hơn khi khẳng định tham nhũng là “quốc nạn”, không những làm suy thoái về đạo đức mà còn cả chính trị, hình thành nguy cơ lớn đe dọa sống còn chế độ. Nguyên nhân: hệ thống pháp luật lạc hậu, thiếu đồng bộ và không hoàn thiện, kỷ cương xã hội bị buông lỏng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chậm đổi mới, cồng kềnh, chồng chéo, nhiều tầng nấc, kém hiệu lực. Để phòng chống tham nhũng: các chi bộ, đảng bộ cần nêu cao vai trò và vị trí, thực hiện bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên về phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống; tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực kê khai tài sản, nêu cao đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đấu tranh không khoan nhượng; xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp các cơ quan liên quan trong phòng, chống tham nhũng… [39] Có thể nói giải pháp nghe rất kiên quyết, triệt để và toàn diện, nhưng ai triển khai, ai làm và làm như thế nào ngoài cơ quan thanh tra, ủy ban kiểm tra nằm ngay trong đảng và nhà nước? Sau khi xác định thực trạng, cuộc chiến chống tham nhũng chỉ có “ta chống ta” nên lại rơi vào bất lực trong điều chỉnh thực trạng.

Tham nhũng, lãng phí còn được nhận định diễn ra nghiêm trọng nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực một cách phức tạp, gây hậu quả xấu nhiều mặt, giảm sút lòng tin của nhân dân. Có hiện tượng đó là do: cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở nhưng chậm được sửa đổi bổ sung; tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng còn nhiều khuyết điểm, chất lượng và hiệu quả chưa cao; nhiều tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng và sự nguy hại nên lãnh đạo không chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thậm chí còn nể nang, né tránh, dung túng, bao che; công tác cán bộ và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức còn nhiều yếu kém. Thêm lần nữa tự cho thấy hệ thống chính trị đã yếu kém toàn diện nên nói cũng chỉ để có nói.

Lại giải pháp nêu ra: tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về phòng chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, xã hội; thực hiện công tác truyền thông và thành lập cơ quan chuyên trách phòng chống; tăng cường giám sát của nhân dân và cơ quan dân cử; hợp tác quốc tế phòng chống tham nhũng [40]. Thêm những giải pháp này cũng không thoát khỏi bệnh câu chữ. Vấn đề là đảng cầm quyền đã không dám nhìn nhận và khẳng định một nguyên nhân rất cơ bản: độc đảng dẫn đến độc quyền, độc quyền dẫn đến tham nhũng nặng nề.

Luật sư Lê Công Định cho rằng các biện pháp nhà nước chống tham nhũng mang tính hình thức nhiều hơn thực chất, không đảm bảo hiệu quả thực thi. Ông đưa ra bốn giải pháp: từ bỏ cơ chế xin – cho và cấp phép, vì đó là gốc rễ của tham nhũng; tư pháp độc lập và chuyên nghiệp vì đó là công cụ trừng trị tham nhũng công minh và hiệu quả; người dân có quyền khởi kiện các văn bản pháp quy vi phạm quyền lợi hợp pháp của dân; quyền được tự do thông tin của người dân thông qua báo chí.

Dự án nâng cao năng lực phòng chống tham nhũng cho các tổ chức xã hội và người dân có sự tham gia hỗ trợ của nước ngoài triển khai hiện nay cho rằng cần quy định lại cơ chế về sở hữu, nhất là sở hữu đất đai. Đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, ban lãnh đạo phải góp vốn tự sản xuất kinh doanh. Tất cả các lĩnh vực sử dụng ngân sách đều phải minh bạch giải trình. Trong phòng chống tham nhũng, trưởng ban chỉ đạo cũng là người đứng đầu chính quyền các cấp, không khác “vừa đá bóng vừa thổi còi”, từ đó bộ phận thanh tra không thể độc lập chức năng, chỉ còn biết nhìn tham nhũng diễn ra trước mắt. Phải thật sự hợp tác và bảo vệ người dám đứng ra tố cáo tham nhũng mà không quy chụp họ lợi dụng dân chủ khiếu kiện, tụ tập đông người trái phép và gây mất đoàn kết, phát tán đơn thư nặc danh… và tìm mọi cách bịt miệng, dập tắt.

Có một trang web tự do mang tên: “Câu lạc bộ Nókìa” ra mắt cuối tháng 9-2009 với tuyên ngôn: “Nó là những ngôi nhà hoành tráng, những cơ sở làm ăn to lớn của các quan chức nhà nước đầy đặc quyền đặc lợi. Nó là hiện thân, là kết quả của những vụ tham nhũng, cướp đoạt tài sản của người dân hay ăn cắp tiền viện trợ của nước ngoài…”. Trang web kêu gọi mọi người tiếp tay diệt trừ tham nhũng mà không làm theo phát động hình thức. Cập nhật vào đó, hình ảnh được nhìn thấy là những ngôi biệt thự sang trọng đồ sộ đáng giá hàng tỉ đồng của đảng viên chức quyền từ trung ương đến tỉnh, huyện… Tố cáo trực tiếp bằng chứng cứ hình ảnh là cách phòng chống tham nhũng hữu hiệu cần phát huy.

Một kết quả điều tra trên thế giới nêu danh 10 vị nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo cao cấp tham nhũng và độc tài, trong đó đáng chú ý là hai quốc gia châu Á. Cựu Tổng thống Indonesia Mohamed Suharto đã tìm mọi cách để tại vị qua 5 đợt bầu cử với 31 năm cầm quyền, tham nhũng hơn 35 tỉ USD. Cựu Tổng thống Philippines Joseph Estrada nắm quyền năm 1998. Tháng 11-2000, ông bị quốc hội tố cáo tham nhũng. Năm sau, cuộc nổi dậy của nhân dân và quân đội lật đổ ông. Estrada phải ra tòa vì tội tham nhũng 81 triệu USD, rửa tiền, cản trở thi hành pháp luật. Phiên tòa kéo dài 6 năm vì ông viện lý do sức khỏe, vắng mặt khi bị triệu tập. Tháng 9-2007, Tòa án tối cao Philippines kết án ông tù chung thân tại nhà, nộp lại cho công quỹ 15,5 triệu USD và bị tịch thu một khu biệt thự. Estrada kháng án, Tổng thống kế nhiệm Gloria Arroyo ký lệnh ân xá, nhưng thể chế độc tài vẫn để lại tội ác trước nhân dân, lịch sử dân tộc và cả nhân loại.

Biện pháp nêu đích danh tham nhũng nói lên nhiều điều. Thứ nhất, các quốc gia diễn rat ham nhũng tràn lan đều chưa tiến bộ hay đời sống dân chủ chưa được mở rộng. Thứ hai, khuynh loát ngay từ khâu bầu cử đã lộ rõ ý đồ muốn kéo dài quyền lực, để tiến tới lạm quyền. Thứ ba, để tiếp tục độc quyền, không còn con đường nào khác là gian lận và trấn áp. Thứ tư, các nước này có thể là một đảng hoặc đa đảng nhưng nhìn chung đảng cầm quyền đã cố tạo ra môi trường duy nhất và luôn nắm giữ pháp luật. Thứ năm, không phân biệt bất cứ thể chế nào, tham nhũng và độc tài đều sập đổ như nhau. Cuối cùng, xét xử của nền dân chủ pháp trị là công bằng.

Soi vào thực trạng tham nhũng lạm quyền ở Việt Nam đều có đủ biểu hiện trên. Có thể mỗi thể chế khác nhau về hoàn cảnh, nhưng cơ bản là diễn biến trong xã hội Việt Nam đang theo xu hướng đó. Bài học từ Indonesia nửa thế kỷ trước đang tái lặp qua hình thành và hoạt động của nền kinh tế phe cánh “Tư bản đỏ”. Cho nên, biện pháp quan trọng để đẩy lùi tham nhũng lạm quyền là mở rộng dân chủ xã hội, mở rộng quyền phản biện và đối lập, xây dựng cơ chế minh bạch để giới hạn và kiểm soát hoạt động nhà nước, loại trừ quyền lực bao trùm của đảng phái chính trị duy nhất lên nhà nước và toàn xã hội. Muốn phòng chống tham nhũng có hiệu quả, không còn cách nào khác là phải hình thành những lực lượng khác nhau cùng bảo vệ quyền lợi cộng đồng, quốc gia.

 

Kịp thời chấn hưng giáo dục

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu nguyên nhân yếu kém của ngành do thiếu chế tài, chưa coi chất lượng giáo dục là mục tiêu cao nhất của quản lý. Vì vậy, cần gắn kinh phí đầu tư ngân sách với chất lượng, xây dựng và ban bố chuẩn đầu ra, xác định chuẩn giáo viên đồng thời giảng viên phải được đánh giá kết quả hằng năm, gắn chỉ tiêu tuyển sinh với chất lượng, giao quyền tự chủ trong việc quyết định mức lương trả cho từng giảng viên theo năng lực, bảo đảm trang thiết bị đầy đủ, phải kết nối internet và hình thành hệ thống thư viện điện tử giúp sinh viên tiếp cận với thông tin…

Nhiều nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học đã đề nghị các giải pháp chấn hưng toàn diện đối với giáo dục. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cần phải kiện toàn Hội đồng giáo dục quốc gia, chỉnh sửa hệ thống chương trình giáo dục và sách giáo khoa, tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân hợp lý. Cần phát hiện và tuyển chọn nhân tài, có kế hoạch hợp lý đào tạo trong và ngoài nước để sớm có đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao. Chủ trương ưu tiên ngân sách đầu tư giáo dục là thích đáng, nhưng cũng cần xem xét quản lý và đánh giá, thay vì dùng tiền thiếu hiệu quả như lâu nay. Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, cần tăng cường phạm vi quyết định cá nhân và thu hẹp quyền hạn quyết định của nhà nước trong lĩnh vực phúc lợi, kể cả giáo dục. Nhà nước không nên tiếp tục độc quyền sở hữu và kiểm soát giáo dục mà mở ra môi trường cạnh tranh, khuyến khích. Trên cơ sở đó, nhà nước thiết lập khuôn pháp luật, giám sát và hỗ trợ thực hiện định chế đề ra. Mặt khác, nguồn thu vào từ thuế và đầu tư lại cho xã hội, trong đó có giáo dục, cần hài hòa minh bạch… Trong cuộc tọa đàm do VietNamNet thực hiện tháng 7-2009, ông Vũ Khoan nêu quan điểm: “Giáo dục phải được hiểu theo nghĩa rất rộng là giáo dục 90 triệu con người Việt Nam thành những con người của xã hội công nghiệp và hiện đại”.

Nhiều tiếng nói cũng đề nghị cần xây dựng lại giáo dục từ gốc, thay đổi tư duy giáo dục, mục tiêu yêu cầu đào tạo và toàn bộ tổ chức giáo dục; tạo ra cơ hội bình đẳng về học tập và thành đạt cho mọi đối tượng theo đúng nghĩa công bằng xã hội; tôn trọng và phát triển cá tính trong việc đào tạo tài năng; khắc phục bình quân chủ nghĩa; sử dụng internet và công nghệ thông tin rộng rãi. Về giáo dục phổ thông, cần cải cách việc thi cử và đánh giá chất lượng, hạn chế chương trình nặng nề, xóa dạy thêm học thêm tràn lan, đổi mới phương pháp giảng dạy, chỉnh đốn ổn định sách giáo khoa, đổi mới đào tạo giáo viên. Về giáo dục đại học, cùng với cải tiến thi cử và đánh giá tín chỉ học phần, cần chấn chỉnh việc đào tạo và công nhận học hàm học vị thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư bằng cách trả lại quyền độc lập quyết định chuyên môn của hội đồng chức danh giáo sư cho các trường đại học và viện nghiên cứu.

Những ý kiến trên lần nữa cho thấy yếu kém của ngành giáo dục hầu hết là chủ quan, đề bạt tuyển chọn người xây dựng chủ trương, quản lý và thực hành công tác giáo dục trước hết vì mục tiêu “hồng” về chính trị lên các thế hệ học sinh sinh viên. Nguyên nhân và biện pháp đã rõ, vấn đề là việc thực hiện có triệt để, tránh được đối phó hình thức hay không. Mặt khác, chúng ta cũng cần xem lại cách tư duy giải quyết vấn đề trì trệ ở Việt Nam lâu nay. Việc xác định nguyên nhân và giải pháp hầu hết nghiêng về tính lý luận, chỉ ra sai phạm cũng tập trung vào chủ trương đường lối vốn chỉ lý luận. Việc tiếp cận thực tiễn một cách thiết thực, cụ thể… dường như vẫn còn có khoảng cách, chưa thoát khỏi tư duy tiểu nông thiếu phân định rạch ròi. Hãy tham khảo một cách tư duy khác. Năm 1990, UNESCO đưa ra bốn cải cách giáo dục: “cách nhìn mới – cách nghĩ mới – kiến thức mới – kỹ năng mới”. Năm 1996, tổ chức này lại xác định mục tiêu việc học trong thế kỷ tới: “Học để biết – học để làm – học để sống – học để cùng chung sống”. Những mục tiêu trên cũng là nhiệm vụ, từ đó mỗi quốc gia đề ra tiêu chí và định chuẩn cụ thể, dễ nhớ dễ làm, có căn cứ để kiểm tra giám sát, cùng thông số khi tham gia hội nhập. Việc đầu tiên nhìn vào vấn đề là tìm ra nhiều chi tiết theo lối tư duy tổng hợp, thay vì trước hết phải lập hệ thống khung và phát hiện chọn ra một số tiêu điểm có thể hội tụ từng nhóm vấn đề chi tiết. Tư duy này trong giáo dục không thể khác hơn khi tất cả các văn kiện, chương trình, kế hoạch quan trọng định hướng từ Đảng và Nhà nước Việt Nam lâu nay đều như vậy.

Trong hai mươi năm đến, khối Liên minh châu Âu cần 20 triệu lao động nhập cư có tay nghề cao và đã quan tâm “đặt hàng” từ những trung tâm đào tạo và hành nghề công nghệ thông tin nổi tiếng ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… Còn ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đến gõ cửa chỉ để “đặt hàng” tuyển dụng lao động trẻ và rẻ, lao động gia công bằng cơ bắp, thể lực. Có người đã đặt câu hỏi không biết bao giờ Việt Nam mới thoát khỏi cái cảnh “chỉ biết đạp máy may”. Xuất khẩu lao động Việt Nam sang các nước khác chủ yếu cũng lao động tay chân và các hạng mục công việc dịch vụ, phục vụ.

Sở dĩ có tình trạng đó là do lao động trẻ không được đào tạo tay nghề và không được trang bị hiểu biết cần thiết để có thể hội nhập. Chứng minh: Việt Nam có 2% dân số được học trên 13 năm, 10% độ tuổi 20-24 được đi học đại học, xếp cuối các nước châu Á. Số liệu của ngành giáo dục năm 2006 về tình hình trong nước: 63% sinh viên ra trường không có việc làm, xin được việc làm cũng phải đào tạo lại do trái với ngành nghề và kiến thức. So sánh số lượng bài báo đăng các tạp chí nghiên cứu khoa học quốc tế 2006: Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) 332 bài, còn các đại học Việt Nam chỉ từ 5 đến 7 bài. Trong 10 năm qua, Việt Nam gửi khoảng 80 bài, nhưng các bài phải hợp tác với nước ngoài hoặc thực hiện ở các nước tiên tiến chiếm gần 70, số bài tự nghiên cứu trong nước chỉ trên 10.

Hàn Quốc năm 1948 không khác xuất phát điểm Việt Nam: 78% dân số mù chữ, nhà nước chưa đủ khả năng bao cấp giáo dục tiểu học. Năm 1975, Hàn Quốc quyết định dành 13,9 % ngân sách cho giáo dục, năm 1986 tăng tỉ lệ ngân sách đầu tư giáo dục lên 27,3 %. Hiện nay, với mức ngân sách đầu tư cao, học sinh được miễn phí giáo dục toàn bộ từ khi vào mẫu giáo đến hết 16 tuổi, chất lượng giáo dục vượt trội đưa đến tỷ lệ học sinh vào đại học và cao đẳng không thua kém Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Cả xã hội học thêm tiếng Anh, các thị trấn lớn có trường ngoại ngữ chính quy và các câu lạc bộ rèn kỹ năng nói – viết. Vì thế, sinh viên sau khi tốt nghiệp thường tìm được việc làm gắn liền với guồng máy kinh tế hội nhập. Ở những thời điểm trên và cả hiện nay, Việt Nam đã không có chủ trương và giải pháp tích cực cho giáo dục, chứ không phải không có ngân sách hay các điều kiện.

Tiến sĩ toán học Lê Tự Hỷ, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm tại Sài Gòn có một chuyên luận công phu sau nhiều năm khảo cứu giáo dục Hoa Kỳ và Thụy Điển. Theo chuyên luận, Bộ Giáo dục Thụy Điển tiến hành cải cách giáo dục từ mẫu giáo đến trung học phổ thông, ưu tiên trang bị kiến thức hướng tới hình thành lực lượng lao động đáp ứng nền kinh tế toàn cầu. Học sinh được hướng dẫn lập kế hoạch học tập và nghiên cứu, chịu trách nhiệm và bảo vệ kết quả nghiên cứu của mình. Không có học sinh nào phải nghe thầy cô một chiều mà không kiểm định lại thông tin. Ngay từ nhỏ, các em đã được đặt vào môi trường dân chủ, tự quyết định việc học theo cách của mình.

Về đào tạo đội ngũ lao động, mỗi trường ở cấp trung học phổ thông Thụy Điển đã là trường đào tạo tổng hợp với 16 chương trình hướng nghiệp. Bộ Giáo dục chỉ ban hành đề cương tổng quát, giáo viên hướng dẫn mỗi chương trình được quyền quyết định hình thức, phương pháp truyền đạt cùng với ý kiến từ học sinh. Việc đào tạo người lao động trong nền kinh tế toàn cầu có bốn chỉ tiêu: làm việc theo nhóm (teamwork), rèn luyện kỹ năng kỹ thuật thực dụng (pragmatic technical skills), tập giải quyết vấn đề (problem solving), tinh thần dám nghĩ dám làm trong doanh nghiệp (entrepreneurship). Ngay những môn học chính cũng được hướng dẫn trong môi trường nghề nghiệp hoặc tình huống thực tế. Sau tốt nghiệp trung học phổ thông, 2/3 học sinh Thụy Điển có thể tiếp cận, tham gia ngành nghề, việc làm.

Trong khi đó, hướng nghiệp giáo dục ViệtNamchỉ là những lý thuyết học qua vài ngành nghề thủ công dịch vụ khu vực vùng miền, không đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động toàn cầu. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, các em mới học ngành nghề ở các trường đào tạo chính quy hoặc học nghề tự do. Rất ít ngành nghề đáp ứng nhu cầu mới, chỉ hầu hết tham gia vào các khâu dịch vụ sửa chữa, phục vụ. Hàm lượng chất xám lao động và kết tinh trong sản phẩm làm ra hầu như thấp. Không ít thanh niên độ tuổi lao động do không được trang bị nghề nghiệp nên không có việc làm, khái niệm thất nghiệp trở nên vô nghĩa. Đa số làm công nhân khu vực kinh tế tư nhân các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, chấp nhận bị bóc lột.

Mặt khác, “tôn sư trọng đạo” từ chỗ là tình cảm và đạo lý truyền thống, đã bị sử dụng để áp đặt chính trị lên học sinh sinh viên, nội dung bài giảng buộc phải tiếp nhận bị động và học thuộc chỉ để trả bài. Chủ thuyết giáo dục ở ViệtNamlà xây dựng con người mới XHCN, trong khi mô hình xã hội còn chưa rõ ràng. Nhân tố con người quyết định phát triển xã hội bị đổi chiều thành xã hội quy định tạo ra chỉ một mẫu người. Tất cả tập trung “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” trên cơ sở chọn lọc lý lịch, đưa vào các vị trí chủ chốt, công nhận học hàm học vị để nắm quyền quản lý. Nền giáo dục chỉ nhằm đáp ứng nhân lực cho nhu cầu chính trị, mà nhu cầu đó không ngoài củng cố thể chế. Giáo dục cần phải được trả lại cho chủ thể của nó là trí thức. Ba trăm năm gồm bao nhiêu vị vua tại vị trên một chiếc ngai vàng đi qua, để lại 82 bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, là di sản của cha ông cũng đồng thời của nhân loại, cho thấy không phải là thể chế cố tạo ra dấu ấn, nhân tài mới là vốn quý của cả dân tộc.

Năm 2004, Đại học Giao thông Thượng Hải công bố danh sách 500 trường tốt nhất thế giới dựa theo thành tích nghiên cứu khoa học của giảng viên và cựu sinh viên đã có việc làm. Trong 35 quốc gia có tên trong danh sách, Hoa Kỳ đứng đầu với 170 trường, Nam Phi có 4 trường, các trường của Pháp và Đức xếp sau hạng 40, Nhật Bản và Úc chiếm hơn 40/89 trường ở châu Á. Gần một nửa số còn lại thuộc Trung Quốc, Singapore, Israel, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, New Zealand, Ấn Độ. Nghiên cứu cho thấy các trường tốt nhất của Trung Quốc chỉ được ghi danh sau hàng thứ 200. Từ kết quả nghiên cứu, Chính phủ Trung Quốc quyết định không những miễn phí giáo dục phổ cập toàn quốc mà còn dành 223,5 tỉ nhân dân tệ hỗ trợ hơn 150 triệu gia đình nghèo để con em được học tiểu học, trung học. Trường đào tạo nghề được lập đến tất cả các địa phương. Sau thời gian ngắn, Trung Quốc chấm dứt tình trạng thiếu thợ có tay nghề kỹ thuật (Khi ký hợp đồng khai thác bauxite và công nhân Trung Quốc kéo sang, Chính phủ Việt Nam mới nhận thấy thêm một hậu quả của giáo dục những năm qua và cấp tốc huy động nhiều thanh niên địa phương đi đào tạo nghề).

Năm 2007, Đại học Giao thông Thượng Hải tổ chức xếp hạng trên 2.000 trường đại học. Trong danh sách 500 trường hàng đầu thế giới và 100 trường hàng đầu châu Á – Thái Bình Dương, lại cũng không có Việt Nam. Những danh sách xếp hạng từ các cuộc nghiên cứu sau đây càng không có tên đại học nào của Việt Nam: tạp chí Times Higher Education Supplement (THES) xếp hạng 200 trường chất lượng đào tạo tốt; Hội đồng đánh giá và kiểm định giáo dục đại học Đài Loan xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu về năng lực và mức độ thành công, tác động của sản phẩm khoa học và công trình nghiên cứu; Webometrics xếp hạng 100 trường đại học châu Á – Thái Bình Dương về nội dung học thuật và nghiên cứu khoa học được đăng tải trên website của các trường và trên mạng internet…

Vì sao Việt Nam chưa bao giờ dám vươn ra thế giới, tự tổ chức một cuộc nghiên cứu xếp hạng kiểm định chất lượng và giá trị của mình? Điều đó chỉ có thể được giải thích do né tránh lãnh nhận hậu quả đã gây ra trong quá trình chính trị hóa giáo dục, sử dụng trí thức, nhất là các lĩnh vực nghiên cứu xã hội, bảo vệ chế độ hơn là vì mục tiêu dân sinh. Chủ trương xây dựng bốn trường đại học chất lượng cao cạnh tranh với thế giới vừa chủ quan và thiếu căn cứ, chỉ nhằm xoa dịu công luận phê phán giáo dục mà một người dân ở trình độ thấp truy cập mạng đều biết thực trạng và nguyên nhân. Ở đây, chúng ta không bàn về khả năng Việt Nam có xây dựng được trường đại học chất lượng cao hay không, vấn đề là một học đường như thế có chấm dứt tình trạng chính trị hóa giáo dục như từ trước đến nay hay không.

Để nằm vào danh sách xếp hạng các trường đại học chất lượng và đủ sức cạnh tranh giáo dục, Việt Nam phải cải tiến mục tiêu và nội dung đào tạo theo những nền giáo dục tiên tiến và xu hướng tri thức hóa toàn cầu. Cách kiểm định bằng xếp loại dù sao cũng hoàn toàn công khai và khách quan, trong khi các đoàn kiểm tra ngành giáo dục thực hiện đánh giá chất lượng dạy và học hiện nay trong nước chỉ là thống nhất kết quả hầu hết không thật, dẫn đến bệnh thành tích, bao che và bưng bít trong hệ thống vô cùng nguy hiểm! Dám tham gia và tổ chức đánh giá xếp loại là bản lĩnh dám bước vào sân chơi lớn, thấy người ngẫm mình, điều chỉnh kịp thời yếu kém. Nền giáo dục XHCN Việt Nam chỉ có thể thực hiện được điều này khi xác lập trở lại nền giáo dục Việt Nam.

Một bài học khác từ Cộng hòa liên bang Đức. Ngành giáo dục mới sau khi nước Đức tái thống nhất hoàn toàn không phân biệt ý thức hệ hay phủ định loại bỏ các yếu tố cũ có tác dụng tốt. Chính phủ đã tiếp nhận cả hai mô hình giáo dục: hệ thống chương trình như nhau ở Đông Đức và đa cấp đa thành phần ở Tây Đức. Để điều chỉnh phù hợp với tiêu chuẩn giáo dục châu Âu và thế giới, chính phủ nêu ra quan điểm chú trọng tìm kiếm ưu điểm, loại bỏ hạn chế từ cả hai mô hình bằng tiếp cận đánh giá một cách khoa học và khách quan, kết hợp giữ lại kiến thức cũ nhưng cần thiết trang bị đầu đời cho bất kỳ một công dân tương lai đồng thời với cập nhật đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất vào chương trình. Vì thế, giáo dục được cấu trúc và vận hành hiệu quả chỉ trong thời gian ngắn: trong 250 trường đại học cả nước có nhiều trường nổi tiếng ở Berlin, Frankfurt (Oder), Heidelberg, Frankfurt am Main, Zittau, nước Đức đứng thứ ba trên thế giới về thu hút du học sinh hiện nay. Từ cách xây dựng và thành quả của nền giáo dục mới ở Đức, giáo dục Việt Nam cần nhìn lại chủ trương phân biệt ý thức hệ và chính trị hóa hàng chục năm nay.

Năm 1990, cải cách giáo dục ở Bulgaria được tiến hành nhưng học sinh không theo kịp. Ngành giáo dục không được giao quyền lực và trách nhiệm đầy đủ, xã hội không được tham gia kiểm soát và đánh giá hiệu quả, nhiều vấn đề trong quá trình cải cách không được minh bạch, một bộ phận bảo vệ quyền lợi cá nhân còn cản trở… Hậu quả là năm 2003, học sinh trung học Bulgaria đứng thứ 33/41 nước về xếp hạng kiến thức, 25% học sinh dân tộc ít người và vùng nông thôn bỏ học, diễn ra nhiều bất cập giữa tay nghề – học vấn – nhu cầu của thị trường lao động. Năm 2005, sửa sai cải cách giáo dục bắt đầu. Bulgaria chủ trương tham khảo, áp dụng ưu điểm mô hình giáo dục nuớc láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ một thời gian, đất nước này đạt thành quả đáng kể. Năm 2004, trình độ cao đẳng và đại học chiếm 22%, năm 2008 tăng lên 29%. Ở thời điểm Bulgaria gia nhập Cộng đồng châu Âu, gần 80% dân số trong độ tuổi lao động tốt nghiệp trung học và đại học. Các nguồn vốn vay đầu tư cho giáo dục đã hạn chế tình trạng thất thoát và sử dụng thiếu hiệu quả, việc vay trả được tính toán nhanh gọn. Đây là bài học đối với rất nhiều đợt cải cách giáo dục ở Việt Nam vẫn cứ sai lầm.

 

Quan tâm an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng

Bức tranh của an sinh xã hội hiện nay nổi lên nhiều gam màu báo động. Theo thống kê, trong 4% ngân sách dành cho an sinh xã hội thì 2/3 dùng vào bảo hiểm dài hạn như trợ cấp thương binh và gia đình liệt sĩ, lương hưu cho công chức… trong khi nhóm hộ gia đình này thường không khó khăn. Những người thu nhập thấp phần lớn từ nông thôn tự phát tập trung về thành thị, do không đáp ứng yêu cầu có nơi cư trú và hộ khẩu ổn định nên vẫn nằm ngoài danh sách được hưởng dự án, công trình hay những hình thức trợ giúp khác. Người nghèo ở nông thôn và miền núi không có điều kiện mua bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội nên càng không thể thụ hưởng lợi ích từ đóng góp chung toàn xã hội mà mọi người có thể san sẻ cho nhau. Đó là chưa kể tình trạng người nghèo phải trả quá nhiều khoản phí, nhất là giáo dục, y tế, các cuộc vận động đóng góp hàng năm tại địa phương.

Hãy nhìn vào ba đối tượng đáng được hưởng chính sách an sinh xã hội. Trẻ em: Việt Nam là nước có nhiều nhất các dạng trẻ em đặc biệt khó khăn: trẻ cơ nhỡ bị bỏ rơi, sống vỉa hè đường phố, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, bị ngược đãi hành hung, bị lạm dụng sức khỏe nhiều mặt, sống trong gia đình nghèo suy dinh dưỡng và gia đình không ổn định, mồ côi khuyết tật và bị bệnh nan y, sơ sinh bị bỏ rơi, sống ở các trung tâm xã hội và cơ sở thiện nguyện, bị bắt và bán ra nước ngoài… Con số cả nước chưa thống kê đầy đủ nhưng chắc chắn có cả hàng triệu. Câu hỏi đặt ra là: xã hội vẫn tiếp tục tổ chức hoạt động từ thiện giúp đỡ hay phải tìm nguyên nhân khắc phục không để các em tiếp tục bị bơ vơ, bị đẩy ra khỏi vòng tay bảo vệ chăm sóc của người lớn, rơi vào xã hội quá sớm một cách vô thừa nhận, tạo điều kiện cho các em tái hòa nhập gia đình? Người cao tuổi: có xu hướng đơn côi, gần một nửa chưa được nghỉ mất sức ở tuổi 70 – 75, không ít ông bà cụ trong những chiếc xe lăn, trên tay là xấp vé số, đằng sau là những người khỏe mạnh đẩy đi bán hoặc sáng đưa đi chiều mang về theo kiểu chăn dắt. Người khuyết tật: hơn 5 triệu người khuyết tật chiếm 6,3 % dân số nằm trong gần 8% hộ gia đình nghèo; đã khuyết tật vẫn bị ngầm phân biệt lý lịch qua chính sách trợ cấp xã hội; một cuộc điều tra ở bốn tỉnh các miền cả nước cho thấy gần 75% người khuyết tật 15 tuổi trở lên không có việc làm phải sống trong điều kiện tạm bợ; không ít người khuyết tật phải tự xin ăn và vẫn tồn tại kỳ thị xem người khuyết tật dựa dẫm ỷ lại, đáng phải chịu số kiếp, bị lăng mạ hoặc bỏ mặc không chăm sóc, không cho ăn, khóa nhốt riêng một chỗ…

Về sức khỏe cộng đồng, riêng ở học đường đã có khoảng 20% học sinh bị cong vẹo cột sống, cận thị do kích thước bàn ghế, tư thế ngồi, ánh sáng, mang vác nặng…. Các trường học đều thiếu cán bộ y tế có chuyên môn, 5 nội dung và 8 nhiệm vụ y tế học đường không được triển khai thường xuyên. Phương tiện thông tin đại chúng cho thấy các vụ ngộ độc thực phẩm, buôn bán thực phẩm không rõ nguồn gốc, bị hôi thối, chế biến không đảm bảo, ăn uống vỉa hè lề đường ô nhiễm bụi bặm, ruồi nhặng cùng các yếu tố mất vệ sinh. Đừng nghĩ rằng nhận xét của khách du lịch: “Việt Nam là bếp ăn của thế giới” chỉ hàm chứa khen ngợi, từ đó mà cứ tự hào quảng cáo món ăn Việt!

Cục An toàn vệ sinh thực phẩm kiểm tra gần 100 mẫu thực phẩm bày bán, kết luận hầu hết bị ô nhiễm nặng. Ớt bột bị trộn màu công nghiệp quá mức cho phép, trái cây bị “tắm” trong hóa chất giữ độ tươi, mỡ nhiễm bẩn và đã cháy đem tái chế dùng lại, nước giải khát chế biến thủ công có chất ung thư dạ dày, các loại rau củ quả thực phẩm không có giấy chứng nhận rõ nguồn gốc, tinh men pha nước lã thành rượu gây nhiều vụ đột tử và ngộ độc, thực phẩm chế biến có hàn the, gà đông lạnh nằm tồn kho cả năm mang ra bán, nhiều cơ sở giết mổ lậu không đảm bảo vệ sinh… Tất cả những thực phẩm trên được ăn uống thì rõ ràng bệnh theo miệng mà vào.

Mặt khác, môi trường sống bị ô nhiễm từ đất đai, không khí, nguồn nước, tiếng ồn, đến các loại dịch bệnh lây lan… tác hại lớn đến sức khỏe. Hiện nay, 80% người bệnh bị “nhờn” các loại thuốc do bán – mua sử dụng không qua khám và kê toa từ bác sĩ, khi đã bệnh nặng chữa trị thêm khó khăn. Một hiện tượng khác ai cũng thấy nhưng không ai lên tiếng là 53% người hút thuốc lá, hầu hết nơi đông người, làm cho ít nhất 20% người không hút hít phải thụ động khói thuốc. Đầu năm 2010 nhà nước lại có văn bản quy định phạt tiền đối với người hút thuốc nơi công cộng, nhưng không ai quan tâm và vẫn tiếp tục chẳng thu được một đồng nào tiền phạt! Nhiều vùng từng xảy ra dịch cúm gia cầm, nhưng lực lượng đủ để quản lý tiêm phòng, kiểm tra mua bán và giết mổ chặt chẽ là chuyện không dễ. Trước đây, vào thời kỳ khó khăn, tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ lớn, nay vẫn chưa khắc phục hết… Khi phương tiện thông tin đại chúng cảnh báo hiện trạng trên thì đã là lúc chính thức họa theo miệng mà ra!

Một thời gian dài, chủ trương xây dựng nhà ở chung cư cho người thu nhập thấp không được quan tâm. Khi bắt đầu thực hiện, ngay khâu phân phối đã có đăng ký mua đi bán lại lấy lãi. Hàng triệu công nhân các đô thị Việt Nam ở thuê những xóm nhà trọ tư nhân, để có được căn hộ chung cư có lẽ chỉ là giấc mơ cổ tích! Ngay cả chính sách xóa đói giảm nghèo là chủ trương đúng nhưng cũng có bất cập: tạo ra cơ sở gì lâu dài ổn định cuộc sống sau “cú hích” ban đầu, một bộ phận thu nhập ở mức trung bình không phải đã hết khó khăn nhưng không được thụ hưởng quyền lợi này, chuẩn quy định diện đói nghèo vừa cứng nhắc lại vừa bị lợi dụng nhiều mặt… Vì sao có lãnh đạo đảng – chính quyền muốn địa phương được ghi danh vào diện đói nghèo, vào rồi lại không muốn xóa khỏi danh sách, nếu không phải đó là biểu hiện mới của thụ động ỷ lại chờ sung rụng?  

Lãnh đạo đất nước cần điều chỉnh lại chính sách an sinh xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng một cách bao quát, cân bằng trên các lĩnh vực và đối tượng, nhất là tập trung cho đối tượng không được nhận sự trợ giúp. Về chính sách vĩ mô, an sinh xã hội cần có một bộ ngành quản lý và xúc tiến triển khai thay vì ghép vào ngành lao động thương binh xã hội đã quá tải như hiện nay. Mặt khác, cần liên kết các nỗ lực toàn xã hội, hạn chế tính bất cập và thiếu đồng bộ, cần thuờng xuyên huy động nhiều nguồn lực, vốn vay ưu đãi phải đầu tư đúng hướng. An sinh xã hội và sức khỏe cộng đồng là quyền cơ bản mà con người được hưởng thụ trong xã hội văn minh, không phân biệt thể chế và đối tượng ưu tiên. Lĩnh vực này phải tạo ra tinh thần đoàn kết, chia sẻ và tương trợ khi gặp rủi ro. Việt Nam cần có những chương trình thực tiễn, không để người dân bị đói (zero hunger program) và trẻ em không được đến trường (no child left behind). Từ đó, chính sách mới tạo ra sự đồng thuận, bình đẳng và công bằng, tăng cường chất lượng sống. Một hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng tốt sẽ nâng cao năng suất lao động, làm nền móng vững chắc cho phát triển kinh tế xã hội. Đó mới cũng là thước đo đánh giá xã hội ưu việt, nhân văn.

Quyền được lập các hội đoàn

Những cuộc đình công của công nhân gần đây xảy ra khá phổ biến, số lượng lớn, cho thấy quyền lợi công nhân ngày càng bị xâm phạm nặng nề. Theo lý luận Mác-xít, đình công chỉ có ở giai cấp vô sản bị bóc lột trong chế độ TBCN. Vậy đình công hôm nay đòi hỏi quyền lợi bị mất, thuộc xã hội nào và công đoàn có vai trò và trách nhiệm gì trước bóc lột diễn ra? Không ít công nhân bị giới chủ trả lương thấp và không đúng hạn, thời gian làm việc tăng lên, các khoản trợ cấp giảm, điều kiện lao động không được cải thiện, thậm chí bị trừ lương, nhục mạ nhân phẩm và danh dự… Trẻ em dưới tuổi lao động phải đi làm tạo thu nhập gia đình, bị khai là học việc thay vì ký hợp đồng lao động nên pháp luật không thể can thiệp. Khái niệm người làm công mùa vụ thay cho công nhân ổn định khi hợp đồng lao động được ký thành nhiều lần trong năm, qua đó giới chủ hạn chế chi phí trả bảo hiểm và các khoản phúc lợi.

Tháng 7-2008, hơn 10.000 công nhân công ty sản xuất giày ở Đồng Nai đình công đòi tăng lương. Cùng lúc, hàng nghìn công nhân công ty giày tại Bình Dương cũng yêu cầu tăng lương và phụ cấp. Tính cả năm 2008, cả nước có 650 vụ đình công, tăng 30% so với 2007. Năm 2009, hàng ngàn công nhân tại công ty giày Sun Jade ở Thanh Hóa bãi công để phản đối cách cư xử của cán bộ công ty, hơn 1.000 công nhân công ty giày Bolchen ở Sài Gòn đòi tăng lương và cải thiện các chế độ. Riêng ở Sài Gòn, trong hai năm 2008 – 2009 diễn ra 120 cuộc đình công đòi tăng lương. Tháng 2-2010, hơn 10.000 công nhân khu sản xuất giày da Mỹ Phong ở Trà Vinh đình công nhiều ngày do bất bình chính sách khen thưởng cuối năm. Tháng 3-2010, hơn 2000 công nhân khu chế xuất Pouchen ở Đồng Nai đình công phản đối công đoàn không bênh vực công nhân khi bị trả lương thấp và bị sách nhiễu. Hầu hết các cuộc đình công diễn ra ở các công ty nuớc ngoài vào đầu tư, tổ chức công đoàn chỉ xuất hiện sau khi công nhân đã bị bóc lột, chèn ép và có hành động phản ứng quyết liệt.

Theo thống kê tháng 4-2009, toàn quốc có 41 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 51% dân số. “Tỉ lệ vàng” ấy cũng đặt ra bài toán khó khăn không những giải quyết việc làm mà còn bảo vệ quyền lợi người lao động khỏi bị bóc lột. Khoảng 70.000 tổ chức công đoàn cơ sở thuộc hệ thống chính trị hiện nay không thể bao quát hết phạm vi khu vực, ngành nghề và số lượng công nhân. Năm 2009, Sài Gòn có gần 2 triệu người lao động, trong đó một nửa làm việc ổn định ở các doanh nghiệp, công ty, nhà máy. Công đoàn kết nạp hơn 700.000 công đoàn viên sinh hoạt trong gần 7.000 tổ nhóm, chỉ quản lý hơn 1/3 công nhân (chưa kể trong số này, nhiều cơ sở tồn tại hình thức mà không có hoạt động bảo vệ quyền lợi và nâng cao hiểu biết mọi mặt cho công nhân, nhất là hiểu biết pháp luật). Ai là người kề vai sát cánh với công nhân trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi này?

Trước hết, hãy nhìn vào nhóm lãnh đạo các công đoàn cơ sở. Họ là người của giới chủ cử ra và được Liên đoàn lao động cấp trên chuẩn y qua kết quả đại hội. Mặt khác, điều 10 Hiến pháp 1992 khẳng định công đoàn là tổ chức chính trị xã hội, cho nên phải thực hiện những nhiệm vụ: ôn truyền thống và tổ chức hoạt động văn hóa thể thao nhân các ngày lễ, thăm dò tình hình tư tưởng công nhân, chống đấu tranh từ kinh tế chuyển sang đòi hỏi quyền lợi chính trị, ghi nhận đăng ký bãi công đình công để dàn xếp theo luật định… Khác với nghiệp đoàn độc lập của công nhân các nước TBCN, đại diện công đoàn cơ sở ở Việt Nam là “cầu nối” mà một đầu gắn với quyền lợi kinh tế từ giới chủ, một đầu gắn với nhiệm vụ chính trị; tất cả chỉ biết tuân thủ mà không gắn kết với quyền lợi công nhân. Nếu quan sát, sẽ thấy người đứng đầu các công đoàn là thành viên trong “bộ tứ” không khác thời bao cấp.

Những công nhân đứng đầu kêu gọi đấu tranh thường bị giới chủ theo dõi, cách ly, thôi việc. Biểu tình, đình công cũng cho thấy hầu hết chỉ ý thức đòi lại quyền lợi trực tiếp mà không được trang bị hiểu biết pháp luật, dân quyền, nhân quyền. Năm 1994, Bộ luật lao động được ban hành, đã ba lần sửa đổi bổ sung vẫn bất cập. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn dưới luật lại mang giải pháp tình huống, sự việc và thời điểm, càng khó khăn trong hiểu và áp dụng vào các trường hợp khác nhau.

Thực tế cũng cho thấy nhà nước chưa có biện pháp mạnh và kịp thời trong việc điều chỉnh nhà đầu tư nhập khẩu công nghệ lạc hậu nhằm giảm chi phí, mở những ngành sản xuất gây hại nhiều mặt, khai thác lao động lao động trẻ với giá rẻ và không quân tâm đào tạo nâng cao tay nghề, thuê đất dài hạn và nộp thuế với giá thấp… Nhiều vấn đề khác cũng bị bỏ ngỏ: an ninh sinh hoạt và cư trú ở những xóm nhà trọ không được quan tâm, chuyển dịch lao động giữa nông thôn – thành thị, giữa giới tính nam – nữ mất cân đối, tập trung cục bộ số lượng lớn trên một địa bàn, đời sống học tập và văn hóa tinh thần thấp, đảm bảo an sinh lâu dài khi công nhân lớn tuổi hầu như không có… Khi bùng nổ sử dụng lao động trẻ, nhà nước đã không tham khảo các nước, dự đoán thực tế diễn ra và chuẩn bị phương án, rào cản pháp luật để chủ động điều chỉnh và bảo vệ quyền lợi người lao động. Trong khi đó, trước số lượng lớn công nhân hình thành, Đảng cầm quyền chỉ chủ yếu quan tâm mở rộng ảnh hưởng chính trị lên một lực lượng mới trong xã hội.

Đó mới là những hậu quả càng đáng sợ hơn nhiều lần so với quyền lợi trước mắt công nhân bị mất. Vì vậy, cần nhìn nhận nghiêm túc vấn đề đại diện quyền lợi người lao động. Đó là quyền không phải ai khác ban phát hay giám hộ thay, mà phải trực tiếp từ công nhân, do công nhân tín nhiệm, bình chọn thủ lĩnh cho mình. Những năm 1930, phong trào “Vô sản hóa” len lỏi vào một số nhà máy, đồn điền để phát động đình công, biểu tình đòi quyền lợi công nhân. Ngày nay, khi Đảng Cộng sản đã hoạt động công khai, các công đoàn độc lập lại không được phép thành lập, việc bảo vệ quyền lợi công nhân chỉ còn là hình thức, đại diện công đoàn bị kẹp chặt giữa tiền của giới chủ và quyền của hệ thống chính trị ban cho. Điều đó biểu hiện thành quy định: chỉ có công đoàn cơ sở thuộc Liên đoàn lao động mới được pháp luật cho phép thành lập và hoạt động. Chủ trương cấm nghiệp đoàn độc lập không khác chính sách của các Toàn quyền Đông Dương giai đoạn đầu Pháp thuộc, trong khi lịch sử đã đi xa gần 100 năm.

Năm 2006, hai tổ chức công đoàn độc lập là “Hiệp hội đoàn kết công – nông”“Công đoàn độc lập” do công nhân tự thành lập, chẳng bao lâu phải giải thể vì không phải là “tổ chức chính trị xã hội” hợp pháp. Luật sư Lê Thị Công Nhân từng viết bài bênh vực người lao động cần có hội đoàn đại diện thì bị cấm đi dự hội nghị về quyền lao động của công nhân tổ chức tại Ba Lan. Xét trong “Tuyên ngôn nhân quyền” của LHQ lẫn Hiến pháp 1992, đây là điều vi phạm. Cho dù Bộ luật lao động đang được xây dựng lại hay quán triệt Nghị quyết 6 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” thì công đoàn hiện có cũng chỉ “lực bất tòng tâm”, nguyên nhân cơ bản của vấn đề vẫn không được giải quyết.

Chỉ còn giải pháp thực hiện như tất cả các nước: những nhóm người lao động khác nhau được quyền lập ra hoặc thuê luật sư bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời thông qua nâng cao hiểu biết nhằm trao luật pháp về tay người lao động. Trong quá trình đó, các cơ quan nhà nước bảo vệ người lao động bằng cơ chế, chủ trương, chính sách, hỗ trợ pháp lý hay những điều chỉnh tầm vĩ mô. Rộng rãi trong toàn xã hội, nhân dân cũng cần được quyền thành lập tổ chức thanh tra của chính mình, dưới sự trợ giúp của các đảng phái cạnh tranh chính trị khác nhau.

 

Tốt đạo đẹp đời

Theo lý luận Marx-Lenin, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, tôn giáo làm triệt tiêu đấu tranh giai cấp nên bị lên án, tôn giáo sẽ tự biến mất khi loài người tiến lên CNCS… Lý luận ấy là một sự miệt thị, xếp tôn giáo vào dạng hủ lậu, tàn dư, cản đường, từ đó gây nghi ngờ và mất lòng tin lẫn nhau. Trong lịch sử cận đại, Công giáo bị triều Nguyễn xem là dẫn đường cho đội quân xâm lược, từ đó bị biến thành kẻ thù. Ngày nay mà vẫn giữ lối suy diễn ấy là tiếp tục sai lầm, quy chụp chủ quan, lạm dụng và hẹp hòi, lấy hiện tượng cá lẻ kết luận bản chất, sai logic và đắc tội. Phái Bắc Tông đạo Phật từ Trung Hoa vào Việt Nam, không thấy cha ông ta chỉ trích dẫn đường đưa đến nghìn năm Bắc thuộc và các cuộc xâm lăng liên tiếp sau này. Đạo Phật đến nay có mặt ở nhiều vùng trên thế giới, không thấy quốc gia nào cô lập và tàn sát, ngoại trừ Taliban ở Apganixtan trước khi bị lật đổ. Tòa thánh Vatican từng răn dạy các nhà truyền đạo đầu tiên đến Việt Nam: “Các ngài hãy cẩn thận giữ mình, đừng ra sức bảo các dân tộc bỏ nghi lễ, tập tục, phong cách của họ”.

Trước đây, không phải chỉ nghe theo tuyên truyền mà hơn hai triệu đồng bào tôn giáo miền Bắc, chủ yếu là Công giáo “Theo Chúa vào Nam”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà thêm lần nữa nhiều giáo dân tìm cách chạy đến các quốc gia tôn trọng đạo giáo này sau khi đất nước thống nhất. Cũng sau năm 1975, tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị đàn áp và giải thể như đã đề cập. Các tôn giáo khác trong chế độ cộng sản là những vị tu hành cơ cấu vào Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam các cấp, để cho thấy về mặt hình thức là xã hội công bằng và tôn trọng tự do tín ngưỡng. Trong khi đó, Đảng Cộng sản lại có mục tiêu khác: “Do vị trí ảnh hưởng của các chức sắc, nhà tu hành đối với tín đồ và xã hội nên trong công tác tôn giáo nói chung, công tác quản lý Nhà nước nói riêng, việc tranh thủ các chức sắc, nhà tu hành rất quan trọng và cần thiết” [41]. Hiểu như thế nào về “việc tranh thủ” nếu không phải là chủ trương huy động tôn giáo làm chính trị? Dưới danh nghĩa đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản đang từng bước độc chiếm tôn giáo, mà nhân dân nôm na gọi là những tổ chức “tôn giáo quốc doanh”.

Chính sách tôn giáo từng thể hiện qua Nghị quyết số 24 năm 1990, Hiến pháp 1992. Tiếp theo, Nghị quyết số 25 năm 2003 nêu ra các quan điểm: tôn giáo tồn tại song song cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH và đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt tín ngưỡng, xác định công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hộ thống chính trị, quy định hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật và cấm ép buộc theo đạo, vận động giáo dân “Kính Chúa yêu Nước” và sống phúc âm giữa lòng dân tộc… Nhưng một tài liệu mật tập huấn trong nội bộ cho cán bộ làm công tác tôn giáo lại cho rằng vấn đề tôn giáo Việt Nam bị Hoa Kỳ và các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước gắn với nhân quyền để thực hiện các “thủ đoạn” như: khai thác sai sót trong thực hiện chính sách tôn giáo, thao túng và lợi dụng diễn đàn quốc tế để “bôi nhọ”, lôi kéo mua chuộc thành phần cực đoan và ly khai, khai thác lợi thế nước lớn và xu thế toàn cầu hóa, chính trị hóa vấn đề tôn giáo… Năm 2007, sách trắng về tôn giáo ghi rõ: “Đảng và nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo”. Cũng dịp này, chính phủ cho biết do sự phát triển khác nhau giữa các vùng miền, nhận thức về tôn giáo của một số cán bộ làm công tác chưa đầy đủ, vì vậy có những lúc những nơi vẫn chưa thực hiện tốt chính sách tôn giáo. Sau những sai lầm được thừa nhận như là cá lẻ riêng biệt không đáng kể ấy, vẫn tồn tại chính sách chia rẽ, bóp nghẹt và thâu tóm. Hãy xâu chuỗi tất cả những sự kiện từ quá khứ đến nay, sẽ thấy quan điểm hành xử nhất quán và xuyên suốt của Đảng Cộng sản là thao túng và chính trị hóa tôn giáo.

Gần đây, khi đời sống dân chủ phát triển, các tôn giáo bắt đầu đòi lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi hỏi phải được tự do tôn giáo và thanh lọc miễn nhiễm chính trị. Tôn giáo Việt Nam cũng kết nối với tôn giáo thế giới mạnh mẽ hơn. Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn mà đảng và nhà nước kiên quyết không lấy chữ “Hòa” làm đầu đã dẫn đến đàn áp giáo dân nhiều nơi: Thái Hà, Tam Tòa, Lý Loan, Làng Mai, Đồng Chiêm… Quá trình xử lý những vụ việc trên cho thấy sai phạm ở ba điểm: vi phạm tự do tôn giáo đã ghi trong luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế, dùng lực lượng có trang bị vũ khí lẫn giả dạng thường dân đánh đập giáo dân, vận động cốt cán trong các đoàn thể đối đầu gây chia rẽ và phá vỡ truyền thống đoàn kết lương – giáo.

Tháng 9-2008, trong buổi gặp giữa chính quyền và đại diện Công giáo tại Hà Nội, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt có bài phát biểu, trong đó khi đề cập đến việc ra nước ngoài ông nói: “Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét…”. Đó là một thực tế. Lập tức, truyền thông một chiều cắt câu này ra khỏi văn cảnh, thâm ý sửa lại một số chữ, trở thành: chúng tôi rất là nhục nhã khi mang cái quốc tịch Việt Nam, hoặc chúng tôi rất là nhục nhã khi thấy mình là người Việt Nam… Người nghe tin theo, phẫn nộ buộc ông xin lỗi cả nước, thậm chí còn cho là phản quốc, vô ân, mất gốc… Nhờ truyền thông tự do vào cuộc đăng nguyên văn bài phát biểu, ông được hiểu đúng trở lại. Còn truyền thông nhà nước thì im lặng như chưa từng thông tin, càng không có trách nhiệm đính chính. Đúng ra, Tổng Giám mục có thể khiếu kiện bảo vệ nhân phẩm và danh dự, nhưng ông đã nhẫn nhịn dĩ hòa. Cho nên, từ Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng đến Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt bị sửa lời, lối đối xử hai mặt với tôn giáo vẫn không đổi.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng đến Hoa Kỳ vận động cho hòa bình Việt Nam trước năm 1975. Năm 2005, ông về Việt Nam thuyết giảng và lập dòng tu. Năm 2007, ông đề nghị tổ chức “Đại trai đàn chẩn tế giải oan” tại ba miền nhằm cầu nguyện và giải trừ oan khổ chiến tranh. Năm 2009, Thiền sư khởi xướng khóa tu, tập hợp 400 tu sinh ở Tu viện Bát Nhã (Làng Mai), nhưng bị quấy nhiễu hăm dọa nhiều tháng liền, phải phân tán và rút vào tu kín… Các tu sinh này cũng như cuộc đời của Hòa thượng Thích Huyền Quang từng “sống không nhà, đi không đường, chết không mồ, tù không tội”, khác chăng là số lượng ngày một nhiều hơn. Giải thích của Ban Tôn giáo Chính phủ về lối hành xử xã hội đen đối với người tu hành ở Làng Mai là do mâu thuẫn nội bộ Phật giáo, chỉ thêm che giấu việc dàn dựng. Những sự kiện trên cho thấy các tôn giáo chính thống bắt đầu kiên quyết loại trừ chính trị.

Cuối năm 2009, trong cuộc gặp Giáo hoàng Benedict XVI tại Vatican, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định: “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân và luôn coi đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Nhưng nửa tháng sau, 600 công an mang theo thuốc nổ, vũ khí các loại cùng chó săn đến triệt hạ cây thánh giá bê tông cốt sắt dựng lên trên núi Chẻ thuộc xứ đạo Đồng Chiêm, giải tán giáo dân phản đối và đánh đập một số người bị thương, chặn các ngả đường không cho báo chí và người qua lại vào hiện trường. Việc này được triển khai lúc hai giờ sáng, thời điểm các cha xứ không có mặt tại giáo xứ. Thật là khó lường giữa lời nói và việc làm của chính quyền khi hành xử với tôn giáo! Chính sách hai mặt này còn kéo dài đến bao giờ?

Người cộng sản vô thần lãnh đạo đất nước cần học bài học “Tam giáo đồng nguyên” và cách ứng xử của cha ông: vua Đinh Tiên Hoàng phong nhà sư Ngô Chân Lưu chức Tăng Thắng và chủ trương hướng đạo sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, vua Lê Đại Hành đề cao thỉnh rước 9 bộ Đại Tạng kinh làm sách chân tu và đạo lý, vua Trần Nhân Tông truyền ngôi và lập ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Một số lượng lớn đất và ngân sách cấp xây chùa, thực hiện các công trình là niềm tự hào “An Nam tứ đại khí” trong hoàn cảnh lúc ấy mới chỉ có đạo Phật… Ngày nay, các tôn giáo với tổng số trên 20 triệu tín đồ – cũng là 20 triệu công dân trong lòng chế độ, 20 triệu người con máu đỏ da vàng trong lòng dân tộc.

Chủ trương chính trị hóa, chia rẻ, đối đầu và triệt tiêu tôn giáo cốt chỉ làm cho đạo và đời mâu thuẫn. Hiện nay, đạo đức và các giá trị tinh thần xuống cấp, niềm tin vào xã hội lý tưởng tốt đẹp tan biến, bên ngoài “diễn biến” cùng với bên  trong đảng cầm quyền “tự diễn biến”, thần tượng xã hội bị trần tục và lợi dụng, mọi người chen nhau giành lấy những điều kiện vật chất từ kinh tế thị trường… Trong hoàn cảnh đó, tôn giáo đang thu hút nhiều tín đồ và tái sinh mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cần phát huy những giá trị tốt đẹp và tích cực của tôn giáo mà Tỳ kheo Thích Tâm Quang từng khẳng định: “Dù tin hay không tin thì tôn giáo luôn luôn là giấc mơ đẹp nhất của nhân loại, vươn tới tìm hiểu cái sâu xa nhất của sự sống, nguồn gốc sự sống, tìm lại bản thể, khao khát hòa mình vào với thiên nhiên, vũ trụ”.

Thượng tôn pháp luật tôn trọng sự thật

Theo báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh, hơn một nửa điều luật trong Bộ luật hình sự hiện nay đang có vấn đề: chưa chuẩn xác, thiếu lôgic, mâu thuẫn với các nội dung quy định khác, lạc hậu trước cuộc sống, thiếu khách quan, chưa xem trọng quyền và lợi ích cá nhân… Trong hơn 290.000 vụ án xét xử năm 2009, việc hủy án và sửa án sai do chủ quan vẫn diễn ra nhiều. Có sự sai sót đó là do tòa án các cấp còn chưa đủ chuyên môn, có phiên tòa quan trọng bố trí chánh án chưa từng được đào tạo pháp luật, có tỉnh thiếu đến 1/3 nhân sự biên chế cho ngành kiểm sát và tòa án. Mặt khác, hội thẩm nhân dân là những đại diện đoàn thể chính trị ngồi vào ghế xử án càng không đủ kinh nghiệm, khả năng, hiểu biết pháp luật để có thể xét xử công khai, công bằng, chuẩn xác.

Hiện nay, yêu cầu hàng đầu vẫn là “thống nhất” giữa ba cơ quan điều tra – kiểm tra – xét xử, rồi mới đến “độc lập” về vai trò và chức năng chuyên môn. Mà “thống nhất” là gì? Đó là thống nhất chỉ đạo ngay từ ý tưởng, thống nhất quan điểm trong quá trình thực hiện, thống nhất mục tiêu và kết quả cần đạt được. Thực chất của “thống nhất” ấy là thâu tóm hệ thống pháp luật. Như vậy thì còn gì là phân quyền tam lập? Mặt khác, việc bổ sung, sửa đổi hay hướng dẫn tổ chức thực hiện pháp luật thiếu trùng khớp trong cùng hệ thống, mỗi địa phương bộ ngành lại có tư duy, kinh nghiệm, tiền lệ khác nhau. Từ đó, một số luật phải chạy theo sau và bị động bởi thực tế, một số tội danh không có giới hạn và khái niệm nội hàm cụ thể dẫn đến gán tội theo xu hướng lạm dụng và thiếu căn cứ. Những hạn chế trên là nguyên nhân làm cho luật pháp vượt ra khỏi khung hiến pháp không kiểm soát được, tạo ra bất nhất giữa chủ trương các thời kỳ hoặc giữa các lãnh đạo khác nhau. Bao giờ tình trạng trên mới chấm dứt?

Trong xử lý oan sai, cần nhìn thấy nguyên nhân cơ bản xuất phát từ việc đứng trên quan điểm bảo vệ lợi ích nhà nước mà bỏ qua, xâm hại lợi ích cá nhân chính đáng. Cần dũng cảm nhận sai và đền bù thỏa đáng, dứt điểm khiếu kiện nhiều năm đầy bức xúc. Cần chấm dứt bắt giam nếu bằng chứng không đủ mức độ và không đúng nội dung điều luật kết tội, chấm dứt đánh tráo và quy chụp tội danh, chấm dứt không tuân thủ các bước cần thiết khi điều tra khởi tố, chấm dứt bố trí luật sư biện hộ phía bị hại một cách hình thức. Đồng thời cần dừng ngay hiện tượng ngang nhiên vi phạm pháp luật để bảo vệ lợi ích lãnh đạo. Đơn cử theo Luật lao động, tuổi nghỉ hưu áp dụng cho cán bộ viên chức là 60 (nam) và 55 (nữ). Nhưng mới đây, có một văn bản ban hành nội bộ quy định các trường hợp nữ chức vụ từ thứ trưởng trở lên, học hàm tiến sĩ, đang công tác ở hai thành phố lớn là Sài Gòn và Hà Nội được nghỉ hưu tuổi 60. Vì sao phải thêm 5 năm ngoài luật nếu không phải nhằm kéo dài đặc quyền đặc lợi? Ai cho rằng những chức vụ và bằng tiến sĩ trên đều không phải đã và sẽ có được bằng mua bán, hay đảm bảo năng lực đặc biệt nên cần tiếp tục cống hiến cho xã hội? Đối với nữ cán bộ còn lại thì tính như thế nào và tại sao không có cách đánh giá khác công nhận chính xác năng lực, trình độ? Chính sách này mở đường cho chủ trương trong nhiệm kỳ đại hội Đảng đến cần tăng cường tỉ lệ nữ cán bộ vào Ban chấp hành các cấp, đích thực nhằm đặc quyền đặc lợi. Chủ trương vừa bí mật, lại vừa coi thường luật. Còn có nhiều hiện tượng tương tự như trên trong việc sử dụng tài sản công, cấp nhà ở, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế được áp dụng cho lãnh đạo… nhìn lại đều không đúng tinh thần chung của luật. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà luật sư Ngô Bá Thành đã nhận xét về tình trạng “rừng luật – luật rừng” ở Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Khải từng chỉ rõ việc sử dụng pháp luật tùy tiện trong chế độ XHCN. Ông cho rằng vì không đảng phái đối lập, không tự do báo chí, quần chúng càng không được biểu tình phản đối nên không có ai chỉ ra sai lầm cơ bản từ gốc. Trong chế độ toàn trị, tuyên giáo và công an là hai cơ quan quyền uy bao trùm xã hội với nhiệm vụ: một để chặn, một để chống. Khi đã có công cụ này, luật pháp trở thành thứ yếu, hoặc chỉ được khai thác một mặt tuyệt đối, thậm chí lạm dụng, vào việc ghép tội. Theo ông, công an trấn áp và tòa án kết tội thường thấy trong đời sống pháp luật XHCN, bởi vì: Cách giải quyết vừa nhanh gọn lại mau ổn định, không dây dưa, phiền toái vì có quá nhiều luật lệ, qua nhiều lý lẽ như ở các nước tư bản”. Bao giờ ở Việt Nam mới có cơ quan nắm giữ và điều hành cán cân công lý một cách độc lập, công khai, khách quan mà không phải theo cách trên?

Pháp luật chỉ có thể đủ mạnh khi xuất phát từ nhân dân, không chịu sức ép chính trị, trực tiếp nối liền với luật pháp quốc tế. Để đạt được điều này, phải có quá trình phổ biến, giới thiệu và hướng dẫn hiểu biết quyền công dân, quyền con người. Đó là hệ thống các văn phòng tư vấn luật, luật sư tự do hoạt động như một dịch vụ giúp người dân được tiếp xúc và trao đổi. Theo số liệu báo chí, từ năm 2001-2009, luật sư trong nước tăng 250%, đến cuối năm 2009 cả nước có 5.800 luật sư, bình quân 16.000 người dân/luật sư. Tuy nhiên, số tăng nhanh và nhiều ấy lại rất ít so với các nước: Thái Lan 1.526 dân/luật sư, Singapore 1.000 dân/luật sư, Nhật 4.546 dân/luật sư và Hoa Kỳ là 250 dân/luật sư. Luật sư Việt Nam vẫn còn hai điểm hạn chế: thường phải chấp nhận pháp chế XHCN và tuân thủ nguyên tắc lợi ích đất nước (thực ra là đảng và nhà nước) ưu tiên hàng đầu, mới đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ; khả năng chưa cao trong việc tranh tụng bảo vệ lợi ích người dân và quốc gia trước đời sống luật pháp quốc tế. Khi nào thì môi trường tư pháp Việt Nam mới vượt lên khỏi gần cuối bảng so với toàn thế giới như kết quả xếp loại trong năm 2009?

Trong nước, pháp luật không nên là công cụ của chuyên chính vô sản, mà phải là phương tiện bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, làm cho công dân tìm đến chứ không phải luôn lo sợ pháp luật. Đồng thời, cần làm cho luật pháp ngày càng hoàn thiện, khắc phục triệt để yếu kém tạo khe hở để một bộ phận lợi dụng “lách luật”. Với thế giới, luật pháp Việt Nam không những cam kết, liên kết mà còn phải thi hành đầy đủ. Từ đó, môi trường pháp trị lành mạnh, công bằng mới có thể hình thành. Thời xưa, các triều đại anh minh ở Việt Nam từng áp dụng chủ trương pháp trị: “Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên đều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”. Chủ trương ấy vẫn còn nguyên giá trị để có thể tham khảo xây dựng luật pháp hiện đại, góp phần chấn chỉnh những rối loạn xã hội.

Marx từng viết rằng: “Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con người”. Vậy thì tại sao xã hội hôm nay đang diễn ra không ít những vụ án bị kết luận oan sai, diễn ra chụp mũ và quy tội? Vấn đề là ở câu khẩu hiệu được tuyên truyền khắp nơi: “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Nếu tuân theo chỉ dẫn của Marx, chính xác khẩu hiệu đó phải được viết lại là: hiến pháp và pháp luật phục vụ cho tất cả mọi người sống và làm việc! Chỉ riêng điều này đã cho thấy Việt Nam hoàn toàn chưa có dân chủ, chưa có pháp luật bảo vệ người dân một cách thật sự. Vì vậy, cần đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, điều chỉnh luật trong nước, phổ biến các văn bản luật pháp quốc tế. Cần xác lập và thực hiện các quyền cơ bản để người dân được bảo vệ bằng pháp luật, bình đẳng và tự giác làm chủ trước pháp luật. Trong việc ban hành và điều chỉnh luật, nên thật sự tôn trọng và ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, áp dụng nhanh vào cuộc sống bằng hệ thống lập pháp – tư pháp – hành pháp độc lập, đủ mạnh, nghiêm minh.

Về tôn trọng sự thật trong quá khứ, Đảng Cộng sản cần viết lại lịch sử của đảng, cả tiểu sử lãnh tụ Hồ Chí Minh một cách sát với sự thật, nhằm chấm dứt tranh cãi. Lịch sử Đảng Cộng sản phải đánh giá đúng cống hiến, trung thực và dũng cảm công khai những sai lầm các thời kỳ. Đảng phái khác cũng được quyền viết lịch sử quá trình hình thành và đóng góp, in ấn và phát hành công khai kèm theo đường lối thời gian đến. Đây là một quyền ngang nhau giữa các đảng chính trị, đảng phái này không được áp đặt lệnh cấm đối với đảng phái kia, càng không thể cấm đối với tất cả các đảng phái “phi Mác-xít”. Đồng thời, lịch sử mỗi đảng phái chỉ được xem là lịch sử nội bộ tổ chức, không có quyền và không ai ban cho quyền đại diện, thay thế, chiếm trọn những giai đoạn và chặng đường lịch sử dân tộc. Cả dân tộc sẽ viết nên lịch sử “đất nước của nhân dân”, chứ không phải đảng phái chính trị viết nên lịch sử của dân tộc một cách chủ quan tranh công, tùy tiện và đầy khuất tất.

Tôn trọng sự thật hiện nay là xã hội cần có môi trường phản biện, mở rộng quyền tự do trình bày trình chính kiến, tự do báo chí và thông tin đại chúng. Tự do cá nhân trong tính độc đáo đa dạng tư tưởng, phong cách, tài năng, lối sống, biểu hiện… là quyền của mỗi người, miễn không phạm pháp và không phản tiến bộ. Cần lắng nghe công luận nhiều phía và kịp thời điều chỉnh, thay vì tìm cách đối phó. Cần chấm dứt bưng bít, bao vây cô lập và đàn áp người khác chính kiến. Hiện nay, nhà nước đang áp dụng hai biện pháp xử lý đối với thông tin phản biện: ngăn chặn đàn áp bằng tường lửa và các kỹ thuật phá hoại giấu mặt; dùng vũ lực trấn áp hoặc tạo ra một diễn đàn tương tự nhưng “đóng kịch” để phân tán dư luận, làm cho môi trường phản biện trở nên “trung hòa” có kiểm soát… Cả hai cách chỉ làm cho các bên không tìm được tiếng nói chung, càng thêm đối lập gay gắt. Phản biện phải tránh khỏi bị rơi vào trường hợp “thấp cổ bé họng” trước đội ngũ và phương tiện truyền thông áp đảo của Đảng Cộng sản, tránh trở thành “con kiến đi kiện củ khoai” khi luật pháp bị chuyên chính vô sản nắm giữ. Thông tin đại chúng phải nhằm phục vụ toàn xã hội, là tiếng nói ngôn luận cho cả cộng đồng, thay vì chỉ dùng cho củng cố tồn tại thể chế. Vì môi trường phản biện bày ra thiếu cầu thị, thiếu lắng nghe và thiếu thực tâm nên nhiều năm qua biểu tình của dân oan và công nhân xảy ra khắp nơi. Trong thời đại đa dạng thông tin ngày nay, không có lý do gì để phân biệt theo hai lề phải – trái. Càng không có lý do khi cùng đề cập một vấn đề mà các đại biểu quốc hội được bày tỏ, thậm chí chỉ trích nặng nề; trong khi đó xuất phát từ người dân lại bị kết tội. Cứ so sánh kỹ sẽ thấy chủ đích và nội dung phát biểu của các đại biểu Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Minh Thuyết… không khác quan điểm và chính kiến đã công khai của các luật sư Lê Công Định hay Cù Huy Hà Vũ, giáo sư Hoàng Tụy hay Nguyễn Huệ Chi… Khác chăng là các đại biểu quốc hội nằm trong sự kiểm soát của một hội nghị, những cá nhân khác thì theo quan niệm làm người tự do phải có chính kiến độc lập. Những phát biểu tự bị kết tội “lật đổ chính quyền nhân dân” đã thể hiện quá rõ ý chí và hành xử độc đoán, tập quyền của Đảng Cộng sản.

Chỉ riêng sự kiện đại diện Việt Nam thông qua báo cáo thực hiện nhân quyền tại Đại Hội đồng LHQ giữa năm 2009 đã có vấn đề. Báo cáo chính thức 100 trang, khi công bố trong nước chỉ còn 20 trang. Báo cáo đang trong giai đoạn ghi nhận và chưa có kết luận thì truyền thông đưa tin trong nước là đã được thông qua và được đánh giá cao. Ở Đại hội đồng LHQ mà cơ quan ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam còn làm cả công tác “quốc tế vận” bằng cách liên kết với 19 nước, cũng có nhiều vi phạm nhân quyền như Việt Nam, khen ngợi và bao che nhau. Những chất vấn của nhiều nước tiến bộ về thiếu khuyết của báo cáo đều bị cho là can thiệp vào công việc nội bộ, vì thế không được công khai trong nước. Làm như vậy chính là bưng bít, đánh tráo thông tin. Nhờ có báo mạng tự do, người dân biết ngay chuyện lập lờ. Một chính thể không sợ sự thật, đã không bất nhất đối phó. Và không phải năm 2009 là lần đầu tiên, nhiều báo cáo trước đây đều như vậy. Thiếu trung thực còn thấy qua việc bắt giam những người đấu tranh đòi quyền lợi đã mất. Để có cớ, cơ quan pháp luật quy chụp họ tội gây rối trật tự công cộng, tụ tập đông người trái phép, nặng hơn là phản bội tổ quốc. Họ bị giam giữ kéo dài không xử hoặc xử kín, từng bước bị xâm hại sức khỏe, ý chí, nhân phẩm mà không ai được biết để có thể can thiệp. Nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng bị nhiều lần đối xử phân biệt và không trả lời những đề nghị của ông, những tướng lĩnh cùng ông tố cáo vụ Tổng cục 2 đến nay lần lượt qua đời. Tướng Trần Độ với bài thơ ngao ngán thế sự ở tuổi về già, tướng Trần Văn Thanh trên giường bệnh xe đẩy đến hầu tòa, cha Nguyễn Văn Lý từ bị bịt miệng đến bị liệt nửa người có dấu hiệu đột quỵ tại trại giam Ba Sao, các trang điện tử báo tự do bị đánh phá và người viết bài bị đe dọa… Đó là những minh chứng cho thấy Đảng Cộng sản sợ thông tin trung thực và tìm cách ngăn cản. Biết bao sự thật bị cầm tù, nay đang muốn phá bung vòng kìm kẹp để bước ra một mặt đất bao la và một bầu trời tự do.

Một lập luận nghe rất quen là ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm hay tù nhân chính trị. Phải chăng cách trả lời ấy thuyết phục được công luận? Thiếu trình độ và kinh nghiệm trong quản lý do những vấn đề của quá khứ có thể được thông cảm, nhưng ở vị trí lãnh đạo đất nước mà thiếu trung thực là điều không thể chấp nhận. Nếu Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện đúng Tuyên ngôn về quyền con người đã cam kết thì có lẽ chẳng còn phải lo sợ xuyên tạc rồi “gồng mình” lên chống đỡ. Những thế lực ảo “ra sức chống phá đất nước” cũng sẽ biến mất trong tưởng tượng thù địch và cảnh giác. Về vấn đề tù nhân lương tâm, xin nhắc lại một quan điểm của Hồ Chí Minh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương như thế, nhưng trong các phiên tòa, để kết tội những chính kiến tự do, chánh tòa không cần đến chủ trương này, mà viện dẫn các điều trong Bộ luật hình sự chẳng mảy may ăn nhập! Nắm quyền lực nhưng hành xử sai, chủ yếu do bảo thủ. Nhưng xét cho cùng, bảo thủ là do không đổi mới hiểu biết, thiếu học hỏi những mô hình tích cực của các quốc gia tiến bộ.

Ở các nước Âu – Mỹ, từ những năm 1970 đến nay, nhiều tổ chức phi chính phủ được phép hoạt động nhằm bảo vệ người đứng ra chống tiêu cực xã hội, giám sát hoạt động bộ máy chính quyền. Đó là: Dự án trách nhiệm của chính quyền (gọi tắt là GAP) xây dựng và triển khai các luật bảo vệ người chống tham nhũng, tư vấn các cá nhân vì chống tiêu cực mà bị chèn ép, gây áp lực và bị đe dọa, trợ giúp người chống tiêu cực lật tẩy hành vi giấu diếm và làm sai lệch thông tin; Tổ chức Commom Cause có hàng trăm ngàn thành viên, luôn nêu cao khẩu hiệu: “Hãy duy trì chính quyền có trách nhiệm”; Tổ chức Liêm chính công cộng thường thực hiện phóng sự điều tra những nghi ngờ về tranh cử, nghị viện, theo dõi và bảo vệ tự do cá nhân; Tổ chức công dân công cộng theo dõi tính trách nhiệm của chính quyền, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, theo dõi diễn biến cải cách xã hội. Ở Thụy Điển và Úc có các Ombudsman hoàn toàn độc lập và được quyền tiếp nhận, hướng dẫn khiếu nại tố cáo của nhân dân trước khi pháp luật phán xử. Tất cả những hình thức hoạt động trên đều chung một tôn chỉ: tìm kiếm, khẳng định và bảo vệ sự thật.

Ở Việt Nam đã có thanh tra nhân dân bên cạnh thanh tra nhà nước các cấp, nhưng đứng đầu thanh tra nhân dân cũng là cán bộ, đảng viên. Tổ chức thanh tra độc lập của nhân dân không được phép thành lập, vừa thành lập đã bị giải tán. Tại Đại hội Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam vào tháng 4-2009 tại Sài Gòn, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định: “Những gì Đảng và nhà nước không nói được thì các tổ chức phi chính phủ phải nói”. Tổ chức phi chính phủ mà Chủ tịch nước đề cập là ai? Thực tế đến nay trong nước vẫn không có tổ chức nào đúng nghĩa. Còn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài lên tiếng thì chỉ có hai trường hợp: có âm mưu diễn biến hòa bình, hoặc họa hoằn vài vụ tham nhũng mà đảng viên chức quyền vươn dài cái vòi bạch tuộc nối ra tận các công ty kinh tế nước ngoài bị phát hiện. Vì vậy, giáo sư Hồ Văn Thông thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trong một bài viết thẳng thắn đánh giá: “Nhận thức về dân chủ của chúng ta (Đảng Cộng sản) chưa đủ chiều sâu cần thiết, chưa tạo lập được thể chế có hiệu lực và hiệu quả và chưa có được những đột phá quan trọng để mở đường một cách rõ ràng và vững chãi”.

Cũng cần nói về đội ngũ dân vận trong mặt trận và các đoàn thể. Dân vận chỉ có trong thể chế bảo thủ, độc đoán – không thể đặt tên nghề nghiệp, càng không hiểu bậc ngạch, nghiệp vụ ra sao khi ghi vào danh mục nghề nghiệp. Những cán bộ này nên có một lần tự vấn lương tâm, đánh giá lại việc vận động thực hiện chủ trương đường lối trong các đoàn thể. Đó là những “vệ tinh” vận động dưới sự chi phối của đảng chính trị, hình thành những vùng đệm bảo vệ chế độ. Từ đó, hãy tham gia lập ra những hội nhóm độc lập trong nhân dân để góp phần hình thành xã hội dân sự tích cực. Điều 69 Hiến pháp quy định nhân dân có quyền tự do phát ngôn và lập hội nhóm mà không phân biệt tính chất hoạt động. Nếu có nhiều tiếng nói đại diện khác nhau, chắc chắn quyền lợi mọi mặt cả xã hội sẽ được tôn trọng và đảm bảo, sự thật sẽ sớm được nhìn thấy, chân lý sẽ nhanh được khẳng định.

Trong thời gian đến, khi Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân ra đời, cần tránh tình trạng: kèm theo khái niệm mơ hồ chung chung để giải thích theo chủ quan, mở rộng nội dung các chương về giới hạn tiếp cận và trì hoãn trả lời thông tin với lý do “nhạy cảm” hoặc bí mật quốc gia chưa được xử lý, vẫn duy trì rào cản của thể chế cầm quyền mà không hòa nhập sâu rộng với thông tin toàn cầu, luật thì có nhưng hầu như không áp dụng, luật không chặt chẽ hoặc bị thực tế bỏ rơi và lạc hậu. Cần quy định xử phạt nghiêm minh đối với những cá nhân, đơn vị cung cấp thông tin theo chức trách nhiệm vụ nhưng làm chậm trễ và sai lệch. Hoạt động đảng phái chính trị, đường lối chủ trương và việc thực hiện… cũng phải được thông tin trung thực.

Xã hội cũng cần có những trung tâm cung cấp thông tin tự do. Ở đó, người dân có thể khai thác, tìm kiếm hệ thống các cơ quan và người đứng đầu để khi cần có thể phản ánh trực tiếp, hoạt động và chính sách tài chính, thủ tục hành chính, chính sách phát triển kinh tế xã hội, hoạt động của thanh tra nhân dân, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, cứu trợ từ thiện, phòng chống thiên tai, quy hoạch và giải tỏa đền bù… Có thông tin đầy đủ, người dân sẽ phát huy tốt quyền và nghĩa vụ nêu lên chính kiến của mình. Có thông tin đầy đủ cũng đồng nghĩa với việc hạn chế dư luận xã hội không chính xác, chấm dứt tình trạng bưng bít và bị đánh tráo sự thật, chấm dứt nói một đường làm một nẻo mà không chịu bất cứ trách nhiệm nào trước pháp luật, dân tộc, lịch sử. Tổng thống Barack Obama từng cho biết tác dụng của thông tin đến từ mọi người dân tại Hoa Kỳ: “Nó khiến nền dân chủ chúng tôi mạnh hơn vì nó buộc tôi lắng nghe những ý kiến tôi không muốn nghe, nó buộc tôi xem xét kỹ những gì tôi đang làm”.

 

Nhà nước cần phải có tính chính danh

Tính chính danh của nhà nước là gì? Đó là vai trò, năng lực và hoạt động độc lập trong thực hiện chức trách theo quy định của pháp luật. Đó phải là một nhà nước không trở thành công cụ của đảng phái, hay nói cách khác chính danh là pháp trị chứ không phải đảng trị. Chính danh là phải được nhân dân chính thức công nhận qua bầu cử cử tự do, công bằng và hợp pháp, thậm chí có sự tham gia giám sát của quốc tế. Các quốc gia dân chủ tiến bộ đều thực hiện như vậy. Chính danh là sau khi ra đời, nhà nước phải hoạt động bằng cơ chế minh bạch và công khai, nằm trong sự giới hạn, giám sát của hiến pháp và pháp luật. Chỉ có nhà nước có tính chính danh thì mới tự vững mạnh, thật sự trở thành nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chỉ có nhà nước “danh chính” thì mới có thể tìm thấy “ngôn thuận” trong xã hội.

Theo luật sư Lê Công Định, sự “chính danh” của Nhà nước pháp trị gắn liền với tính hợp hiến, trong đó quan trọng là việc bầu cử nguyên thủ quốc gia cần được “minh định trong hiến pháp”. Hiện nay, hiến pháp quy định quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và các chức vụ khác; đồng thời phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên chính phủ. Nhưng thực tế, quốc hội chỉ “hợp thức hóa” kết quả xếp đặt tại các kỳ đại hội Đảng, còn việc cách chức Bộ trưởng lại thuộc thẩm quyền của Ban Bí thư Trung ương. Luật sư đã đánh giá về thực trạng lạm quyền này: “Chuyện của một đảng cầm quyền không chỉ là chuyện riêng của đảng ấy, và chuyện của 83 triệu dân không chỉ là chuyện riêng của thiểu số 3 triệu người”. Một quốc hội và nhà nước như vậy hiển nhiên không có tính chính danh.

Cũng theo luật sư, vào mỗi kỳ bầu cử quốc hội, người dân bắt đầu nghe thông tin từ Bộ Chính trị sắp xếp nhân sự. Các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng được “tấn phong” vào chức vụ cao cấp đều không có ứng cử viên khác tranh cử, nhân dân cũng chẳng còn cơ hội chọn lựa. Thậm chí có đại biểu được cơ cấu không xuất phát từ đánh giá năng lực mà từ sự tin tưởng của Đảng. Đó là trường hợp Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đứng đầu cơ quan lập pháp tối cao từng nhận định: “chưa hiểu biết nhiều về công tác lập pháp và hoạt động nói chung của quốc hội”, vì vậy ở cương vị mới ông sẽ có “quyết tâm cao và có phương pháp đúng”. Luật sư cho rằng hiện tượng này “quả nhiên lạ lùng” so với nghị viện các nước dân chủ khi mà các ứng viên vào chức vụ cao phải vận động tranh cử, chứng minh kinh nghiệm nghị trường, khả năng điều hành quốc hội đa thành phần. Cho nên, hậu quả là “dân chúng choáng váng khi nghe các bộ trưởng biện minh cho yếu kém bằng cách viện dẫn các quyết định của Đảng”. Về bầu cử các cấp chính quyền địa phương, trong một trả lời phỏng vấn báo chí, ông Nguyễn Văn An từng đặt câu hỏi cũng đồng thời chỉ ra thực trạng nền dân chủ mà hình thức “Đảng cử – Dân bầu” đã gây ra sự thờ ơ ở người dân khi thực hiện nghĩa vụ xây dựng nhà nước của chính mình: “Tại sao không để người dân trực tiếp bầu các chức danh chủ tịch xã, chủ tịch huyện và cao hơn nữa? … Các con số 98-99 % cử tri đi bầu liệu có thực chất không, hay trong đó còn các phiếu bầu hộ, bầu cho xong chuyện, bầu mà chẳng biết người được bầu như thế nào?”. Ông còn khẳng định đảng chính trị không thể quyết định thay dân hay thay nhà nước vì nếu làm điều đó sẽ biến dân và nhà nước trở thành “hình thức, hữu danh vô thực”. Nhưng thực tế hiện nay, nhiệm vụ chỉ đạo và định hướng đã bị lạm dụng thành nói thay, buộc làm thay. Một quốc hội và nhà nước các cấp như vậy càng không có tính chính danh.

Thử nhìn vào một số cơ quan: ngồi chơi xơi nước, game và truy cập mạng, nhũng nhiễu hay thiếu trách nhiệm giải quyết giấy tờ, chưa hết giờ đã bỏ công sở, lúc làm việc nói chuyện nhậu và lúc nhậu bàn việc làm (thậm chí còn ký quyết định ngay tại bàn nhậu), học ngành này đi làm ngành kia, chức nghiệp không được nhận thức rõ ràng. Nhiều sinh viên tốt nghiệp hạng giỏi phải chịu nghịch cảnh bị kẻ dốt “chỉ đạo”. Bằng cấp xếp loại xuất sắc từ khả năng học thật sự không khác bằng cấp xếp loại trung bình ở chỗ lương như nhau, xem xét quy hoạch lâu dài càng không phải căn cứ vào đó. Về văn bản, trong số lượng lớn ban hành hàng năm, khoảng một nửa không hiệu lực, bị thực tế làm cho lạc hậu và đào thải ngay, có ban hành nhưng không tổ chức thực hiện và kiểm tra thường xuyên, ban hành văn bản chồng chéo và làm cho “túi đựng” ở cấp cơ sở bị “bội thực”. Đến cuối năm, tất cả chủ trương trong những văn bản ấy đều có kết quả báo cáo cấp trên, nhận bằng khen và các danh hiệu thi đua. Một hệ thống các cơ quan như vậy không thể nào là chính danh.

Trì trệ của các cơ quan nhà nước hiện nay là vẫn giữ phần lớn nhân sự cao tuổi không có trình độ nhưng “sống lâu lên lão làng”, lại tiếp tục nhận không ít cán bộ công chức trẻ thiếu năng lực. Người có năng lực thật sự có dấu hiệu không muốn cộng tác trong các cơ quan. Để duy trì bộ máy nhân sự kém hiệu quả mà cồng kềnh ở một nước nghèo như Việt Nam, nhà nước phải chi 40% ngân sách trong tổng đầu tư toàn xã hội, mức chi rất cao so với các quốc gia. Trong tỉ lệ chi đó, gần một nửa là quỹ lương và phụ cấp. Cán bộ công chức quá đông mà lương thấp là nguyên nhân dẫn tới hối lộ, tham nhũng. Đằng sau đời sống dân chủ công sở vẫn tồn tại ngầm dãy thứ tự các tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ công chức: có lý lịch đỏ và quan hệ với lãnh đạo – đi vào bằng cửa sau – có năng lực và trình độ. Nhìn trong các cơ quan, ở đâu cũng thấy thành phần 5C (con cháu các cụ cả). Như thế thì Nhà nước pháp trị có thể chính danh ở chỗ nào?

Lâu nay ở Việt Nam, Nhà nước pháp trị chỉ được nghe thấy trong các bài viết, công trình lý luận, văn bản giấy tờ… Dấu hiệu tăng cường tính tích cực của nó là đẩy lùi, hạn chế tham nhũng và tệ nạn xã hội, gia tăng đầu tư, tạo công ăn việc làm, hội nhập bền vững, mọi tiềm năng con người được khai thác và phát huy, những lo sợ và đối phó tan biến… đều rất hạn chế. Để xây dựng Nhà nước pháp trị, không thể nào thiếu các điều kiện: thượng tôn pháp luật; hệ thống pháp luật tam quyền phân lập từ chuyên môn nghiệp vụ đến phối hợp; duy trì phản biện trong một xã hội dân sự mà quan trọng nhất là truyền thông và thống kê cần trung thực, đầy đủ, kịp thời; con người điều hành bộ máy nhà nước phải qua bầu cử tự do công bằng. Tướng Trần Độ nhiều năm trước đã đề nghị: “Cần phải dứt khoát chọn một trong hai tư tưởng chỉ đạo: Hoặc thực hiện chuyên chính vô sản, mà Đảng là đại diện và nhân danh. Hoặc thực hiện một Nhà nước dân chủ pháp quyền, một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Không thể cứ nói nửa nọ nửa kia nhập nhằng”.

Để xác lập tính chính danh cho Nhà nước pháp trị, cần quyết tâm tháo gỡ bộ máy bất minh không chính danh. Đó là bộ máy từng tạo sự lạm quyền của quân đội trong vụ Tổng cục 2 đến nay chưa giải quyết, tạo ra tham nhũng, làm ăn phi pháp và bè phái trong một thiểu số cầm quyền, bảo vệ độc quyền, bòn rút tài sản quốc gia, bắt người trái phép, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng… Các vị lão thành cách mạng và cán bộ đảng viên liêm chính hiện nay đang đi đầu trong việc tháo gỡ bộ máy đó. Một nhà nước nền móng vững chắc sẽ làm cơ sở điều tiết hài hòa lợi ích của các nhóm xã hội. Đó là nơi gặp nhau và đồng thuận giữa nhà nước với người dân, giữa mọi lứa tuổi trình độ, hội nhóm, tôn giáo… mà họ không phải sống trong sợ hãi pháp luật. Cho dù thể chế hay xã hội nào, Nhà nước pháp trị và xã hội được điều hành bằng pháp luật đều là mong ước, niềm hy vọng tin tưởng của toàn dân.

Nhà nước cần công khai tuyển chọn nhân sự vào các vị trí làm việc, trao lại cho nhân dân vai trò kiểm soát. Từ quốc hội, chính phủ đến cơ quan công quyền các cấp phải lấy pháp luật làm trọng, là đối tượng thật sự chịu sự giám sát của pháp luật. Xây dựng Nhà nước pháp trị không phải là giải thể đảng hay nhà nước, thay thế hàng loạt nhân sự và phân biệt lý lịch, càng không phải dẫn đến lo sợ ngay từ trong Bộ chính trị về nguy cơ của diễn biến, tự diễn biến và lật đổ chính quyền. Nhà nước pháp trị là phải tuyệt đối chấm dứt chịu ảnh hưởng đảng trị. Về hiện tượng này, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cho rằng nếu đảng trực tiếp chỉ đạo, làm thay nhà nước thì đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song hành, thậm chí đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước. Từ đó xuất hiện nghịch lý là đảng có quyền quyết định nhưng không chịu trách nhiệm pháp luật, ngược lại người đứng đầu cơ quan nhà nước mất quyền quyết định lại chịu trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật. Quyền hạn và trách nhiệm tách rời nhau thì nhà nước chỉ còn hình thức, trách nhiệm cá nhân không được đề cao, thiết chế bộ máy rối loạn. Ông kết luận: “Đó là điều tối kỵ!”

Cho nên, vấn đề cơ bản là tạo dựng và duy trì tính chính danh của nhà nước. Cầm quyền mà không chính danh là nguy hiểm không những đối với nhà cầm quyền, mà còn cả xã hội. Xây dựng Nhà nước pháp trị chính danh, ngay bây giờ Việt Nam không còn lý do gì để trì hoãn nữa.

 

 Hiến pháp của toàn dân

Trong lịch sử, Hiến pháp 1946 ra đời và được Quốc hội khóa I thông qua, nhưng không được Chủ tịch nước ký ban hành và thực thi. Một văn bản có giá trị gì khi đã được thống nhất nhưng lại không ký ban hành? Rõ ràng ngay từ đầu, Nhà nước dân chủ cộng hòa chỉ là danh xưng, là cách để Đảng Cộng sản vẫn nắm quyền lực sau sự kiện tuyên bố tự giải tán và tiến tới tái hoạt động công khai. Nếu Hiến pháp 1946 được ký ban hành hẳn hoi thì không dễ gì bị thay thế bằng Hiến pháp 1959. Không đơn giản chỉ là thay thế hiến pháp, việc làm này chính là nhằm thay đổi thế chế dân chủ cộng hòa thành thể chế dân chủ XHCN.

Ngày nay, báo chí “lề phải” tiếp tục ca ngợi Hiến pháp 1946 là “viên đá tảng đầu tiên” của Nhà nước pháp quyền văn minh, thể hiện tính dân tộc và hiện đại, là vẫn còn nguyên giá trị… Nhưng tại sao Nhà nước Việt Nam không áp dụng mà xóa bỏ rồi lại ca ngợi? Chỉ có thể nói đây là bước tính toán và sắp xếp có chủ đích từ đầu. Vì thế, các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 chỉ đóng vai trò của những “lá bùa”. Khoảng 30 năm với ba lần thay đổi hiến pháp, lại thêm bổ sung Cương lĩnh 1991, phản ánh rất rõ sự bất ổn và rối loạn về đường lối cũng như mô hình. Hiến pháp đã phải chịu sự điều hành từ các văn kiện đại hội và văn bản chỉ đạo của đảng cầm quyền từng nhiệm kỳ. Cho nên, thực tiễn đặt ra trong thời kỳ hội nhập là cần phải có một hiến pháp thật sự xuất phát từ tâm nguyện của nhân dân và được trưng cầu ý kiến nhân dân, là viên đá tảng ổn định đặt đúng vào tâm điểm có thể giữ cân bằng và tác động tích cực đến mọi lĩnh vực xã hội.

Khi xây dựng hiến pháp, để đảm bảo lâu bền, không cần thiết phải đề cập đưa vào những tác động và điều chỉnh thuộc về  phạm trù đạo đức, tình cảm (mang dấu ấn đức trị). Quá trình sửa đổi hiến pháp càng không phải tạo ra điều khoản khó có tiêu chí xác định, dựa vào đó tạo ra sai lệch giữa nói và làm. Phải xem hiến pháp là đạo luật gốc, là tinh thần chung tối thượng, từ đó ban hành cụ thể những quy phạm pháp luật, văn bản dưới luật. Luật phải tránh quy chụp, dựa dẫm vào khái niệm chính quyền nhân dân, sở hữu toàn dân, lợi ích dân tộc… để lấy số đông kết tội những cá nhân khác.

Trong quá trình xây dựng hiến pháp, cần có ban soạn thảo mở rộng các thành phần và chính kiến, nghiên cứu giữ lại những tích cực còn áp dụng và kiên quyết loại bỏ hạn chế đã bị công luận phản ánh. Cần thu nhận ý kiến toàn dân, tổng hợp và chỉnh sửa dự thảo, đồng thời dự thảo đó phải công khai lần thứ hai cho nhân dân bỏ phiếu trước khi ban hành. Cần đưa vào hiến pháp quyết định của toàn dân tộc về con đường phát triển trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, quy định vai trò và quyền hạn của nhà nước, mở rộng hoạt động giám sát ngay từ trong nhà nước đến toàn dân. Ban soạn thảo phải là những nhà nghiên cứu trung thực khách quan trong và ngoài Đảng, các đại biểu quốc hội, những trí thức trong và ngoài nước.

Hiến pháp phải kết nối sức mạnh dân tộc ở tất cả các chặng đường, giải phóng những “điểm nghẽn” xã hội, tập hợp các nguồn lực dân tộc, đoàn kết tất cả người Việt, khởi đầu cho niềm tin tưởng hy vọng một chặng đường mới. Chỉ có hiến pháp và pháp luật công bằng, mở rộng thật sự quyền hạn của người dân trong một xã hội dân sự, đảng phái hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, tiếng nói xã hội mới ngày càng đạt đến đồng thuận cao. Chỉ có hiến pháp cao hơn chính trị và nhận thức đúng xu hướng phát triển của nhân loại… thì con đường phát triển đất nước mới ổn định. Hiến pháp ấy là trụ cột nâng đỡ toàn bộ đời sống xã hội và hoạt động chính trị mới trở thành “ngày hội của toàn dân” như một tư duy mới của Tổng thống Barack Obama.

Việt Nam cũng cần mở rộng tham khảo các nước phát triển. Hiến pháp Hoa Kỳ ban hành năm 1787, đến nay đã hơn 200 năm vẫn chưa bổ sung hay thay thế. Vì sao vậy? Trong khi Hiến pháp Việt Nam thường quy định nghĩa vụ, tội danh và biện pháp cưỡng chế trừng phạt nhiều hơn quyền lợi của công dân; làm cho nhà nước chủ động nắm giữ hệ thống pháp luật thì Hiến pháp Hoa Kỳ chủ yếu quy định hành vi của nhà nước. Theo một giáo sư ở Đại học Dedmann (Hoa Kỳ), mục đích của việc giới hạn quyền lực nhà nước là nhằm kiểm soát và ngăn chặn lạm quyền, hình thành và bảo vệ xã hội dân sự. Rõ ràng cách xây dựng hiến pháp này loại trừ những biến đổi liên tục trong cuộc sống, không thể nào dùng hiến pháp quản lý từng nơi từng lúc, từng hành vi hay từng thời kỳ. Hiến pháp chỉ nên phản ánh vấn đề cốt lõi, quy định được bộ máy điều hành xã hội. Sức mạnh và sự ổn định của Hiến pháp Hoa Kỳ còn biểu hiện ở chỗ nó đã “tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu, đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng giữa các cơ quan nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự với đầy đủ những quyền năng”. Cũng có thể hiểu đó là quá trình giám sát sát kép, giám sát ban đầu được kiểm chứng lần thứ hai bằng công luận để tìm ra kết quả ủng hộ hoặc bác bỏ. Yếu tố làm cho Hiến pháp Hoa Kỳ có “giá trị trường tồn” không chỉ ở tư tưởng bao quát mà còn là cơ chế giải thích và bảo vệ hiến pháp.

Nhìn lại Việt Nam, thực tế lúng túng trong quá trình điều hành xã hội bắt đầu từ hiến pháp xác định thể chế, mục tiêu, mô hình đều mang tính giai đoạn lịch sử. Khi thực hiện, lại thêm lúng túng bởi luật muốn đuổi theo nắm bắt và điều chỉnh thực tế, phải bước ra khỏi khung hiến pháp, luật đi càng xa thì tầm ảnh hưởng quyết định của hiến pháp càng yếu, thậm chí mất hẳn. Nguyên nhân của những vi hiến trong quá trình áp dụng hiến pháp vào cuộc sống ở Việt Nam cũng được giáo sư chỉ rõ: “Chừng nào các thuật ngữ trong hiến pháp còn chưa được giải thích bởi thiết chế độc lập thì chừng đó các nhà chính trị sẽ giải thích theo cách có lợi cho họ, các nhà khoa học sẽ còn tranh luận không có điểm dừng, những văn bản quy phạm pháp luật vi hiến sẽ không có cơ sở rõ ràng để huỷ bỏ, xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan vẫn cứ diễn ra và quan trọng hơn là quyền lợi của người dân sẽ không được bảo vệ”.

Nhìn gần hơn, Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi năm 2004 áp dụng đến nay cũng chuyển quyền lực nhà nước từ “giám sát, quản lý” sang “khuyến khích, giúp đỡ”. Tư tưởng “Ba đại diện” được xác định ngay lời mở đầu với tôn chỉ “dĩ nhân vi bản”, đồng thời đại diện quan trọng nhất để đảm bảo xã hội phồn vinh là “đại diện lợi ích căn bản của quần chúng nhân dân đông đảo nhất”. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước được đề cao, từ chỗ bị kiểm tra giám sát chặt chẽ đã chuyển thành được “Nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và hướng dẫn phát triển kinh tế phi công hữu”. Trung Quốc cũng bắt đầu chấp nhận khái niệm “Văn minh chính trị” và đưa vào văn bản tối cao này, xem đó là yếu tố làm cân bằng giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Sau thời gian bị chỉ trích, Trung Quốc cũng đã nhận thức và đưa khái niệm “nhân quyền” vào thẳng hiến pháp khi cam kết: “Nhà nước tôn trọng và đảm bảo nhân quyền”. Ít nhất là về mặt hình thức, nhận thức mới đã tìm thấy một thông số chung của vấn đề. Để ổn định lao động sản xuất tạo ra của cải xã hội, hiến pháp ở Trung Quốc nhấn mạnh: “Tài sản tư hữu hợp pháp của công dân không được xâm phạm”. Chính điều này không những quy định bảo vệ tài sản “tư hữu hợp pháp” của toàn dân mà còn cho phép pháp luật can thiệp vào những khối tài sản tư hữu không hợp pháp, nhất là tài sản có được do tham nhũng. Từ đó, pháp luật tiến tới điều chỉnh xã hội theo hướng công bằng, được mọi thành phần trong phân tầng xã hội chấp nhận. Việt Nam đã cam kết với toàn thế giới thực hiện quyền con người, trong khi lại luôn dị ứng và xem “nhân quyền” là công cụ của “diễn biến hòa bình”, xuyên tạc bôi nhọ chế độ và can thiệp vào công việc nội bộ… Khi nào thì nhân quyền của người dân Việt, những quyền phổ quát của con người, mới được chính thức nhìn nhận và bảo vệ trong hiến pháp?

Sau khi ban hành hiến pháp của toàn dân, vấn đề đặt ra là: đã có cơ chế kiểm tra thực hiện các luật, nhưng lấy gì để kiểm tra thực hiện và xét xử những vi hiến vốn cao hơn cả luật? Như vậy là cần có Tòa án Hiến pháp. Đây là cơ quan diễn giải, hướng dẫn để việc xây dựng và áp dụng luật phải nằm trong phạm vi điều chỉnh bao quát của hiến pháp, góp phần tăng cường Nhà nước pháp quyền. Ở các quốc gia tiến bộ, Tòa án Hiến pháp đã có từ lâu với thẩm phán là những luật sư vững chuyên môn, hiểu biết đa lĩnh vực và hoạt động độc lập. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn chưa có Tòa Hiến pháp, đồng thời tìm kiếm đội ngũ thẩm phán đạt yêu cầu là một thách thức. Dù sao, lãnh đạo đất nước cũng không thể trì hoãn và kéo dài hơn. Tòa án Hiến pháp phải là tiếng nói phán xét tối thượng, tránh sự điều khiển của đảng phái và quan trọng nhất là phải buộc bộ máy công quyền tuân thủ sự giám sát của của cơ quan độc lập.

Giữa toàn trị và pháp trị hiển nhiên là mâu thuẫn về bản chất, không thể cùng song hành tồn tại. Chúng ta không thể không hiểu, nhầm lẫn, hay cố ý né tránh một thực tế: độc đảng dẫn đến toàn trị. Bởi vì các chế độ một đảng cầm quyền không thể xây dựng Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Từ đó mà lâu nay tại Việt Nam, hiến pháp “của Dân, do Dân, vì Dân” đã trở thành hiến pháp “của Đảng, do Đảng, vì Đảng” và càng không có một cơ quan cơ chế nào kiểm tra đánh giá việc thực thi hiến pháp. Hiến pháp của toàn dân là giải pháp khắc phục trì trệ, là mong muốn chung của xã hội Việt Nam. Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trả lời báo chí đã khẳng định phải xây dựng Luật trưng cầu dân ý để đảm bảo quyền làm chủ thật sự của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước như hiến pháp, sửa đổi hiến pháp hay liên quan đến vận mệnh dân tộc – tất cả “đều phải đưa ra dân phúc quyết”. Ông còn có một nhận định mang tầm lịch sử khi cho rằng: “Từ cổ chí kim, tất cả những người tài là người vượt lên làm thay đổi cả hiến pháp và pháp luật”. Điều đó cho thấy thực tiễn đặt ra hiện nay là phải có một bộ tham mưu từ nhân dân, lập ra hiến pháp của toàn dân.

 

****

Trải qua chặng đường lịch sử ở giai đoạn hiện tại, vấn đề xã hội đã rõ ràng. Tham nhũng lạm quyền, mà tất cả các vụ lớn hầu như đều liên quan đến cán bộ đảng viên cao cấp, ngày càng mở rộng theo quan hệ kinh tế quốc tế và đan bện thành nhiều tầng bậc. Môi trường bị ô nhiễm trước mắt lẫn lâu dài. Tài nguyên đất nước trở thành vô chủ, vừa bị phá hoại, vừa bị khai thác kiệt quệ, lại vừa bị đem bán hay cho nước ngoài thuê. Phân hóa giàu nghèo đang là bức xúc lớn mà nguyên nhân cơ bản là cơ hội thu nhập đã bị tập trung, thâu tóm bởi một thiểu số có chức quyền và có các điều kiện thuận lợi. Ngành giáo dục xuống cấp, nay vẫn bế tắc chưa có lối thoát. Không ít thành phần trong xã hội hiện nay lấy đồng tiền và các giá trị vật chất xây dựng quan hệ. Chất xám Việt Nam vẫn chưa được thật sự trọng dụng. Trong khi đó, thông tin hiện đại đã san bằng thế giới, tấn công vào lãnh địa cuối cùng của các chế độ bảo thủ và che đậy sự thật, không còn ai có thể bị che mắt bịt tai nữa. Một điều cần khẳng định là Đảng Cộng sản không thể viết lại lịch sử mà lịch sử sẽ ghi rõ những việc làm của Đảng Cộng sản đối với dân tộc và đất nước. Vì thế, lãnh đạo đất nước không nên xem thường công luận hay ý kiến của nhân dân, không nên tiếp tục màn diễn “bình cũ rượu mới” trên sân khấu chính trị. Đảng cầm quyền cần phải thực hiện công bằng xã hội, chấm dứt sử dụng ngành tư pháp, lực lượng vũ trang làm công cụ cho mục đích phe nhóm, trấn áp đối lập. Để hình thành và duy trì tính chính danh cho nhà nước, trước hết đảng cầm quyền cần phải giữ thanh danh của chính mình.

Quan trọng nhất là đường lối ngoại giao đang hình thành nguy cơ đe dọa chủ quyền đất nước. Biển đảo đối mặt với “đường lãnh hải lưỡi bò”“căn cứ hải quân nước xanh”, toàn bộ đất liền từ Móng Cái đến Cà Mau chịu sự bành trướng của nền kinh tế hàng hóa và sản phẩm văn hóa Trung Quốc. Đường lối chung đã thiếu tự lập trong việc xác định hướng đi và mô hình phát triển đất nước, lại chịu sự chi phối của Trung Quốc. Trên tuyên bố ngoại giao đa phương mở rộng, chính sách cụ thể vẫn bế tắc trong tìm kiếm đồng minh và tranh thủ các điều kiện xây dựng đất nước. Đảng Cộng sản sẽ tiếp tục theo phương pháp lãnh đạo bảo thủ độc đoán hay thực sự muốn thay đổi, tiếp tục nói một đằng làm một nẻo hay phải bắt đầu nói thật làm đúng, tiếp tục để lại những sai lầm đáng trách hay sẽ để lại cho đời sau những di sản đáng nhớ?

Sau đổi mới, xã hội xuất hiện những cá nhân và hội nhóm đi đầu hình thành xu thế đối lập, hướng tới các giá trị dân chủ. Chỉ có như vậy, mâu thuẫn xã hội có nguyên nhân từ trì trệ mới được giải quyết. Xu thế đối lập báo hiệu sự ra đời tư tưởng tiến bộ, đưa đất nước phát triển phù hợp xu thế thời đại. Xu thế ấy tất yếu dẫn đến xã hội đa đảng, sinh hoạt chính trị ôn hòa và cạnh tranh khả năng đóng góp xây dựng đất nước một cách công bằng. Xu thế ấy đang làm cho mọi lý luận, quan điểm, lực lượng bảo thủ duy trì xã hội một đảng từng ngày bị xói mòn. Đảng và Nhà nước Việt Nam không còn cách nào khác là phải tự điều chỉnh hàng loạt vấn đề: thực hiện đúng đủ những cam kết quốc tế, đổi mới hoạt động quốc hội, thật sự hòa hợp dân tộc và tôn giáo, triệt để chống tham nhũng, cải cách giáo dục có hiệu quả, chăm lo các vấn đề an sinh xã hội và sức khỏe cộng đồng, các tầng lớp nhân dân phải được quyền thành lập hội đoàn, sự thật phải được tôn trọng, Nhà nước Việt Nam cần được xây dựng và hoạt động trên cơ sở chính danh, xã hội cần có hiến pháp ổn định và tiến bộ…

Thực tế cho thấy đổi mới diễn ra 25 năm nay từng bước làm tê liệt, cuốn phăng mục tiêu “Đổi màu mà không đổi chất”. Mặc dù công bố như vậy, nhưng Đảng Cộng sản đã kéo dài tồn tại độc trị bằng cách âm thầm đổi màu lẫn đổi chất. Âm thầm vì sợ tự phủ nhận lý tưởng và chủ thuyết đã chọn, đi ngược lại mục tiêu và cương lĩnh đã nêu – đồng nghĩa với tự giải tán. Trước hiện trạng đó, trong quá trình hướng đến xã hội dân chủ, cần xác định lại nhân dân là chủ thể của đổi mới. Hiện có ba phương án đặt ra, tác động vào đổi mới: chấp nhận như hiện nay mà không làm gì khác hơn; thay đổi từng bước nhưng phải có quy trình và rõ ràng mục tiêu; thay đổi toàn diện và ngay lập tức. Bài học thất bại sau khi tiến hành cách mạng vô sản cho thấy mọi thay đổi xã hội cần tránh phủ định sạch trơn, phải kế thừa trong ôn hòa. Phương án thứ nhất không ngoài giẫm chân tại chỗ. Phương án thứ ba làm đảo lộn xã hội thêm lần nữa, thậm chí không thể. Chỉ còn phương án thứ hai là khả thi, phù hợp. Đã đến lúc người dân Việt Nam cần có quyết định dứt khoát và hành động thiết thực, làm cho công cuộc đổi mới trước hết và thật sự cho chính mình. Đây là tác động tích cực vào tiến trình đi đến xã hội dân chủ văn minh.

Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho triển hướng mới đã rõ, vấn đề cơ bản tại Việt Nam hiện nay và tương lai hoàn toàn không còn khó hiểu để giải quyết.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong sách. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to CHẶNG ĐƯỜNG HIỆN TẠI VÀ TRIỂN HƯỚNG TƯƠNG LAI

  1. Tiểu Điền Địa nói:

    Cảm ơn tác giả đã dày công hệ thống quốc nạn diễn ra trên đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
    Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ. Tách bạch 3 “luận điệu” này chỉ thấy đất nước vô chủ: Đảng lãnh đạo tối cao về tư tưởng,chỉ đạo sát sườn về hành động nhưng không chịu trách nhiệm;Nhà nước quản lý phải dựa vào chủ trương của Đảng;nhân dân làm chủ nhưng không được nghe,không được thấy,không được biết,không được bàn bạc gì hết.
    Nhìn sơ qua hệ thống này cũng thấy rõ những người Đảng hoàn toàn tự do hành động,không những tham nhũng mà nhiều việc hệ trọng khác của đất nước. Khả năng nhượng lãnh thổ cho các thế lực ngoại bang tiểm ẩn nguy cơ đối với Đảng vẫn có thể xảy ra. Làm gì để biết được khi người dân cái gì cũng không.
    Một điều khá thuận lợi cho Đảng nữa: Khi lịch sử xét công,tội thường gọi đích danh một triều đại nào đó;như Nhà Lê là Lê Chiêu Thống;Nhà Nguyễn là Nguyễn Ánh,sau này gọi Nhà Đảng thì hậu thế khó hình dung lắm. Một Tổ quốc,một đất nước chỉ có hai nhà:Nhà nước,nhà dân,sao lại có Nhà Đảng nào đứng trên Nhà nước,nhà dân? Cái họa của dân tộc ta chính là ở chổ này đây!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s